Bùi Nguyệt Trân
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 : Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kì
Câu 2: Đề tài : Người phụ nữ
Câu 3 : Yếu tố kì ảo :
+ Hồn Đinh Tiên Hoàng hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân trong mộng
+Người dân cầu đảo tạo đền thờ Phu nhân đều thấy có linh ứng
-Tác dụng :
+Làm tăng sức hấp dẫn , li kì cho câu chuyện
+ thể hiện sự tôn vinh , lý tưởng hoá nhân vật phu nhân ; Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh , được người đời tôn vinh , trọng vọng . Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hóa mà nhân dân dành cho bà
Câu 4 : -Tác dụng của việc sử dụng điên tích điển cố trong văn bản : Gia tăng tính hàm súc, uyên bác , trang nhã cho văn bản , đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú , giàu cảm xúc
Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng
Câu 1 : ngôi kể của văn bản trên là ngôi thứ 3
Đoạn trích Sống mòn được kể theo ngôi thứ ba, người kể giấu mặt, tự xưng là "y", "Thứ" Câu 2: Xác định điểm nhìn Điểm nhìn: Điểm nhìn chủ yếu trong đoạn trích là điểm nhìn bên ngoài (người kể) kết hợp với điểm nhìn bên trong (tâm lí nhân vật Thứ). Cụ thể, người kể thường kể theo mạch cảm xúc, suy nghĩ, và nội tâm của nhân vật Thứ. Tác dụng: Giúp người đọc thâm nhập sâu sắc vào thế giới nội tâm phức tạp, những dằn vặt, mâu thuẫn, và sự bế tắc của nhân vật Thứ. Tạo nên giọng văn trần thuật sắc sảo, độc đáo, thể hiện rõ phong cách Nam Cao, vừa khách quan vừa đầy chất triết lí, trữ tình, giúp người đọc đồng cảm và hiểu rõ hơn bi kịch "sống mòn" của trí thức tiểu tư sản. Câu 3: Nước mắt của Thứ ứa ra khi ăn cơm là do: Sự bế tắc và tủi nhục: Thứ đang phải đối mặt với cuộc sống nghèo khó, thiếu thốn, với gánh nặng gia đình và công việc dạy học tạm bợ, bế tắc. Sự bất lực: Anh cảm thấy bất lực trước hoàn cảnh, không thể thực hiện được hoài bão và ước mơ của mình (trở thành nhà văn, sống một cuộc sống có ý nghĩa). Sự cô độc và xót xa: Bữa cơm tẻ nhạt trong sự cô độc, gợi lên những suy nghĩ "gần xa" về tương lai mờ mịt, khiến anh xót xa cho chính mình và những người thân. Việc phải "duỗi cổ ra để nuốt" miếng cơm nghẹn đắng là một hình ảnh bi kịch, thể hiện sự khổ sở về vật chất lẫn tinh thần. Câu 4: Thông qua nhân vật ông giáo Thứ, nhà văn Nam Cao đã phản ánh bi kịch của đội ngũ trí thức tiểu tư sản nghèo trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám (1945): Bi kịch "Sống mòn": Phản ánh hiện thực trí thức có tài năng, có nhân cách, có hoài bão nhưng bị gánh nặng cơm áo, gạo tiền chi phối, làm cho tâm hồn chai sạn, trí tuệ mờ nhạt, hoài bão tan vỡ, rơi vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ và bế tắc ("sống mòn" về cả thể xác lẫn tinh thần). Bi kịch nhân cách: Phản ánh sự mâu thuẫn dai dẳng giữa "sống" và "viết", giữa lí tưởng và thực tế, giữa khao khát cái đẹp, cái cao thượng và sự ti tiện mà đời sống vật chất ép buộc họ phải chấp nhận. Tâm lí chung: Thể hiện niềm đau xót và sự trân trọng của Nam Cao đối với tầng lớp trí thức tài năng nhưng bất hạnh, đồng thời lên tiếng phê phán xã hội đã chà đạp lên những giá trị tinh thần và nhân cách cao đẹp.