Huỳnh Thị Ngọc Thủy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Huỳnh Thị Ngọc Thủy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Đã tải lên ảnh Đáp án Câu 1: Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là cảm giác buồn bã, lo lắng, mất mát trước sự suy giảm, biến đổi tiêu cực của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu. Câu 2: Bài viết trình bày theo trình tự: nêu hiện tượng → đưa số liệu, dẫn chứng → phân tích biểu hiện và tác động → rút ra nhận xét. Câu 3: Tác giả sử dụng bằng chứng là số liệu khảo sát (ví dụ: 45%), cùng với các dẫn chứng thực tế về cảm xúc của con người trước biến đổi khí hậu. Câu 4: Cách tiếp cận của tác giả khách quan, khoa học (dựa vào số liệu) nhưng cũng gần gũi, nhân văn khi chú ý đến cảm xúc con người. Câu 5: Thông điệp: Con người cần nhận thức rõ tác động của biến đổi khí hậu không chỉ đến môi trường mà còn đến tinh thần, từ đó có ý thức bảo vệ thiên nhiên và hành động tích cực hơn. ​​​​​​​​​​​​ ​​phần II: II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (khoảng 200 chữ) Bảo vệ môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống của con người và toàn bộ hệ sinh thái. Môi trường không chỉ cung cấp không khí, nước, thức ăn mà còn là không gian sống thiết yếu của mọi sinh vật. Khi môi trường bị ô nhiễm, thiên nhiên bị tàn phá, con người cũng phải đối mặt với nhiều hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và suy giảm chất lượng cuộc sống. Đặc biệt, như văn bản đã đề cập, môi trường còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần, gây ra những cảm xúc tiêu cực như lo âu, mất mát, thậm chí là “tiếc thương sinh thái”. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân mà còn là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Mỗi người cần có ý thức giữ gìn vệ sinh, tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải và tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ thiên nhiên. Chỉ khi con người biết sống hài hòa với môi trường, chúng ta mới có thể đảm bảo một tương lai bền vững cho thế hệ mai sau. Câu 2 (khoảng 600 chữ) Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa rời danh lợi. Qua hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình ảnh người ẩn sĩ hiện lên với những nét tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt đáng chú ý. Trước hết, ở bài thơ “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa hình tượng người ẩn sĩ với lối sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên. Những hình ảnh “một mai, một cuốc, một cần câu” gợi lên cuộc sống lao động nhẹ nhàng, tự do, không vướng bận. Nhà thơ tự nhận mình “dại” khi tìm đến nơi vắng vẻ, đối lập với “người khôn” nơi chốn lao xao, qua đó thể hiện thái độ coi thường danh lợi. Cuộc sống của ông gắn bó với thiên nhiên qua các sinh hoạt bình dị: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao. Đặc biệt, câu thơ “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” đã thể hiện rõ triết lí sống: phú quý chỉ là phù du, không đáng để theo đuổi. Như vậy, người ẩn sĩ trong “Nhàn” hiện lên với vẻ ung dung, tự tại, chủ động lựa chọn lối sống lánh đời. Trong khi đó, bài thơ thu của Nguyễn Khuyến lại khắc họa hình tượng ẩn sĩ trong một không gian thiên nhiên tĩnh lặng, giàu chất trữ tình. Cảnh thu hiện lên qua những hình ảnh quen thuộc như “trời thu xanh ngắt”, “nước biếc”, “bóng trăng”, tạo nên một bức tranh thanh sơ, yên bình nhưng cũng man mác buồn. Người ẩn sĩ ở đây không trực tiếp nói đến lối sống như Nguyễn Bỉnh Khiêm, mà bộc lộ tâm trạng qua cảnh vật. Đặc biệt, câu kết “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy tâm thế khiêm nhường, tự nhận mình chưa đạt tới sự thanh cao tuyệt đối như Đào Uyên Minh. Điều này thể hiện một nỗi niềm trăn trở, suy tư của người trí thức trước thời cuộc. Xét về điểm giống nhau, cả hai bài thơ đều thể hiện lí tưởng sống thanh cao, tránh xa danh lợi, hướng tới cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên. Người ẩn sĩ trong cả hai tác phẩm đều mang vẻ đẹp của nhân cách lớn: coi thường vật chất, đề cao đời sống tinh thần. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở cách thể hiện: Nguyễn Bỉnh Khiêm thiên về triết lí, bộc lộ trực tiếp quan niệm sống rõ ràng, dứt khoát; còn Nguyễn Khuyến lại thiên về cảm xúc, gửi gắm tâm trạng qua cảnh vật, tạo nên chiều sâu trữ tình. Nếu “Nhàn” thể hiện sự ung dung, chủ động lựa chọn lối sống, thì bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang nét trầm lắng, suy tư và có phần day dứt. Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên vừa thống nhất ở lí tưởng sống, vừa đa dạng trong cách biểu hiện. Điều đó không chỉ phản ánh vẻ đẹp tâm hồn của các nhà thơ mà còn cho thấy giá trị bền vững của lối sống thanh cao trong văn học truyền thống Việt Nam.

​​​ ​​​​​​​​​ Bài 2 II. VIẾT (6.0 ​​​phần II: II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (khoảng 200 chữ) Bảo vệ môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống của con người và toàn bộ hệ sinh thái. Môi trường không chỉ cung cấp không khí, nước, thức ăn mà còn là không gian sống thiết yếu của mọi sinh vật. Khi môi trường bị ô nhiễm, thiên nhiên bị tàn phá, con người cũng phải đối mặt với nhiều hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và suy giảm chất lượng cuộc sống. Đặc biệt, như văn bản đã đề cập, môi trường còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần, gây ra những cảm xúc tiêu cực như lo âu, mất mát, thậm chí là “tiếc thương sinh thái”. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân mà còn là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Mỗi người cần có ý thức giữ gìn vệ sinh, tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải và tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ thiên nhiên. Chỉ khi con người biết sống hài hòa với môi trường, chúng ta mới có thể đảm bảo một tương lai bền vững cho thế hệ mai sau. Câu 2 (khoảng 600 chữ) Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa rời danh lợi. Qua hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình ảnh người ẩn sĩ hiện lên với những nét tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt đáng chú ý. Trước hết, ở bài thơ “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa hình tượng người ẩn sĩ với lối sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên. Những hình ảnh “một mai, một cuốc, một cần câu” gợi lên cuộc sống lao động nhẹ nhàng, tự do, không vướng bận. Nhà thơ tự nhận mình “dại” khi tìm đến nơi vắng vẻ, đối lập với “người khôn” nơi chốn lao xao, qua đó thể hiện thái độ coi thường danh lợi. Cuộc sống của ông gắn bó với thiên nhiên qua các sinh hoạt bình dị: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao. Đặc biệt, câu thơ “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” đã thể hiện rõ triết lí sống: phú quý chỉ là phù du, không đáng để theo đuổi. Như vậy, người ẩn sĩ trong “Nhàn” hiện lên với vẻ ung dung, tự tại, chủ động lựa chọn lối sống lánh đời. Trong khi đó, bài thơ thu của Nguyễn Khuyến lại khắc họa hình tượng ẩn sĩ trong một không gian thiên nhiên tĩnh lặng, giàu chất trữ tình. Cảnh thu hiện lên qua những hình ảnh quen thuộc như “trời thu xanh ngắt”, “nước biếc”, “bóng trăng”, tạo nên một bức tranh thanh sơ, yên bình nhưng cũng man mác buồn. Người ẩn sĩ ở đây không trực tiếp nói đến lối sống như Nguyễn Bỉnh Khiêm, mà bộc lộ tâm trạng qua cảnh vật. Đặc biệt, câu kết “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy tâm thế khiêm nhường, tự nhận mình chưa đạt tới sự thanh cao tuyệt đối như Đào Uyên Minh. Điều này thể hiện một nỗi niềm trăn trở, suy tư của người trí thức trước thời cuộc. Xét về điểm giống nhau, cả hai bài thơ đều thể hiện lí tưởng sống thanh cao, tránh xa danh lợi, hướng tới cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên. Người ẩn sĩ trong cả hai tác phẩm đều mang vẻ đẹp của nhân cách lớn: coi thường vật chất, đề cao đời sống tinh thần. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở cách thể hiện: Nguyễn Bỉnh Khiêm thiên về triết lí, bộc lộ trực tiếp quan niệm sống rõ ràng, dứt khoát; còn Nguyễn Khuyến lại thiên về cảm xúc, gửi gắm tâm trạng qua cảnh vật, tạo nên chiều sâu trữ tình. Nếu “Nhàn” thể hiện sự ung dung, chủ động lựa chọn lối sống, thì bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang nét trầm lắng, suy tư và có phần day dứt. Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên vừa thống nhất ở lí tưởng sống, vừa đa dạng trong cách biểu hiện. Điều đó không chỉ phản ánh vẻ đẹp tâm hồn của các nhà thơ mà còn cho thấy giá trị bền vững của lối sống thanh cao trong văn học truyền thống Việt Nam.