Vũ Đức Hoàng
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Văn bản “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng” có tính thuyết phục cao nhờ lập luận rõ ràng và dẫn chứng phù hợp. Người viết không chỉ khái quát được giá trị nội dung của tác phẩm mà còn đi sâu phân tích vẻ đẹp thiên nhiên và sự chuyển biến trong tâm hồn nhân vật ông Diểu. Các dẫn chứng được lựa chọn tiêu biểu, bám sát chi tiết truyện, giúp người đọc hiểu rõ thông điệp mà Nguyễn Huy Thiệp gửi gắm. Bên cạnh đó, cách diễn đạt mạch lạc, giọng văn chân thành thể hiện niềm tin vào cái đẹp, vào khả năng hướng thiện của con người. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa lí lẽ và cảm xúc, văn bản đã làm nổi bật ý nghĩa nhân văn sâu sắc của truyện ngắn, tạo được sự đồng cảm và tin tưởng nơi người đọc.
Câu 2 (khoảng 600 chữ)
Nghị luận về hiện tượng giới trẻ thu gom rác, bảo vệ môi trường
Hiện nay, trên mạng xã hội xuất hiện ngày càng nhiều đoạn clip ghi lại hình ảnh các bạn trẻ thu gom rác thải tại hồ, bãi biển, chân cầu hay khu dân cư. Đây là một hiện tượng đẹp, đáng trân trọng và cần được lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng.
Trước hết, hành động thu gom rác thể hiện ý thức trách nhiệm của giới trẻ đối với môi trường sống. Trong bối cảnh ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, những việc làm tuy nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn, góp phần làm sạch không gian sống và nâng cao nhận thức của xã hội.
Bên cạnh đó, việc chia sẻ các clip này trên mạng xã hội còn có tác dụng lan tỏa thông điệp tích cực, truyền cảm hứng cho nhiều người cùng hành động. Từ một nhóm nhỏ, phong trào bảo vệ môi trường có thể được nhân rộng, tạo nên sức mạnh cộng đồng.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng việc bảo vệ môi trường không nên chỉ dừng lại ở những hành động mang tính phong trào hay để “ghi hình”. Quan trọng hơn cả là sự thay đổi lâu dài trong ý thức: không xả rác bừa bãi, phân loại rác, sử dụng đồ thân thiện với môi trường.
Là người trẻ, mỗi chúng ta cần biến những việc làm đẹp ấy thành thói quen thường xuyên. Khi mỗi cá nhân có ý thức, môi trường sẽ được bảo vệ bền vững hơn. Những clip thu gom rác không chỉ là hình ảnh đẹp mà còn là lời nhắc nhở mạnh mẽ về trách nhiệm của con người đối với thiên nhiên.
Câu 1.
Luận đề của văn bản là:
Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” không chỉ nằm ở cảnh thiên nhiên hoang sơ mà chủ yếu nằm ở sự thức tỉnh nhân thức, vẻ đẹp tâm hồn hướng thiện của con người, đặc biệt là nhân vật ông Diểu.
Câu 2.
Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản là:
“Vẻ đẹp trong tâm hồn ông Diểu xóa nhòa cái đẹp trong cảnh vật.”
Câu 3. Nhận xét mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề văn bản
• Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng” khái quát vấn đề trung tâm của văn bản.
• Nội dung văn bản làm rõ cái đẹp ấy qua hai phương diện: vẻ đẹp thiên nhiên rừng núi và vẻ đẹp tâm hồn con người.
• Như vậy, nhan đề và nội dung thống nhất chặt chẽ, nhan đề định hướng, nội dung triển khai sâu sắc, cụ thể.
Câu 4.
Trong câu văn, tác giả sử dụng biện pháp liệt kê hàng loạt hình ảnh và âm thanh của núi rừng.
Tác dụng:
• Gợi tả sự phong phú, đa dạng, hùng vĩ nhưng cũng đầy yên bình của thiên nhiên rừng núi.
• Làm nổi bật sự đối lập giữa vẻ đẹp nguyên sơ của rừng và tiếng súng săn tàn bạo của con người.
• Qua đó, nhấn mạnh giá trị của thiên nhiên và bộc lộ thái độ trân trọng, xót xa của người viết.
Câu 5.
• Mục đích: Làm sáng tỏ giá trị của cái đẹp trong truyện “Muối của rừng”.
• Quan điểm: Cái đẹp chân chính không chỉ ở thiên nhiên mà cao hơn là vẻ đẹp tâm hồn, sự hướng thiện của con người.
• Tình cảm: Thể hiện sự yêu mến thiên nhiên, cảm phục trước sự thức tỉnh lương tri của con người và niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
Câu 1
Hình tượng đất nước trong đoạn trích bài thơ Đất nước của Bằng Việt hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng và giàu chiều sâu lịch sử. Đất nước không chỉ là khái niệm địa lí hay chính trị trừu tượng mà được cảm nhận qua những hình ảnh rất đời thường: con đường, nhịp cầu, em bé vào lớp Một, cô gái may áo cưới. Đó là đất nước của nhân dân, của những con người bình dị đã sống, lao động và hy sinh trong chiến tranh. Đất nước còn mang trong mình những đau thương, mất mát do bom đạn, nhưng từ chính tàn khốc ấy đã nảy sinh sức sống mãnh liệt, bền bỉ. Qua hình tượng đất nước, tác giả thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đi trước và niềm tự hào về sự hồi sinh mạnh mẽ của dân tộc trong hòa bình. Như vậy, đất nước trong đoạn trích không chỉ là quá khứ đau thương mà còn là hiện tại ngọt ngào và tương lai đầy hi vọng, được tiếp nối qua từng thế hệ con người Việt Nam.
Câu 2
Lịch sử dân tộc là dòng chảy dài của thời gian, được ghi lại bằng những mốc sự kiện, con số và chiến công. Tuy nhiên, đúng như ý kiến đã nêu, điều khiến con người thực sự xúc động không phải là những bài giảng lịch sử khô khan mà chính là những con người đã làm nên lịch sử ấy. Lịch sử chỉ thực sự sống động khi gắn liền với số phận, máu, nước mắt và lý tưởng của con người.
Những bài giảng lịch sử thường trình bày sự kiện một cách hệ thống, logic, giúp chúng ta hiểu đúng và đủ về quá khứ. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở ngày tháng, chiến dịch hay kết quả, lịch sử dễ trở nên xa lạ. Trái lại, khi lịch sử được kể qua câu chuyện của những con người cụ thể – người lính ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, người mẹ tiễn con ra trận không hẹn ngày về, hay những em bé lớn lên giữa bom đạn – lịch sử lập tức trở nên gần gũi và lay động. Chính con người, với cảm xúc, hi sinh và khát vọng sống, đã thổi hồn cho lịch sử.
Chúng ta xúc động bởi những người làm nên lịch sử vì họ mang trong mình vẻ đẹp cao cả của lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm và sự hi sinh quên mình. Họ không phải lúc nào cũng là anh hùng được ghi danh, mà có khi chỉ là những con người vô danh, âm thầm góp sức cho độc lập và hòa bình. Chính sự bình dị ấy khiến lịch sử trở nên chân thật và đáng trân trọng hơn. Nhờ họ, những trang sử không còn là chữ viết vô cảm mà trở thành ký ức sống động, giàu cảm xúc.
Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hóa ý kiến trên theo hướng xem nhẹ vai trò của việc học lịch sử. Những bài giảng lịch sử là cầu nối giúp thế hệ sau hiểu đúng về quá khứ, tránh lãng quên và sai lệch. Điều quan trọng là cách truyền tải lịch sử cần gắn liền với con người, với số phận và giá trị nhân văn, để lịch sử không chỉ được ghi nhớ mà còn được cảm nhận bằng trái tim.
Tóm lại, chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử bởi họ chính là linh hồn của quá khứ dân tộc. Khi lịch sử được nhìn qua con người, nó không chỉ dạy ta kiến thức mà còn nuôi dưỡng lòng biết ơn, niềm tự hào và trách nhiệm với hiện tại
câu 1
Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.
Dấu hiệu:
Số chữ trong mỗi dòng thơ không đều, không theo khuôn mẫu cố định.Nhịp thơ linh hoạt, biến đổi.Không bị ràng buộc chặt chẽ bởi vần luật như thơ lục bát hay thất ngôn.
Câu 2
-Đoạn thơ thể hiện:
+Niềm xúc động sâu sắc, tự hào và yêu thương tha thiết đối với đất nước.
+Lòng biết ơn, trân trọng những hy sinh, mất mát của nhân dân trong chiến tranh.
+Niềm tin vào sự tiếp nối bền bỉ của các thế hệ, từ quá khứ đau thương đến hiện tại và tương lai hòa bình.
Câu 3
- Biện pháp tu từ chính: Hoán dụ “Em bé tung tăng vào lớp Một”
+Làm nổi bật thành quả của hòa bình sau chiến tranh. - +Nhấn mạnh sự đánh đổi lớn lao của quá khứ để có hiện tại yên bình hôm nay.
Câu 4
- “Vị ngọt” trong câu thơ cuối là vị ngọt của hòa bình, của hạnh phúc, của cuộc sống yên bình hôm nay.
-Đó là vị ngọt của những niềm vui giản dị: trẻ em được đến trường, con người được yêu thương, dựng xây tương lai.
- “Vị ngọt” ấy không tự nhiên mà có, mà được tạo nên từ:
+Những hy sinh, mất mát, đau thương của các thế hệ đi trước trong chiến tranh.
+Máu, nước mắt và sự kiên cường của nhân dân Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám và suốt các cuộc kháng chiến sau này.
Câu 5
Lòng yêu nước là tình cảm thiêng liêng, sâu nặng gắn bó con người với quê hương, dân tộc. Qua đoạn trích bài thơ Đất nước của Bằng Việt, ta nhận ra rằng yêu nước không chỉ thể hiện trong những hành động lớn lao khi Tổ quốc lâm nguy mà còn hiện diện trong cuộc sống bình dị hằng ngày. Đó là sự hy sinh thầm lặng của nhân dân trong chiến tranh, là ý chí vượt lên đau thương để dựng xây lại cuộc đời. Trong thời bình hôm nay, lòng yêu nước được thể hiện qua việc học tập, lao động tốt, sống có trách nhiệm, biết trân trọng quá khứ và gìn giữ những giá trị mà cha ông đã đánh đổi bằng xương máu. Nhờ có lòng yêu nước, các thế hệ người Việt Nam luôn gắn bó, đoàn kết và tiếp nối truyền thống tốt đẹp của dân tộc, để đất nước ngày càng phát triển bền vững.