Nguyễn Thị Thu Trang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Thu Trang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Đoạn trích khắc họa cuộc gặp gỡ định mệnh giữa Từ Hải, bậc anh hùng vang danh, và Thúy Kiều, người đẹp tài sắc, làm nổi bật sự đồng điệu và thấu hiểu giữa hai tâm hồn tri kỷ. Từ Hải, với khí phách “đội trời đạp đất”, đã bị thu hút bởi tiếng tăm và vẻ đẹp của Kiều. Lời lẽ của ông bộc lộ sự ngưỡng mộ, khát khao tìm được người đồng hành lý tưởng, đồng thời bày tỏ sự bất mãn với cuộc sống tù túng, không được phát huy tài năng. Đáp lại, Thúy Kiều không hề tỏ ra yếu đuối hay ủy mị, mà thể hiện bản lĩnh và sự tinh tường của người phụ nữ thông minh, có khả năng nhìn thấu và lựa chọn người xứng đáng. Cuộc đối thoại diễn ra đầy thâm ý, vượt lên trên lời nói thông thường, bộc lộ sự thấu hiểu sâu sắc về chí khí và tâm hồn. Sự “ý hợp tâm đầu” này đã dẫn đến một kết thúc đẹp đẽ, nơi “trai anh hùng gái thuyền quyên” sánh vai, khẳng định giá trị và địa vị tương xứng của cả hai. Đoạn trích không chỉ là lời tỏ tình mà còn là bức tranh tinh tế về sự gặp gỡ của hai con người phi thường.


Câu 2: bài làm

Cuộc sống hiện đại với những bộn bề, lo toan đôi khi khiến con người mải miết chạy theo những giá trị vật chất, mà quên đi những điều ý nghĩa sâu sắc hơn. Giữa dòng chảy ấy, sự hi sinh thầm lặng vẫn âm thầm hiện hữu, là mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, là sợi dây vô hình gắn kết cộng đồng, tô điểm thêm những gam màu tươi sáng cho bức tranh cuộc sống.

Hi sinh là sự quên mình vì người khác, đặt lợi ích của tập thể, của người mình yêu thương lên trên bản thân. Khi hành động ấy diễn ra thầm lặng, không phô trương, không mong cầu sự đền đáp, nó càng trở nên cao quý và đáng trân trọng. Sự hi sinh thầm lặng không chỉ là những hành động lớn lao, mang tầm vóc lịch sử, mà còn hiện diện trong những việc làm nhỏ bé, bình dị, diễn ra hàng ngày quanh ta. Lịch sử dân tộc Việt Nam là một minh chứng hùng hồn cho đức hy sinh thầm lặng. Hàng triệu anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống, cống hiến cả tuổi xuân, cả sinh mạng vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Những bà mẹ Việt Nam anh hùng, những thương binh mang trên mình vết thương chiến tranh, tất cả đều là hiện thân của sự hy sinh cao cả. Họ ra đi không một lời từ biệt, trở về không cần tiếng hân hoan, mang trong tim hình ảnh quê hương tươi đẹp. Trong thời bình, những cống hiến ấy vẫn tiếp tục được thế hệ sau noi theo. Đó là hình ảnh người cha tần tảo sớm hôm, là người mẹ hy sinh tuổi xuân để vun vén cho gia đình, là người anh, người chị gác lại ước mơ cá nhân để gánh vác trách nhiệm nuôi nấng em thơ. Trong xã hội hiện tại, sự hi sinh thầm lặng càng thêm đa dạng và phong phú. Các y, bác sĩ ngày đêm chăm sóc bệnh nhân, cứu chữa người bệnh, không quản ngại khó khăn, vất vả, đặc biệt là trong những thời điểm dịch bệnh căng thẳng. Những người giáo viên miệt mài bên trang giáo án, truyền thụ kiến thức, đạo đức cho thế hệ trẻ, hy sinh thời gian cho gia đình để mang đến tương lai tốt đẹp cho học trò. Những tình nguyện viên âm thầm đóng góp sức mình cho cộng đồng, giúp đỡ những mảnh đời khó khăn, mang lại nụ cười và niềm hy vọng. Thậm chí, trong chính gia đình, sự hi sinh của ông bà, cha mẹ dành cho con cháu, sự sẻ chia, đùm bọc giữa những người hàng xóm láng giềng… tất cả đều là những đóa hoa đẹp của lòng nhân ái, sự vị tha. Ý nghĩa của sự hi sinh thầm lặng là vô cùng to lớn. Đối với người nhận, đó là nguồn động viên, an ủi, giúp họ vượt qua nghịch cảnh, vững tin hơn vào cuộc sống. Đối với người cho đi, đó là niềm hạnh phúc khi được sẻ chia, được đóng góp cho cộng đồng, làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn. Sự hi sinh thầm lặng tạo nên một xã hội nhân văn, kết nối, nơi con người luôn sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên, bên cạnh những tấm lòng cao đẹp ấy, xã hội vẫn còn tồn tại những cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, chỉ biết đến bản thân, thờ ơ với những khó khăn, mất mát của người khác. Lối sống cá nhân, ích kỷ này cần bị phê phán, chỉ trích để lan tỏa những giá trị tốt đẹp, xây dựng một cộng đồng văn minh, giàu lòng nhân ái.

Mỗi chúng ta, dù ở bất kỳ vị trí nào, hoàn cảnh nào, đều có thể trở thành một người hi sinh thầm lặng. Bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất: nhường ghế cho người già, giúp đỡ người gặp khó khăn, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, lắng nghe và đồng cảm với nỗi buồn của người khác. Khi mỗi cá nhân cùng nhau lan tỏa những hành động đẹp, chúng ta sẽ góp phần tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn, nhân văn hơn, nơi tình yêu thương và sự sẻ chia luôn hiện hữu. Hãy sống sao cho cuộc đời ta không chỉ có những hoài bão cá nhân mà còn có những đóng góp ý nghĩa cho cộng đồng, để mỗi ngày trôi qua đều là một ngày có ích, làm đẹp thêm cuộc đời này.

Câu 1:

- Thể thơ lục bát.

Câu 2:

- Hai nhân vật Thuý Kiều và Từ Hải gặp nhau ở lầu hồng.

Câu 3:

-Biện pháp tu từ:

• Ẩn dụ và So sánh ngầm: “Cỏ nội hoa hèn” (ẩn dụ cho người thấp kém) và “thân bèo bọt” (so sánh ngầm/ẩn dụ cho thân phận nhỏ bé, yếu ớt).

-Tác dụng:

• Tô đậm thân phận mỏng manh, nhỏ bé của nhân vật (như “bèo bọt”).

• Bộc lộ tấm lòng nhân hậu, bao dung (thương cả “cỏ nội hoa hèn”).

• Khẳng định ý chí tự trọng, không muốn làm gánh nặng hay phiền lụy người khác (“dám phiền mai sau”).

Câu 4:

—Từ Hải là:

+) Người anh hùng có chí khí phi thường và hoài bão lớn lao: Không bằng lòng với cuộc sống êm ấm ("Nửa năm hương lửa đương nồng"). Khao khát "xông pha nơi trời bể mênh mang". Hành động "lên đường thẳng rong" thế hiện sự quyết đoán.

+) Người có tầm nhìn xa trông rộng và có trách nhiệm: Trách Thúy Kiều chưa thấu hiểu lý tưởng lớn lao. Hứa hẹn một tương lai huy hoàng ("Bao giờ mười vạn tinh binh...") Muốn Thúy Kiều được hưởng cuộc sống xứng đáng.

+) Người quyết đoán, dứt khoát và mang phong thái phi thường: Lỡi nói và hành động dứt khoát (Quyết lời dứt áo ra đi") Ra đi với khí phách hiên ngang. Hình ảnh "Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi" ví như chim bằng chuẩn bị bay lên.

Câu 5:

Đoạn trích trên gợi cho em nhiều cung bậc cảm xúc, chủ yếu là sự ngưỡng mộ trước khí phách phi thường và hoài bão lớn lao của Từ Hải, một người anh hùng sẵn sàng rời bỏ hạnh phúc cá nhân để theo đuổi lý tưởng cao cả. Song song đó là sự đồng cảm và trân trọng với Thúy Kiều, vì em thấu hiểu được nỗi buồn và sự hy sinh của nàng trước quyết định của chồng. Điều này thôi thúc em suy tư về ý nghĩa của lý tưởng sống, về sự cân bằng giữa hạnh phúc cá nhân và hoài bão lớn lao, đồng thời ấn tượng với một tình yêu cao thượng, nơi người chồng không chỉ có tài mà còn có trách nhiệm với tương lai của vợ mình. Những cảm xúc này được khơi gợi bởi hình tượng nhân vật lý tưởng, tình huống éo le, ngôn ngữ nghệ thuật giàu sức biểu cảm và những giá trị nhân văn sâu sắc mà đoạn trích mang lại.

a. Năng lượng tối đa mà bộ tụ của máy hàn có thể tích trữ được:

\(W_{m a x} = \frac{C U^{2}}{2} = \frac{99000.1 0^{- 6} . 20 0^{2}}{2} = 1980\) J

b. Lưu ý công suất hàn sẽ đạt tối đa khi thời gian phóng điện là ngắn nhất.

Vậy năng lượng điện được giải phóng sau mỗi lần hàn với công suất tối đa là:

\(W_{1} = P . t = 2500.0 , 5 = 1250\) J

Năng lượng điện được giải phóng sau mỗi lần hàn với công suất tối đa chiếm số phần trăm năng lượng điện đã tích lũy là:

\(\frac{W_{1}}{W_{m a x}} = \frac{1250}{1980} = 63 , 1 \%\)

a. Cường độ điện trường trong màng tế bào là:

\(E = \frac{U}{d} = \frac{0 , 07}{8.1 0^{- 9}} = 8 , 75.1 0^{6}\) V/m

b. Điện trường trong màng tế bào sẽ ảnh hưởng từ phía ngoài vào trong. Vì lực tác dụng lên ion âm ngược chiều với cường độ điện trường nên lực điện sẽ đẩy ion âm ra phía ngoài tế bào. Độ lớn của lực điện bằng:

\(F = q E = 3 , 2.1 0^{- 19} . 8 , 75.1 0^{6} = 28.1 0^{- 13}\) N

a. Người ta cọ xát bằng tay để các mép túi nylon tự tách ra.

Khi cọ xát thì túi nylon sẽ nhiễm điện, các mảnh nylon nhiễm điện cùng dấu nên các mép sẽ đẩy nhau ra.

b. Gọi O1, O2, O lần lượt là vị trí đặt các điện tích \(q_{1} , q_{2} , q_{3}\).

Điện tích \(q_{3}\) nằm cân bằng khi và chỉ khi lực tổng hợp tác dụng lên \(q_{3}\) bằng 0, ta có:

\(\left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{13} + \left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{23} = \overset{\rightarrow}{0} \Rightarrow \left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{13} = - \left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{23} \Rightarrow \frac{k \mid q_{1} q_{3} \mid}{\left(\left(\right. O_{1} O \left.\right)\right)^{2}} = \frac{k \mid q_{2} q_{3} \mid}{\left(\left(\right. O_{2} O \left.\right)\right)^{2}}\) (1)

Ta thấy vị trí của O phải nằm trên phương O1O2 và trong đoạn O1O2 để hai vectơ lực \(\left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{13}\) và \(\left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{23}\) cùng phương ngược chiều.

Từ đó ta có: \(O_{1} O + O_{2} O = O_{1} O_{2} \Rightarrow O_{2} O = O_{1} O_{2} - O_{1} O\)    (2)

Thay (2) vào (1) ta có: \(\frac{\mid q_{1} \mid}{\left(\left(\right. O_{1} O \left.\right)\right)^{2}} = \frac{\mid q_{2} \mid}{\left(\left(\right. O_{1} O_{2} - O_{1} O \left.\right)\right)^{2}}\)

Thay số ta tìm được: \(O_{1} O = 2 c m \Rightarrow O_{2} O = 4 c m\)

Vậy \(q_{3}\) có thể mang điện tích bất kì và đặt tại O trên đoạn thẳng nối O1Ovà cách \(q_{1}\) một khoảng bằng 2 cm.

 Trường hợp \(q_{3}\) mang điện dương:

loading... 

 Trường hợp \(q_{3}\) mang điện âm:

loading...  

Câu 1 :


Nhân vật Hoàng Cầm trong văn bản hiện lên là một người chiến sĩ nuôi quân giàu trách nhiệm, sáng tạo và giàu lòng yêu nước. Trước hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, việc nấu ăn cho bộ đội gặp nhiều khó khăn do khói lửa dễ bị địch phát hiện, gây nguy hiểm đến tính mạng. Chính điều đó đã thôi thúc Hoàng Cầm trăn trở, suy nghĩ để tìm ra giải pháp. Với sự kiên trì và quyết tâm, ông đã không ngại vất vả, thử nghiệm nhiều lần, đào hàng chục cái bếp khác nhau để tìm ra cách cải tiến phù hợp. Cuối cùng, ông đã sáng chế thành công bếp Hoàng Cầm – một sáng kiến đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả, giúp hạn chế khói, đảm bảo an toàn cho bộ đội. Qua đó, Hoàng Cầm không chỉ là người lính tận tụy mà còn là biểu tượng của trí tuệ, tinh thần sáng tạo và sự cống hiến thầm lặng. Hình ảnh của ông góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của người lính Việt Nam trong thời kì kháng chiến.

Câu 2 :


Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, sáng tạo đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân và toàn xã hội. Sáng tạo không chỉ là việc tạo ra cái mới mà còn là khả năng cải tiến, tìm ra những cách làm hiệu quả hơn để giải quyết vấn đề. Trong bối cảnh thế giới không ngừng phát triển, sáng tạo chính là chìa khóa giúp con người thích nghi và vươn lên.


Trước hết, sáng tạo giúp con người nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhờ có sáng tạo, những phát minh khoa học, công nghệ ra đời, góp phần làm cho cuộc sống trở nên tiện nghi và hiện đại hơn. Từ những thiết bị điện tử thông minh cho đến các ứng dụng công nghệ, tất cả đều là kết quả của quá trình sáng tạo không ngừng. Bên cạnh đó, sáng tạo còn giúp con người giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống một cách linh hoạt và hiệu quả hơn. Không chỉ vậy, sáng tạo còn là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Một quốc gia muốn phát triển bền vững cần phải chú trọng đến đổi mới và sáng tạo trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, khoa học – kĩ thuật. Những con người sáng tạo sẽ tạo ra giá trị mới, đóng góp tích cực cho cộng đồng và đất nước. Thực tế cho thấy, các quốc gia phát triển đều là những nơi đề cao tinh thần sáng tạo và đổi mới. Đối với mỗi cá nhân, sáng tạo giúp chúng ta khẳng định bản thân và tạo nên sự khác biệt. Trong học tập, sáng tạo giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động, không rập khuôn, từ đó đạt hiệu quả cao hơn. Trong công việc, người có tư duy sáng tạo thường dễ thành công hơn vì họ biết tìm ra những hướng đi mới và giải pháp tối ưu. Tuy nhiên, để phát huy được sự sáng tạo, mỗi người cần rèn luyện tư duy độc lập, không ngại thử thách và dám nghĩ, dám làm. Đồng thời, cần tránh lối suy nghĩ thụ động, sao chép máy móc, vì điều đó sẽ kìm hãm khả năng phát triển của bản thân.


Tóm lại, sáng tạo có ý nghĩa to lớn trong cuộc sống hiện đại. Mỗi chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần không ngừng học hỏi, rèn luyện và phát huy khả năng sáng tạo để góp phần xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.


Câu 1.

Các phương thức biểu đạt:


  • Tự sự (chính)
  • Thuyết minh
  • Biểu cảm





Câu 2.

Văn bản kể về quá trình Hoàng Cầm sáng chế ra bếp Hoàng Cầm để phục vụ bộ đội trong kháng chiến.




Câu 3.

Cảm hứng chủ đạo:

→ Ca ngợi sự sáng tạo, tinh thần trách nhiệm và cống hiến của người chiến sĩ Hoàng Cầm, đồng thời thể hiện niềm tự hào về sáng kiến phục vụ kháng chiến.




Câu 4.

Nội dung:

→ Văn bản kể lại quá trình ra đời của bếp Hoàng Cầm, qua đó tôn vinh trí tuệ, sự kiên trì và đóng góp thầm lặng của người lính nuôi quân đối với chiến thắng của dân tộc.


Câu 5:


  • Chi tiết Hoàng Cầm kiên trì đào hàng chục cái bếp thử nghiệm
    → Vì thể hiện rõ sự nhẫn nại, sáng tạo và quyết tâm của anh trong hoàn cảnh khó khăn.



Câu 1:

Đoạn trích ở phần Đọc hiểu thể hiện giá trị nội dung sâu sắc và nghệ thuật tinh tế. Về nội dung, đoạn trích nhấn mạnh chủ đề về giá trị của tình người và ý nghĩa sống; qua hình ảnh nhân vật/chi tiết (nêu một hai chi tiết tiêu biểu trong đoạn trích: ví dụ chi tiết cuộc trò chuyện, hành động nhỏ, hay lát cắt đời sống), tác giả khắc họa rõ mối quan hệ giữa con người với nhau và những biến đổi nội tâm. Tác phẩm đồng thời phản ánh bối cảnh xã hội, những mâu thuẫn hoặc khát vọng của con người trong hoàn cảnh đó, khiến thông điệp trở nên gần gũi, có sức gợi. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc; các biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh, đối thoại nội tâm được vận dụng khéo để tăng tính biểu cảm và thuyết phục. Cấu tứ đoạn văn/miêu tả chi tiết kết hợp với nhịp điệu ngôn từ tạo nên cao trào cảm xúc, dẫn người đọc đồng cảm với số phận nhân vật. Như vậy, giá trị nội dung kết hợp cùng kỹ thuật nghệ thuật góp phần làm nên sức hấp dẫn và chiều sâu của đoạn trích.


Câu 2:

Trong guồng quay hối hả của thời đại công nghệ và cạnh tranh khốc liệt, “sống chậm” ngày càng trở thành một khái niệm được nhiều người tìm kiếm và thực hành như một phương thuốc hữu hiệu để đối phó với áp lực cuộc sống. Tuy nhiên, sống chậm không đồng nghĩa với sự trì trệ hay lùi bước, mà đó là một thái độ sống có chủ đích, là sự lựa chọn nhịp điệu cân bằng, cho phép con người tận hưởng từng khoảnh khắc, suy ngẫm sâu sắc và sống một cuộc đời ý nghĩa hơn.


Sống chậm, về bản chất, là nghệ thuật quản lý thời gian một cách thông minh, đặt chất lượng lên trên số lượng. Đó là việc ý thức dành thời gian cho những điều thực sự quan trọng: cho gia đình, cho sức khỏe của bản thân, cho những đam mê cá nhân và quan trọng hơn cả là cho việc nhìn nhận, thấu hiểu chính mình. Khi con người không ngừng chạy theo những mục tiêu trước mắt mà quên mất việc dừng lại để hít thở, để chiêm nghiệm, họ dễ dàng rơi vào trạng thái căng thẳng, mệt mỏi. Sống chậm giúp con người thoát khỏi vòng xoáy đó, mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Về mặt cá nhân, nó giúp giảm thiểu căng thẳng, cải thiện chất lượng giấc ngủ, từ đó nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất. Nhờ có thời gian suy ngẫm, con người đưa ra những quyết định sáng suốt hơn, hành động hiệu quả hơn trong dài hạn. Đồng thời, việc dành thời gian cho những người thân yêu giúp củng cố và vun đắp các mối quan hệ, tạo dựng một mạng lưới hỗ trợ vững chắc. Về mặt xã hội, một lối sống chậm lan tỏa sẽ khuyến khích một nền văn hóa tôn trọng lẫn nhau, đề cao sự lắng nghe và thấu cảm. Nó cũng góp phần giảm bớt lối tiêu dùng chạy theo số đông, hướng tới sự bền vững và bảo vệ môi trường. Hãy thử tưởng tượng một người biết sắp xếp công việc hợp lý, dành trọn vẹn những ngày cuối tuần cho gia đình, cho việc đọc sách hay theo đuổi sở thích cá nhân. Cuộc sống của họ, dù không ồn ào hay phô trương, lại ẩn chứa một sự phong phú, một niềm hạnh phúc bền lâu, và hiệu quả công việc của họ cũng vì thế mà được đảm bảo một cách vững chắc. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng việc sống chậm cũng có những hiểu lầm và giới hạn cần được nhận thức rõ. Sống chậm không có nghĩa là trở nên thụ động, buông xuôi mục tiêu hay trì hoãn công việc. Trong một xã hội đề cao sự phát triển và cạnh tranh, nếu lạm dụng lối sống chậm một cách sai lầm, con người có thể dễ dàng bị bỏ lại phía sau, lỡ mất những cơ hội quý giá. Do đó, điều quan trọng là phải tìm được sự cân bằng, kết hợp hài hòa giữa việc tận hưởng hiện tại với việc hướng tới tương lai, giữa sự thư thái và tinh thần cầu tiến. Sống chậm hiệu quả không chỉ là giảm tốc độ, mà còn cần đi kèm với kỷ luật cá nhân và mục tiêu rõ ràng. Để thực hành sống chậm trong xã hội hiện đại, chúng ta có thể bắt đầu từ những thay đổi nhỏ trong thói quen hàng ngày. Việc quản lý thời gian hiệu quả, ưu tiên những công việc quan trọng và hạn chế đa nhiệm không cần thiết là bước đầu tiên. Xây dựng những thói quen tích cực như thiền định, đi bộ, đọc sách, ăn uống chậm rãi và đảm bảo ngủ đủ giấc sẽ giúp tái tạo năng lượng. Hơn nữa, việc giới hạn thời gian sử dụng mạng xã hội và dành nhiều hơn cho các hoạt động giao tiếp trực tiếp cũng góp phần quan trọng. Cuối cùng, việc đặt ra những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn rõ ràng sẽ giúp chúng ta định hướng được cuộc sống, biết khi nào cần tập trung cao độ và khi nào có thể thư giãn, tận hưởng.


Tóm lại, sống chậm là một thái độ sống tích cực và cần thiết, giúp con người tìm lại sự cân bằng giữa hiệu quả công việc và chất lượng cuộc sống trong nhịp điệu hối hả của xã hội hiện đại. Bằng cách áp dụng lối sống này một cách khôn ngoan, kết hợp với kỷ luật cá nhân và mục tiêu rõ ràng, mỗi người chúng ta hoàn toàn có thể vừa giữ được nhịp độ phù hợp, vừa phát triển bản thân một cách bền vững, kiến tạo nên một cuộc đời trọn vẹn và ý nghĩa.

Câu 1.

Thể thơ: Lục bát.

Cầu 2.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Biểu cảm, tự sự và miêu tả.

Câu 3.

- Những sự kiện chính của văn bản:

+ Thạch Sanh bị hồn chẵn tinh và đại bàng tinh vu oan nên bị bắt giam vào ngục.

+ Tiếng đàn của Thạch Sanh đến tai công chúa, giúp chàng có cơ hội nói rõ mọi sự thật.

Chàng được phong làm phò mã.

+ Thạch Sanh tha thứ cho Lý Thông nhưng trên đường về quê mẹ con Lý Thông vẫn bị sét đánh.

- Mô hình cốt truyện: Nhân quả.

Câu 4.

  • HS chỉ ra một chi tiết kì ảo trong văn bản và phân tích tác dụng của chi tiết kì ảo đó.
  • Ví dụ: Hồn chẵn tinh và đại bàng tinh vu oan cho Thạch Sanh. Chi tiết này không chỉ thể hiện một cách sinh động tai họa xảy đến với

Thạch Sanh mà còn giúp cho văn bản thêm đặc sắc, hấp dẫn bạn đọc.

Câu 5.

So sánh văn bản với truyện cổ tích

Thạch Sanh,

ta có thể rút ra một số điểm giống và khác giữa văn bản này là:

- Giống về nội dung:

++ Đều bao gồm những sự kiện chính, chi tiết đặc sắc trong tác phẩm.

++ Đều kết hợp sử dụng nhiều phương thức biếu đạt.

- Khác về hình thức:

+ Văn bản thơ:

++ Sử dụng thể thơ lục bát, có cách ngắt nhịp, gieo vần linh hoạt.

++ Xuất hiện nhiều yếu tố biểu cảm, đan xen với yếu tố tự sự.

+ Văn bán truyện:

++ Có hình thức là văn xuôi, có sự xuất hiện của người kể chuyện.

++ Yếu tố tự sự là chủ yếu trong toàn bộ văn bản.

Câu trả lời của