Phạm Tùng Lâm
Giới thiệu về bản thân
câu 1: các đới khí hậu của trung và Nam mỹ theo chiều từ bắc xuống nam:
+, đới khí hậu xích đạo
+, đới khí hậu cận xích đạo
+,đới khí hậu nhiệt đới
+,đới khí hậu cận nhiệt
+,đới khí hậu ôn đới
câu 2: sự phân hoá địa hình ở Bắc Mỹ:
- Phía Tây: Hệ thống núi Cooc-di-e (Cordillera)
- Là hệ thống núi cao, đồ sộ và hiểm trở bậc nhất thế giới.
- Chạy dài từ Bắc xuống Nam, chiếm gần một nửa diện tích lục địa.
- Gồm nhiều dãy núi chạy song song, xen kẽ là các cao nguyên và bồn địa.
- Ở giữa: Miền Đồng bằng Trung tâm
- Có diện tích rộng lớn, tựa như một lòng máng khổng lồ thấp dần từ Bắc xuống Nam.
- Địa hình chủ yếu là đồng bằng cao ở phía Bắc và thấp dần về phía vịnh Mê-hi-cô.
- Nơi đây có hệ thống Hồ Lớn (Great Lakes) và sông Mi-xi-xi-pi bồi đắp phù sa màu mỡ.
- Phía Đông: Miền núi già và sơn nguyên
- Gồm dãy núi già A-pa-lat ở phía Nam và sơn nguyên La-bra-đô ở phía Bắc.
- Đây là những khu vực địa hình thấp, đỉnh tròn và sườn thoải do đã bị bào mòn từ lâu đời.
Câu 3: Sự phân hóa thiên nhiên theo chiều Bắc – Nam, Đông – Tây ở Trung và Nam Mỹ do những nguyên nhân:
Nguyên nhân phân hóa theo chiều Bắc - Nam Do lãnh thổ Trung và Nam Mỹ trải dài trên nhiều vĩ độ (từ vùng vĩ độ thấp ở phía Bắc xuống vùng vĩ độ cao ở phía Nam), dẫn đến sự thay đổi của các đới khí hậu:- Từ khí hậu xích đạo, cận xích đạo đến nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới.
- Kéo theo đó là sự thay đổi của các đới cảnh quan (rừng rậm, xavan, thảo nguyên...).
- Địa hình: Hệ thống núi An-đét cao đồ sộ ở phía Tây đóng vai trò như một bức tường ngăn chặn các luồng gió ẩm từ đại dương, tạo ra sự khác biệt lớn về lượng mưa và cảnh quan giữa sườn Đông và sườn Tây.
- Dòng hải lưu:
- Phía Đông có các dòng hải lưu nóng (Bra-xin, Guy-an) làm khí hậu ấm ẩm, mưa nhiều.
- Phía Tây có dòng hải lưu lạnh (Pe-ru) làm khí hậu khô hạn, ít mưa, hình thành các hoang mạc ven biển.
Bài Làm
Bai thơ ''Chiều đồng nội' của tác giả Nguyễn Lãm Thắng em vô cùng biết ơn, tự hào về quê hương .Bài thơ đã vẽ nên một bức tranh chiều thu yên bình , giản dị , mộc mạc của tác giả về quê hương
Bài Làm
Bai thơ ''Chiều đồng nội' của tác giả Nguyễn Lãm Thắng em vô cùng biết ơn, tự hào về quê hương .Bài thơ đã vẽ nên một bức tranh chiều thu yên bình , giản dị , mộc mạc của tác giả về quê hương
Bài Làm
Bai thơ ''Chiều đồng nội' của tác giả Nguyễn Lãm Thắng đã để lại trong em nhiều cảm xúc .Bài thơ đã vẽ nên một bức tranh chiều thu yên bình , giản dị , mộc mạc của tác giả về quê hương. Trước hết, đọc khổ thứ 1 em rất xúc động trước hình ảnh '' Những giọt thu trong veo", Rắc qua ngay đồng nội'' thể hiện được không khí mát mẻ, ánh nắng dịu dàng và sương thu nhẹ nhạng phủ lên khắp cánh đồng. Bên cạnh đó ta còn bắt gặp những từ ngữ: chiều thu, trong veo,giọt thu gợi lên vẻ đẹp trong trẻo, yên bình của buổi chiều quê. Kết hợp với biện pháp tu từ ẩn dụ, ẩn dụ trong câu những giọt thu trong veo, tạo nhịp điệu cho câu thơ , "cánh chim bay xuống chiều, nâng nắng lên kẻo mới sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá, nhân hoá ở câu cánh chim, làm cho câu thơ sinh động hấp dẫn gợi hình gợi cảm.Tiếp theo, đọc khổ thơ thứ 2 và 3 em rất xúc động, biết ơn, tự hào trước hình ảnh '' buổi chiều thu mướt xanh", "cỏ thơm cùng hoa dại", "cánh đồng chiều thật êm"," nhấp nhô đều sóng lúa"gợi vẻ đẹp của cảnh đồng quê khi vào buổi chiều thu. Có những từ ngữ đặc sắc : mướt xanh, thảm lụa thể hiện vẻ đẹp thơ mộng của làng quê. Đọc khổ thơ cuối cùng, vẫn là cảm xúc tự hào và xúc động . Hình ảnh "bếp nhà ai toả khói", "Gọi trăng thu xuống gần" gợi hình ảnh bếp củi đơn sơ, mộc mạc giản dị. Từ ngữ:toả khói,hương thơm, buổi chiều gợi sự ấm áp của mùa thu. Bên cạnh thành công về nội dung tác giả còn sử dụng đặc sắc về nghệ thuật với thể thơ 5 chữ quen thuộc, vần chân ( xanh-nhanh, dại-rãi), nhịp 2/3 , giọng thơ trìu mến , thiết tha , ngôn ngữ thơ giản dị , mộc mạc.Tác giả Nguyễn Lam Thắng là người có con mắt tinh tế, yêu thiên nhiên và quê hương.Qua bài thơ chúng ta phải biết yêu thương , trân trọng , tự hào quê hương .
Câu 1 : Văn bản trên được viết theo thể thơ năm chữ.
Câu 2: Chi tiết miêu tả thiên nhiên: cánh chim bay xuống chiều, cánh cò trôi nhanh nhanh, đàn trâu vè trậm rãi
Câu 3: Từ láy: nhấp nhô, gợi hình lúa đung đưa trong gió chiều thu.
Câu 4: Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu. Bức tranh mùa thu miêu tả được sự thơ mộng, yên bình , tràn đầy sức sống.
Câu 5: -Biện pháp tu từ : nhân hoá , gọi trăng thu xuống gần.
-Tác dụng : +, Làm cho câu thơ gợi hình gợi cảm, sinh động , hấp dẫn.
+, Giúp cho hình ảnh ''bếp củi toả khói gọi trăng xuống gần'' gần gũi , gợi sự giản dị, mộc mạc, thân thương.
+, Thể hiện tình cảm yêu quê hương của tác giả.
Câu 6: Khi đọc bài thơ em nhớ đến kỉ niệm đi gặt lúa buổi chiều với bà ngoại ngoài đồng , nhìn đàn trâu đi về và khói bếp củi từ những ngôi nhà . Kỉ niệm đó giúp em hiểu được thông điệp tác giả muốn truyền tải: quê hương rất bình dị , hãy biết trân trọng quê hương, sự giản dị ấy.