Nguyễn Tuấn Tú
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Phân tích bi kịch gia đình trong "Trẻ con không được ăn thịt chó" (Nam Cao)
Trong truyện ngắn "Trẻ con không được ăn thịt chó", Nam Cao đã tái hiện một bi kịch gia đình đau đớn nảy sinh từ cái đói và sự bần cùng. Bi kịch ấy không chỉ nằm ở cái bụng rỗng mà còn ở sự xói mòn của tình thân. Nhân vật chính - người bố - vì sự ích kỷ, thèm khát bản năng đã nhẫn tâm lừa gạt, ăn tranh cả phần thức ăn ít ỏi của vợ con. Hình ảnh những đứa trẻ háo hức chờ đợi miếng thịt để rồi nhận lại sự hụt hẫng, tủi thân là một nét vẽ đầy xót xa về quyền làm người bị tước đoạt. Bi kịch lên đến đỉnh điểm khi miếng ăn vốn là biểu tượng của sự sống lại trở thành nguyên nhân gây ra sự chia rẽ, khinh miệt và thù hằn ngầm giữa những người ruột thịt. Qua đó, Nam Cao không chỉ tố cáo xã hội cũ đẩy con người vào đường cùng, mà còn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về việc nhân cách bị tha hóa dưới áp lực kinh khủng của cơm áo gạo tiền.
Câu 2: Thuyết minh về một cảnh quan thiên nhiên gắn liền với tuổi thơ (Dòng sông quê hương)
Tuổi thơ của mỗi người thường gắn liền với một góc trời riêng, và với tôi, đó là dòng sông chảy qua đầu làng – nơi không chỉ là một cảnh quan thiên nhiên mà còn là "chứng nhân" cho những năm tháng hồn nhiên nhất.
Dòng sông quê tôi không rộng lớn hùng vĩ như sông Hồng, sông Đà, nó hiền hòa với màu nước xanh lục đặc trưng. Nhìn từ xa, con sông như một dải lụa mềm mại vắt ngang qua những cánh đồng lúa chín vàng. Hai bên bờ, những rặng tre già nghiêng mình soi bóng, tạo nên một không gian xanh mát, tĩnh lặng. Buổi sáng, khi sương còn bảng lảng trên mặt nước, dòng sông hiện ra mờ ảo như trong cổ tích. Đến trưa, mặt trời đứng bóng, dòng sông lại lấp lánh như được dát một lớp kim cương vụn.
Đối với lũ trẻ trong làng chúng tôi, dòng sông là một "thiên đường giải trí". Tôi vẫn nhớ như in những buổi chiều hè nắng cháy, cả đám rủ nhau nhảy ùm xuống làn nước mát rượi. Tiếng cười đùa vang động cả một khúc sông, xua tan đi cái oi ả của đất trời. Chúng tôi thi nhau bơi lội, hay đôi khi ngồi trên bờ buông cần câu trúc chờ đợi những chú cá nhỏ bé. Dòng sông không chỉ cho chúng tôi niềm vui mà còn nuôi dưỡng tâm hồn bằng sự bao dung, hiền hòa.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Trẻ con không được ăn thịt chó" là tự sự.
Câu 2.
Người mẹ sổ tóc ra cho lũ trẻ xúm vào bắt chấy nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của chúng, hi vọng giúp các con quên đi cơn đói cồn cào.
Câu 3.
Ý nghĩa của hình ảnh "cái bát không" ở cuối văn bản:
Về tính cách người cha: Hình ảnh này tố cáo sự ích kỷ, tàn nhẫn và tha hóá đến tận cùng của người cha. Vì miếng ăn và sĩ diện với bạn bè, ông ta đã nhẫn tâm ăn hết sạch đồ ăn, không chừa lại chút gì cho vợ con đang đói khát mòn mỏi chờ đợi dưới bếp. Ông ta hiện lên đúng như một "ông bạo chúa" xấu xa.
Về bi kịch gia đình: "Cái bát không" là biểu tượng cho sự nghèo đói cùng cực và sự tuyệt
vọng.
+ Nó dập tắt niềm hi vọng nhỏ nhoi của những đứa trẻ.
+ Nó đẩy nỗi đau và sự bất lực của người mẹ lên đến đỉnh điểm.
=> Bữa ăn đã trở thành một bi kịch đầy nước mắt
câu 4
- Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ khi nghe tiếng bố gọi dọn mâm đến khi thấy mâm bát:
+ Khi nghe thấy tiếng gọi: Từ trạng thái ủ rũ, mệt lả vì đói thì chúng "đột nhiên tươi tỉnh lại",
"nhỏm dậy" trả lời to và ngồi chồm chỗm đợi đầy háo hức, mong chờ.
+ Khi mâm được bê xuống: Chúng vui vẻ, tranh giành, trêu đùa nhau ("Khoan! Kẻo vỡ", "Không cho chúng mày ăn"), sự mong chờ và niềm tin được ăn khiến những đứa trẻ trở nên hoạt bát.
+ Khi nhìn thấy cái bát trống không: Những đứa trẻ chuyển sang trạng thái hụt hẫng, thất vọng và đau đớn đến tột độ. Thằng cu Con
"khóc oà",
', "đạp như giãy chết" và những đứa
còn lại đều khóc theo.
- Ý nghĩa của diễn biến tâm lí:
+ Khắc họạ sự tàn khốc của cái đói, nó chi phối hoàn toàn cảm xúc và tinh thần của những đưa tré ngây thơ.
+ Làm nối bật sự tội nghiệp, đáng thương của lũ trẻ và sự tàn nhẫn của thực tại mà chúng phái gánh chịu.
Câu 5.
Sự nghèo đói là một trong những nguyên nhân huy hoại hạnh phúc gia đình.
Nghèo đói không chỉ đày đoạ con người về thể xác mà còn mài mòn nhân phẩm, khiến con người trở nên tha hóá, ích kỷ.
Cái đói làm mất đi sự ấm áp, yêu thương, biến ngôi nhà thành nơi của sự chịu đựng và nước mắt. Khi nhu cầu cơ bản không được đáp ứng, tình phụ tử, nghĩa vợ chồng dễ bị rạn nứt, nhường chỗ cho bản năng sinh tồn và sự vô cảm lạnh lùng.
Câu 1.
Thê tho: Luc bat.
Cau 2.
Hai nhân vât Tù Hái và Thúy Kiêu gap nhau d lâu xanh.
Câu 3.
Nhân xét vê ngôn ngû nói cúa nhân vât Thúy Kiêu qua bôn câu tho: Diu däng, tù tôn; sû dung diên cô, diên tich; vân dung lôi nói ân du, bóng gió dê goi gâm tâm tu, tinh cám cúa bán thân.
Cau 4.
Nhân xét vê nhân vât Tù Hái qua doan trích:
+ Ngoai hinh: Oai phong lâm liêt, dúng hinh mâu môt anh hung.
+ Ngôn ngû: Nhe nhang, tù tôn, hão sang, phóng khoáng.
+ Hanh dông: Tôn trong Kiëu ("thiëp danh dua dên lâu hông"), xem Kiêu nhu nguöi tri ki, cúu Kiêu ra khoi lâu xanh, cung Kiêu "Phi nguyên sanh phuong, dep duyên cuôi rông." => Hänh dong nhanh chong, dut khoat.
Câu 5.
- Tinh cám/cám xúc cúa bán thân:
+ Nguöng mô dôi voi Tù Hi.
+ Trân trong dôi voi Thúy Kiêu.
+ Vui mung voi kêt thúc viên mân,...