Nguyễn Thu Thảo

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thu Thảo
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Bài viết cung cấp cái nhìn toàn diện về hệ thống phương tiện vận chuyển truyền thống của các dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ trước. Do đặc điểm sinh sống chủ yếu ở vùng núi cao, hiểm trở, giao thông chủ yếu dựa vào sức người và sức vật, đòi hỏi sự sáng tạo để vượt qua địa hình khó khăn. Các phương tiện phổ biến nhất là gùi, gánh, và địu, được các dân tộc sử dụng hàng ngày để mang vác lương thực, nông sản. Bên cạnh đó, gia súc đóng vai trò quan trọng: ngựa và lừa được dùng để thồ hàng nặng trên các tuyến đường núi dài, trong khi trâu, bò cũng tham gia vận chuyển ở khu vực đồi thấp hơn. Đối với việc đi lại qua sông, suối, các dân tộc đã tạo ra những chiếc bè, thuyền độc mộc hoặc thuyền đuôi én với kỹ thuật đơn giản nhưng hiệu quả. Sự đa dạng này không chỉ là giải pháp sinh tồn mà còn là minh chứng cho trí tuệ, văn hóa đặc sắc, thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa con người và tự nhiên của cộng đồng các DTTS Việt Nam.


Bài kể Ghe xuồng Nam Bộ là tác phẩm văn xuôi nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, lấy bối cảnh ở một thị trấn ven sông miền Nam vào mùa hè nắng nóng. Cậu bé Tùng, học sinh cấp 2, được mẹ gửi đến giúp ông Sáu - người chở ghe xuồng có nhiều năm kinh nghiệm - chở khách qua sông suốt kỳ nghỉ hè. Từ những ngày đầu còn ngại ngùng, không thành thạo, Tùng dần làm quen với cuộc sống ven sông, lắng nghe những câu chuyện đời thường của ông Sáu và mọi người qua bến sông. Ông Sáu chia sẻ với Tùng những điều về cuộc sống, về tình yêu với bến sông và những người đã từng đến qua. Tùng gặp gỡ cô bé học sinh đi học hàng ngày, khách du lịch và người dân địa phương, trải qua những ngày hè ấm áp, đầy ấn tượng. Qua những tình huống nhỏ hàng ngày, Tùng trưởng thành hơn, hiểu rõ giá trị của cuộc sống đơn sơ và tình bạn giữa người già và người trẻ, mang về nhiều kỉ niệm đẹp cho mùa hè của mình.


Cô Mai, giáo viên dạy Toán lớp 7 của em, là một hình ảnh ấm áp mà em sẽ không bao giờ quên. Cô không có dáng người cao lớn hay giọng nói vang dội, nhưng cô lại có một đôi mắt hiền từ và nụ cười luôn nở trên môi, như thể mọi công thức phức tạp nhất đều có thể được giải quyết bằng một chút lạc quan.


Điều đặc biệt ở cô là cách cô biến những tiết học căng thẳng thành một buổi trò chuyện nhẹ nhàng. Khi giảng về các phép tính với số nguyên âm, cô không chỉ đưa ra quy tắc, mà cô còn kể chuyện về việc “nợ” và “có” tiền trong cuộc sống, giúp chúng em hình dung rõ ràng hơn về khái niệm trừu tượng.


Em nhớ nhất là sự tận tâm của cô. Nhiều lần em chép bài chậm, cô luôn kiên nhẫn chờ đợi, thỉnh thoảng cô còn đi nhẹ nhàng đặt tay lên vai em khích lệ: “Cứ từ từ, quan trọng là hiểu bài em nhé.” Chính sự quan tâm chân thành đó đã xóa tan nỗi sợ Toán trong em.


Cô Mai đã dạy em rằng, Toán học là vẻ đẹp của sự chính xác, và sự tử tế là vẻ đẹp của tâm hồn. Em rất yêu quý cô.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, sinh ngày 19/5/1890, là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Năm 1911, trước cảnh đất nước lầm than dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và sự thất bại của các phong trào yêu nước đương thời, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tên Bác Hồ lúc nhỏ) đã quyết định rời bỏ quê hương. Hành động “dời quê hương” này không phải là sự từ bỏ, mà là một quyết tâm lớn lao: ra đi tìm đường cứu nước.


Trên hành trình 30 năm bôn ba hải ngoại, Bác đã làm nhiều nghề, nghiên cứu sâu rộng các học thuyết cách mạng trên khắp thế giới. Chính nhờ sự chiêm nghiệm thực tiễn gian khổ của người lao động và nghiên cứu lý luận, Bác đã tìm ra chân lý cứu nước đúng đắn trong chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc Bác trở thành người cộng sản và tham gia sáng lập các tổ chức cách mạng là kết quả tất yếu của hành trình đó.


Sự ra đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ là một biểu tượng của lòng yêu nước nồng nàn, sự hy sinh cao cả và tầm nhìn chiến lược vượt thời đại. Chính con đường mà Bác đã tìm ra đã đưa dân tộc Việt Nam đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng ta mãi mãi biết ơn sự hy sinh lớn lao đó.


Để giúp bạn chuẩn bị tốt hơn cho bài tập này, chúng ta có thể cùng nhau phân tích những biện pháp nghệ thuật biểu cảm nào đã được sử dụng trong bài viết trên để làm nổi bật tình cảm đối với Bác.

Chiến tranh đã qua đi nhưng những hậu quả mà chiến tranh để lại thì vẫn còn mãi. Một trong những hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại có là sự cô đơ, bơ vơ, chờ đợi trong mòn mỏi đến vô vọng của những người ph nữ có chồng đi chiến tranh và ở lại vĩnh viễn nơi chiến trường xa xôi kia.

Dì trong bài tản văn Người ngồi đợi trước hiên nhà của nhà văn Huynh Như Phương chính là người phụ nữ như thế. Dì Bảy và dượng Bảy lấy nhau được chừng một tháng thì dượng phải đ miền bắc tập kết . Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang thì đôi người đôi ngả. Dì luôn chờ đợi một ngày dượng sẽ chờ về. Ngay cả khi biết rằng dượng đã không còn nữa, d vẫn khôn mở lòng, dì vẫn ôm vào lòng hình bóng dượng.

Một lần nữa xin hãy biết ơn những người mẹ, người vợ việt nam anh hùng . Họ đã dành cả tuổi thanh xuân ngắn ngủi, ít ỏi của mình để đổi lấy bình yên , độc lập cho cả dan tộc việt nam ta.