Nguyễn Thùy Dung
Giới thiệu về bản thân
Văn bản giới thiệu phương tiện vận chuyển của dân tộc thiểu số xưa. Miền núi phía Bắc chủ yếu đi bộ, ven sông dùng thuyền độc mộc, người Sán Dìu có xe quệt trâu kéo, người Mông, Dao dùng ngựa. Ở Tây Nguyên đồng bào dùng sức voi, ngựa, vùng ven suối thì dùng thuyền độc mộc. Nhìn chung phương tiện còn thô sơ, phù hợp với địa hình từng vùng.
Văn bản Ghe xuồng Nam Bộ giới thiệu sự đa dạng của các loại ghe, xuồng ở Nam Bộ cùng đặc điểm, công dụng riêng của từng loại. Ghe xuồng không chỉ là phương tiện đi lại, vận tải mà còn là nét văn hóa đặc trưng. Nó gắn bó mật thiết với đời sống kinh tế và sinh hoạt của người dân miền sông nước
Ngày đầu cô bước vào lớp, em đã nghĩ: “Cô nghiêm thế này chắc khó gần lắm”. Cô có dáng người nhỏ nhắn, giọng nói vang nhưng ấm, và đôi mắt rất sáng sau cặp kính. Cô không cười nhiều, thay vào đó là ánh nhìn cẩn thận, quét khắp 40 đứa học trò như muốn nhớ từng khuôn mặt.
Nhưng rồi chính sự nghiêm khắc ấy lại là điều em biết ơn nhất. Hồi đó em học Văn rất kém, chữ thì xấu, diễn đạt lủng củng. Có lần em nộp bài kiểm tra 15 phút chỉ được 4 điểm, xấu hổ không dám nhìn cô. Tưởng cô sẽ mắng, ai ngờ cuối giờ cô gọi em ở lại, đưa cho em một quyển sổ nhỏ và bảo: “Mỗi ngày viết cho cô 5 dòng, viết về bất cứ điều gì em thấy. Sai cô sửa, bí cô gợi ý. Được không?”. Từ quyển sổ đó, em bắt đầu biết thích Văn.
Đầu thế kỷ XX, đất nước chìm trong bóng đêm nô lệ. Nhiều bậc tiền bối đã ra đi, mang theo chủ trương cầu viện, bạo động, nhưng đều thất bại. Giữa lúc ấy, người thanh niên xứ Nghệ đã chọn một con đường khác: "Muốn cứu nước, phải hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân. Muốn đánh đuổi kẻ thù, phải đến tận sào huyệt của chúng".
Vậy là Người quyết định ra đi. Không hành trang nhiều nhặn, không tiễn đưa linh đình. Chỉ có đôi bàn tay làm thuê trên tàu Amiral Latouche-Tréville, một trái tim yêu nước nồng nàn và một ý chí sắt đá. Nghĩ đến giây phút con tàu rời bến, lòng tôi nghẹn lại. Phía sau là quê hương với lũy tre, bến nước, với người cha già Nguyễn Sinh Sắc và nỗi đau mất nước. Phía trước là biển cả mênh mông, là bốn bể năm châu xa lạ, là đói rét, là hiểm nguy rình rập.
Phải yêu nước đến nhường nào, thương dân đến bao nhiêu, Người mới dám dứt áo ra đi như thế ở tuổi 21 — độ tuổi mà chúng ta hôm nay còn đang loay hoay chọn ngành, chọn nghề.
Dì Bảy không phải nhân vật chính theo kiểu gây ấn tượng mạnh ngay từ đầu. Dì hiện lên qua lời kể của người cháu, qua dáng ngồi bất động trước hiên nhà, qua ánh mắt dõi ra con đường làng vắng. Cả tuổi thanh xuân của dì gửi lại ở bến đợi. Người yêu đi chiến trường rồi không trở về, nhưng lời hẹn năm xưa đã buộc chặt đời dì vào hai chữ "chờ chồng".
Chiến tranh qua đi, làng xóm đổi thay, người ta cưới vợ gả chồng, chỉ riêng dì vẫn ở đó. Cái hiên nhà cũ trở thành chứng nhân cho một đời con gái. Nghe mà xót xa: dì đâu có làm điều gì lớn lao, phi thường. Dì chỉ ngồi đợi. Nhưng chính cái "chỉ ngồi đợi" ấy lại là sự hi sinh lớn nhất — hi sinh cả tuổi trẻ, cả hạnh phúc riêng tư, cả quyền được quên đi để bắt đầu lại.