Nguyễn Hoàng Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Hoàng Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

topic 1 :
Living a healthy lifestyle brings many important advantages. It helps people stay physically strong,

reduces the risk of diseases, and improves overall energy levels. Regular exercise and balanced meals

also support mental health by reducing stress and increasing happiness. In addition, healthy habits

improve concentration and sleep quality, allowing people to work and study more effectively. As a result,

individuals can enjoy life longer and more positively.

topic 2 :
At New Year, my family follows several meaningful traditions. We clean and decorate the house to

welcome good luck and a fresh start. On New Year’s Eve, all family members gather for a special meal

and share wishes for the coming year. We also visit relatives, give lucky money to children, and

remember our ancestors. These customs strengthen family bonds and create warm, happy memories.

topic 3 :
I try to help my family in many simple but meaningful ways. Every day, I do household chores such as

cleaning the house, washing dishes, and taking care of younger family members. I also help my parents

by studying hard and behaving well. When my family is tired or stressed, I listen and share their

feelings. These small actions show my love and responsibility toward my family.

1. The Muong earn a living by farming and raising animals .

2. They are in the habit of exercising after work .

1. If you don't drink more water , you will get more acne

2. My sisiter wants to see the terraced fields , so she is going to Sa Pa.

3. Unless he spends time on his phone , he will complete his work

Trong nhịp sống hiện đại, khi thời gian trở thành yếu tố quyết định sự thành công, việc sử dụng thời gian hiệu quả là

vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, một thực trạng đáng lo ngại đang diễn ra trong giới trẻ hiện nay là thói quen trì hoãn –

luôn chần chừ, để mọi việc “ngày mai làm cũng được”. Sự trì hoãn không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập, công

việc mà còn tác động tiêu cực đến tương lai của mỗi người.

Trì hoãn là hành vi cố tình kéo dài hoặc né tránh việc cần làm dù biết rõ hậu quả của việc không hoàn thành đúng

thời hạn. Trong giới trẻ, sự trì hoãn thể hiện rất phổ biến: học sinh để bài tập đến sát hạn mới làm, sinh viên học “nước

đến chân mới nhảy”, nhiều bạn trẻ trì hoãn việc rèn luyện bản thân, học kỹ năng mới hay theo đuổi ước mơ của mình.

Ban đầu, sự trì hoãn có vẻ vô hại, nhưng lâu dần lại trở thành thói quen khó bỏ.

Nguyên nhân của sự trì hoãn xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là do tâm lí lười biếng, thích hưởng thụ hơn nỗ lực.

Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, trò chơi điện tử, các nội dung giải trí nhanh khiến giới trẻ dễ bị

cuốn vào thế giới ảo và quên đi trách nhiệm thực tế. Ngoài ra, không ít bạn trẻ thiếu mục tiêu rõ ràng, thiếu kỹ năng

quản lý thời gian, dẫn đến việc không biết bắt đầu từ đâu và lựa chọn trì hoãn như một cách trốn tránh áp lực.

Hậu quả của sự trì hoãn là vô cùng nghiêm trọng. Trước hết, nó làm giảm hiệu quả học tập và công việc, khiến kết

quả không đạt như mong muốn. Sự trì hoãn còn gây ra tâm lý căng thẳng, lo âu khi thời hạn đến gần nhưng công

việc vẫn chưa hoàn thành. Về lâu dài, thói quen này khiến giới trẻ đánh mất nhiều cơ hội, trở nên thiếu kỷ luật, thiếu

bản lĩnh và khó thành công trong cuộc sống. Một người quen trì hoãn hôm nay rất dễ trở thành người nuối tiếc ngày

mai.Để khắc phục sự trì hoãn, mỗi bạn trẻ cần nhận thưcs rõ tác hại của thói quen này và chủ động thay đổi bản

thân. Trước hết, cần xác định mục tiêu rõ ràng cho học tập và cuộc sống, từ đó tạo động lực hành động. Việc lập kế

hoạch cụ thể, chia nhỏ công việc và hoàn thành từng bước sẽ giúp giảm cảm giác áp lực. Bên cạnh đó, giới trẻ cần

rèn luyện tính kỷ luật, biết kiểm soát thời gian sử dụng mạng xã hội và các hình thức giải trí. Gia đình, nhà trường và

xã hội cũng cần đồng hành, định hướng và tạo môi trường tích cực để giúp giới trẻ phát triển toàn diện.

Tóm lại, sự trì hoãn là một “kẻ thù thầm lặng” đang cản bước thành công của nhiều bạn trẻ hiện nay. Nhận ra, đối mặt

và vượt qua sự trì hoãn chính là cách để giới trẻ làm chủ thời gian, làm chủ bản thân và xây dựng một tương lai tốt

đẹp hơn.

gợi cho thế hệ học sinh,sinh viên về trách nghiệm nhìn nhận lại thực tại dũng cảm nhìn thẳng vào tình hình của đất nước phê phán sự trì trệ lố lăng và đặc biệt là tự vấn để hành động cống hiến bằng tài năng trí tuệ không chấp nhận thân phận lô lệ tinh thần,phải vươn lên vực dậy đất nước giống như lời kêu gọi ngoảnh cổ mà trong cảnh nước nhà

Nghĩa tường minh (nghĩa đen): "Mảnh giấy làm nền thân giáp bảng": Tấm thân của con rối (tiến sĩ giấy) được làm từ

một tờ giấy. "Giáp bảng" là danh hiệu cao nhất trong thi cử ngày xưa, ở đây dùng để chỉ tấm bằng Tiến sĩ. "Nét son

điểm rõ mặt Văn khôi": Những đường nét vẽ bằng son (màu đỏ) trên mặt giấy đã tạo hình cho khuôn mặt của "ông tiến

sĩ", "Văn khôi" là người đỗ đầu, đứng đầu trong khoa cử. Tóm lại: Tường minh là miêu tả một món đồ chơi trẻ con, một

hình nộm làm bằng giấy, có đủ nét "giáp bảng" và "văn khôi" như thật. 2. Nghĩa hàm ẩn (nghĩa bóng): Phê phán thực

trạng xã hội: Tác giả (Nguyễn Khuyến) mượn hình ảnh tiến sĩ giấy để châm biếm sâu cay chế độ thi cử suy đốn, nơi

danh hiệu cao quý bị mua bán, coi thường. Những "ông tiến sĩ" thực chất có thể chỉ là những kẻ "giấy". Chê bai những

kẻ giả dối: Những kẻ dù có được "giấy" (bằng cấp, danh vị) nhưng không có tài năng thực sự, chỉ là "nét son" (vẻ

ngoài hào nhoáng) che đậy sự trống rỗng bên trong, không xứng đáng với danh hiệu "Văn khôi". Nỗi u uẩn: Phản ánh

nỗi buồn, sự bất lực của nhà thơ trước thực trạng xã hội phong kiến suy tàn, nền học vấn bị vẩn đục, và sự coi nhẹ giá

trị tri thức đích thực, theo bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến.

Vào khoảng những năm ba mươi của thế kỷ XX, trên văn đàn Việt Nam đã dần dần có một sự trưởng

thành mới. Thi ca giờ đây của Việt Nam không còn bị lệ thuộc vào những quy ước khắt khe của Nho gia

rằng tất cả nhà thơ không được bộc lộ cái tài một cách tự do. Bước vào giai đoạn này, mỗi thi sĩ lại hiện

diện trên văn đàn với một tư thế rất riêng, của riêng mình. Cũng bởi vì cái riêng này, họ - thi sĩ thời đại

mới – đã có những định nghĩa rất khác về thơ. Nếu Xuân Diệu cho rằng

“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”

thì Hàn Mặc Tử lại nói: “Thi sĩ là người gánh trên vai cả nỗi đau nhân loại”. Câu hỏi đặt ra rằng “nỗi đau

nhân loại” đó là gì? Có thể là nỗi phiền muộn “tương tư” như Nguyễn Bính chăng? Hay là tư thế “không

khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” của Huy Cận? Bên cạnh những nỗi đau trên, Hồ Chí Minh cũng đã “vô

tình” thêm vào “nỗi đau nhân loại” kia một góc nhìn rất khác. Đó là góc nhìn vào cái xấu xa, thối nát của

xã hội. Không còn chỉ là gói gọn trong “vòng trời đất dọc ngang ngang dọc” của đất Việt mà đã chạm

đến cái mục cửa của xã hội Trung Quốc do chính quyền Tưởng Giới Thạch đứng đầu lúc bấy giờ. Tuy

rằng “ngâm thơ ta vốn không ham” nhưng nếu là con người thì Hồ Chí Minh lại thờ ơ với những gì

chướng tai gai mắt thế sao? Chỉ gói gọn trong bài thơ “Lai Tân”, tác giả đã nhẹ nhàng nhưng lại đả kích

sâu cay một xã hội

“Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc

Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh

Chong đèn, huyện trưởng làm công việc

Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”

Vì là người tù của chế độ Tưởng Giới Thạch nên không có gì khó hiểu khi tác giả lại vẽ ra một bức tranh

hiện thực sắc sảo đến thế. Khi lược đọc qua bài thơ, người ta sẽ dễ dàng nhận thấy một nghịch lý – một

nghịch lý rất lớn. Đúng rằng không thể phủ nhận được trong thi ca không được có những nghịch lý. Thi

ca vẫn được quyền có những nghịch lý. Những nghịch lý đó đôi khi là cảnh “Hầu trời” của Tản Đà hay

làm sao có thể được khi Xuân Diệu lại muốn “cắn” vào “xuân hồng”. Tuy là nghịch lý đấy nhưng tất cả

đều mang trong mình một nét dễ thương của con người “ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”.

Nghĩa là tuy nghịch lý về vật chất nhưng lại hợp lý trong tâm khảm.

Cái nghịch lý ở đây mà Hồ Chí Minh đặt ra cũng thế. Cái nghịch lý này giờ đây đã kèm theo chút nóng

giận, bực tức. Làm sao có thể được khi một xã hội “ban trưởng chuyên đánh bạc”, “cảnh trưởng” lại “kiếm

ăn quanh” mà “trời đất Lai Tân vẫn thái bình”? Quả thật, nếu như định nghĩa rằng “ban trưởng” là người

trông coi nhà lao và “cảnh trưởng” là những người có nhiệm vụ giải tù nhân. Tất cả họ dường như đều

chung một công việc là giáo dục tù nhân, giúp tù nhân tốt hơn. Nhưng thực tế thì không phải vậy.

Trong cái nghịch lý chủ đạo đã trình bày thì lại đâu đó nhen nhóm lên những nghịch lý khác. Chính là tại

sao trong tù lại có cái nạn đánh bạc? Vẫn biết rằng chính xã hội lúc bấy giờ bên Trung Quốc thì món

đánh bạc bị luật cấm. Nếu như anh đánh bạc thì không những anh, mà cả vợ con anh cũng bị liên lụy;

còn riêng anh, anh phải đi tù. Đó là một thực tế và thực tế này đã được Hồ Chí Minh phác lại qua một lời

ăn năn, hối tiếc của tên tù cờ bạc:

“Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội

Trong tù đánh bạc được công khai

Bị tù con bạc ăn năn mãi

Sao trước không vô quắt chốn này?”

Chính bài thơ trên đã vẽ ra rất khéo sự lạm quyền đến khốn nạn của chế độ lúc đó. “Con bạc” kia bị tù là

đáng rồi, thích đáng cho việc hắn làm. Nhưng làm sao có thể im lặng được khi cái kẻ bắt mình vì tội đánh

bạc thì chính y cũng đánh bạc. Thế là cả cai tù và phạm nhân đều là tòng phạm. Cùng đánh bạc với

nhau cả thôi, nếu tôi có tội thì anh cũng chẳng thoát; thế mà lấy cái tư cách gì mà anh bắt tôi? Quả đúng

như thế, vị quan kia không có tư cách để “bắt tội” nhưng hắn có quyền. Hắn có quyền, cái quyền mà chế

độ Tưởng Giới Thạch đã “ban tặng” cho hắn. Và rồi cái nghịch lý ở đây là nhà lao giờ đây đã bị biến

thành sòng bạc “được công khai”. Tại đây, ngay cái nơi mà tù nhân ước gì mình đừng vô đây lại được

cấp giấy phép đánh bạc. Ngay cả đến “con bạc ăn năn mãi”: thà lúc trước vào đây đánh bạc để khỏi bị

kết tội. Nực cười chăng? Cũng có thể. Chua cay chăng? Cũng có thể. Đau đớn chăng? Cũng có thể. Cái

nhà tù Tưởng Giới Thạch là thế đấy!

Và rồi, không chỉ có nạn đánh bạc vậy đâu mà nơi đây còn bị Hồ Chí Minh chụp ảnh lại:

“Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh”.

Lại thêm cái nạn hối lộ. Đã quá đong đầy những sự thối nát, mục cửa của nhà tù Tưởng Giới Thạch. Khi

bước vào lao tù, phạm nhân luôn ý thức rằng này đây mình sẽ bị đánh, bị đối xử có thể thậm chí như một

súc vật. Biết là thế nhưng nếu với ý nghĩa nhà tù là nơi cải tạo phạm nhân thì lại sao có cái tình trạng hối

lộ? Nghịch lý! Ở một bài thơ khác, tác giả cũng đã khắc lại cái trớ trêu, cái khốn nạn của thói ăn hối lộ

này một cách rất chân thực:

“Mới đến nhà lao phải nộp tiền

Lệ thường ít nhất năm mươi nguyên

Nếu anh không có tiền đem nộp

Mỗi bước anh đi một bước phiền”

Thì ra cái thói ăn hối lộ là một “lệ thường”. Bây giờ đã rõ đến tận gốc rễ của sự việc. “Cảnh trưởng”

dường như có được cái quyền làm cho “mỗi bước anh đi một bước phiền” nếu như tù nhân không có

“năm mươi nguyên” đem nộp. Ở nơi “tối tăm mù mịt ấy”, tác giả đã thấy, đã chua xót, đã cay đắng vì cái

nghịch lý khốn nạn, trớ trêu này. Dường như tác giả đang tìm một sự hợp lý nào đó.

“Chong đèn, huyện trưởng làm công việc”

Tưởng chừng như “huyện trưởng” là một vị quan rất lo cho dân, rất thương dân nên khi đêm đã về, vạn

vật như chìm đắm trong giấc mộng thì ông lại “thiêu đăng” để làm việc. Điều này thật là quý hóa! Nhưng

câu hỏi đặt ra nếu như ông ta lo lắng cho dân, cho nước như thế thì tại sao cấp dưới của ông ta lại xảy

ra, xuất hiện những thói đời như thế. Phải chăng ông là người có tài nhưng lại bất lực; hay ông cố tình

cho qua và “cho phép” cấp dưới được quyền như thế? Vấn đề đặt ra tiếp theo rằng phải chăng “huyện

trưởng” đã được cấp dưới đút lót? Đó quả là một câu hỏi lớn - một câu hỏi phải để cho chính chế độ đó

trả lời. Một mặt khác, nếu như đánh đồng những đối tượng trong ba câu thơ đầu thì có lẽ “huyện trưởng”

hằng đêm “thiêu đăng” để hút thuốc phiện. Không phải một cách cường điệu mà ghép hết tội này đến tội

khác cho ông; nhưng dù có cố tìm một lý do chính đáng cho những hành động giữa đêm như thế trong

bối cảnh này cũng là khó khăn.

Chỉ cần lướt qua ba câu thơ đầu của “Lai Tân”, người đọc đã có thể thấy đó như một thước phim mà tác

giả đang cố tái hiện lại một cách chân thực. Thước phim này chiếu lại một bộ máy cai trị ở Lai Tân gồm

“ban trưởng”, “cảnh trưởng”, “huyện trưởng” với những việc làm xem ra là bình thường trong cái xã hội

bấy giờ. Bình thường đến mức tầm thường! Thực tế là vậy. Một điều minh nhiên rằng cái xã hội đó sẽ

không “thái bình”. Nhưng đến câu cuối bài thơ, với tất cả những sự việc như thế mà tác giả lại kết luận

rằng:

“Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”

Dường như là dửng dưng và vô cùng nghịch lý. Tuy là thế nhưng tác giả đã đả kích một cách nhẹ nhàng

nhưng lại thấm thía. Nhãn tự “thái bình” đồng thời vừa vạch ra một nghịch lý, vừa vẽ ra một hợp lý mang

“phong cách” Tưởng Giới Thạch. Phải chăng “thái bình” là do được sự đồng lòng nhất quán từ “cảnh

trưởng”, “ban trưởng” đến “huyện trưởng”. Tất cả đều như nhau, cũng thối nát, mục rữa. Lại thêm với

nhãn tự “thái bình”, tác giả dường như đang khẳng định rằng tình trạng của chế độ thống trị xã hội

Trung Quốc bấy giờ vẫn xảy ra bình thường, không có gì phải lạ cả, thậm chí điều đó gần như là bản

chất của guồng máy cai trị ở đây. Chỉ cần như thế thôi, tác giả đã mỉa mai châm biếm cái xã hội dưới

thời Tưởng Giới Thạch đó một cách sâu sắc đến vậy. Sâu sắc là bởi thi nhân đã nhìn thấy vào trong cái

sự thật đã được che đậy bằng bề mặt giả tạo của bộ máy cai trị này.

Hồ Chí Minh dường như đã thật sự trở thành một thi sĩ vì tác giả đã “gánh trên vai cả nỗi đau nhân loại”.

Thi nhân vừa thương vừa đả kích mạnh mẽ. Bút pháp châm biếm nhẹ nhàng mà thấm thía cùng nhãn tự

“thái bình” đặc biệt xen giữa nhịp thơ 4/3 đã giúp thi sĩ hoàn thành “Lai Tân”. Rất chính đáng, vô lý

nhưng lại có lý hết lời!

sắc thái của " thiếu phụ" trong câu "Chợt một thiếu phụ bước vào với một em bé với chín , mười tháng tuổi và một chú

mèo con " là người phụ nữ trẻ đã có gia đình , mang sắc thái trang trọng , cổ kính , dịu dàng , kín đáo