Bùi Thị Kim Liên
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Văn bản được kể theo ngôi thứ 3, người kể giấu mình
Câu 2:
Những từ ngữ hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội: " sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom" " chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn,chuyện làm nhà" " nuôi sống y với vợ con y"
Gợi lên cuộc sống c hật vật túng thiếu tù túng
Câu 3:
Biện pháp tu từ "So sánh"
Tác dụng: Nhấn mạnh s ưu thất vọng suy sụp của thứ sau khi rời trường. Thể hiện cảm giác mất phương hướng vô dụng, trái ngược hoàn toàn với những hoài bão trước kia
Câu 4:
Khi ở Sài Gòn: sống hăm hở, náo nức, mong chờ. Vẫn còn lý tưởng, khát vọng tinh thần tuổi trẻ
Khi ở Hà Nội: Trở nên rụt rè, sẻn so, còm rom.Chỉ còn biết lo cơm áo gạo tiền
Câu 1: văn bản trên thuộc thể loại nhật ký
câu 2: người viết đã sử dụng ngôi kể thứ nhất
câu 3:Ngôn ngữ trong văn bản mang tính thân mật, gần gũi, thể hiện qua cách xưng hô “mình – em – chị”, giọng điệu tâm tình, chia sẻ; câu văn tự nhiên như lời trò chuyện, bộc lộ trực tiếp cảm xúc yêu thương, trân trọng và suy nghĩ nội tâm của người viết. Điều này giúp văn bản chân thật, giàu cảm xúc.
Câu 4. (1,0 điểm)
- Chi tiết thể hiện tính xác thực: thời gian cụ thể “11.7.68”; nhân vật có thật “Luân”; các sự việc cụ thể như “băng rào ấp chiến lược”, “cầm súng tham gia du kích”, “trụ bám cùng đồng đội du kích Phổ Vinh”, “đài phát thanh đã hết nói từ lâu”.
- Tác dụng: làm cho câu chuyện chân thực, đáng tin cậy, phản ánh rõ hiện thực chiến tranh và cuộc sống chiến đấu gian khổ của con người thời ấy, đồng thời tăng sức thuyết phục và giá trị cảm xúc của văn bản.
Câu 5. (1,0 điểm)
Từ văn bản, em rút ra bài học về lòng yêu nước, sự hi sinh và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với Tổ quốc. Những con người trẻ như Luân đã sẵn sàng chịu gian khổ, chiến đấu vì độc lập dân tộc. Điều đó nhắc nhở thế hệ hôm nay cần biết trân trọng hòa bình, sống có lý tưởng, cố gắng học tập và rèn luyện để xứng đáng với sự hi sinh của cha anh.