Đỗ Thu An
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 : Bài làm Bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản “Không một tiếng vang” trước hết là bi kịch của sự nghèo đói và cô độc. Ông lão mù sống trong cảnh túng quẫn, mất đi khả năng nhìn thấy ánh sáng, đồng nghĩa với việc bị tước đoạt cơ hội lao động và tự chủ. Gia đình ông vốn đã mong manh lại càng trở nên dễ tổn thương khi thiếu đi sự quan tâm, giúp đỡ từ xã hội. Sự im lặng “không một tiếng vang” không chỉ là sự vắng lặng về âm thanh mà còn là biểu tượng cho sự thờ ơ của con người trước nỗi đau của đồng loại. Bi kịch ấy càng trở nên đau xót khi những người yếu thế như ông lão lại phải gánh chịu số phận khắc nghiệt mà không có điểm tựa tinh thần. Qua đó, tác giả không chỉ khắc họa nỗi bất hạnh cá nhân mà còn lên án sự vô cảm của cộng đồng, đồng thời gợi lên niềm xót xa và thức tỉnh lòng trắc ẩn trong mỗi người đọc. Câu 2 : Bài làm Bi kịch của gia đình ông lão mù trong “Không một tiếng vang” không chỉ là câu chuyện riêng của một số phận bất hạnh mà còn gợi lên vấn đề lớn của xã hội: trách nhiệm chăm sóc và hỗ trợ những người yếu thế. Từ đó, ta nhận ra vai trò vô cùng quan trọng của tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng trong đời sống con người. Tinh thần nhân ái trước hết là sự yêu thương, cảm thông và sẵn sàng chia sẻ với người khác, đặc biệt là những người gặp khó khăn, bất hạnh. Trong xã hội, luôn tồn tại những con người yếu thế như người già neo đơn, người khuyết tật, trẻ em mồ côi… Họ cần không chỉ sự giúp đỡ về vật chất mà còn cả sự quan tâm, động viên về tinh thần. Khi con người có lòng nhân ái, họ sẽ biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó có những hành động thiết thực để giúp đỡ. Chính lòng nhân ái là sợi dây gắn kết con người, làm cho xã hội trở nên ấm áp và tốt đẹp hơn. Bên cạnh đó, trách nhiệm cộng đồng là ý thức của mỗi cá nhân đối với xã hội mà mình đang sống. Mỗi người không thể sống tách biệt mà luôn có mối liên hệ với những người xung quanh. Vì vậy, việc quan tâm, hỗ trợ người yếu thế không chỉ là hành động mang tính cá nhân mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Nếu mỗi người đều thờ ơ, vô cảm, như hình ảnh “không một tiếng vang” trong văn bản, thì những số phận bất hạnh sẽ ngày càng bị bỏ rơi và xã hội sẽ trở nên lạnh lẽo, thiếu tình người. Trong thực tế, đã có rất nhiều tấm gương thể hiện tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng đáng trân trọng. Các hoạt động từ thiện, quyên góp, giúp đỡ người nghèo, xây dựng mái ấm tình thương… đều là minh chứng cho sự lan tỏa của lòng tốt. Tuy nhiên, vẫn còn không ít người sống ích kỉ, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà quên đi những người xung quanh. Điều này cần được phê phán và thay đổi, bởi một xã hội phát triển bền vững không chỉ dựa vào kinh tế mà còn phải dựa trên nền tảng đạo đức và tình người. Đối với học sinh, việc rèn luyện tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ như giúp đỡ bạn bè, kính trọng người lớn tuổi, tham gia các hoạt động thiện nguyện… Những việc làm tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn, góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp và lan tỏa giá trị tích cực trong xã hội. Tóm lại, từ bi kịch của gia đình ông lão mù, ta càng thấm thía rằng tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng là vô cùng cần thiết. Mỗi người hãy sống biết yêu thương, sẻ chia và có trách nhiệm với những người xung quanh, để xã hội không còn những “tiếng im lặng” vô cảm, mà thay vào đó là sự đồng cảm và ấm áp của tình người.
Câu 1: Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù. Câu 2: Đoạn trích thể hiện mâu thuẫn giữa khát vọng sống của người nghèo và thực tế xã hội bất công, khắc nghiệt. Câu 3: Anh cả Thuận cho rằng tiền là sức mạnh tối cao, đứng trên cả đạo đức và pháp luật, phản ánh xã hội “kim tiền” tàn nhẫn, đảo lộn giá trị. Câu 4: Chị cả Thuận là người hiếu thảo, giàu tình thương, luôn cố gắng kiếm sống và không chịu đầu hàng số phận. Câu 5: Bi kịch gia đình cho thấy sức ép của “cơm áo gạo tiền” có thể làm con người tha hóa, mất niềm tin và bị đẩy vào lựa chọn nghiệt ngã giữa lương tâm và sự sống.
a) N2 (g) + 3H2 (g) ⇌ 2NH3 (g)
b) Hằng số cân bằng: \(K_{C} = \frac{\left(\left[\right. N H_{3} \left]\right.\right)^{2}}{\left[\right. N_{2} \left]\right. \left(\left[\right. H_{2} \left]\right.\right)^{3}} = \frac{0 , 6 2^{2}}{0 , 45.0 , 1 4^{3}} = 311 , 31\)
c) - Tăng nhiệt độ ⇒ cân bằng chuyển dịch theo chiều nghịch ⇒ hiệu suất giảm.
- Tăng áp suất ⇒ cân bằng chuyển dịch theo chiều thuận ⇒ hiệu suất tăng.
- Thêm xúc tác ⇒ không có sự thay đổi.
Cấu hình electron nguyên tử: 1s22s22p3. ⇒ Vị trí của nitrogen trong bảng tuần hoàn: ô thứ 7, chu kì 2, nhóm VA.
a) H+ + OH- → H2O b) Ba2+ + SO42- → BaSO4↓ c) CO32- + 2H+ → CO2↑ + H2O d) Cu + 2Fe3+ → Cu2+ + 2Fe2+
(1) N2 + O2 → 2NO (2) 2NO + O2 → 2NO2 (3) 4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3 (4) NH3 + HNO3 → NH4NO3
Hiện tượng phú dưỡng hóa: Khi hàm lượng nitrogen trong nước đạt 300 μg/L và hàm lượng phosphorus đạt 20 μg/L. - Nguyên nhân: sự dư thừa dinh dưỡng do + Nước thải (nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt) được đưa đến ao, hồ qua cống dẫn nước hoặc chảy tràn trên mặt đất khi mưa lũ. + Dư thừa thức ăn chăn nuôi ở đầm nuôi trồng thủy sản. - Tác hại + Cản trở sự hấp thụ ánh sáng mặt trời vào nước giảm sự quang hợp của thực vật thủy sinh + Rong, tảo biển phát triển mạnh thiếu nguồn oxygen trầm trọng cho các loài khác (đặc biệt là tôm, cá) gây mất cân bằng sinh thái. + Gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, tạo bùn lắng xuống lòng ao, hồ.