Nguyễn Bảo Ngọc
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. (0,5 điễm)
Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.
Câu 2. (0,5 điểm)
Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.
Câu 3. (1,0 điễm)
- Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:
+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật").
+ Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!").
- Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:
+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.
+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng.
Câu 4. (1,0 điểm)
Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận:
- Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương:
Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha già mù loà
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
- Xác định đúng yêu câu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Học sinh có thế trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
- Xác định đúng vấn đề cân nghị luận (0,25 điếm): Phân tích nhân vật Trần Thiết Chung trong đoạn trích "Kim tiền"
- Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điếm):
Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
- Người trí thức có tài năng và lí tưởng sống trong sạch:
+ Trần Thiết Chung là người có học vấn, có tài, đủ khả năng tạo dựng công danh nếu muốn, nhưng ông chủ động lựa chọn đời sống giản dị, thanh bạch. Câu nói "Sung sướng thay những người không cần thiết gì hết!" cho thấy ông đề cao giá trị tinh thần hơn vật chất, coi sự thanh thản trong tâm hồn là niềm hạnh phúc đích thực.
+ Lối sống này thể hiện một lí tưởng sống cao đẹp, hiếm có trong xã hội mà đồng tiền đang ngày càng trở thành thước đo giá trị con người.
Đó không chỉ là sự lựa chọn theo cảm xúc hay nhất thời, Trần Thiết Chung quyết tâm giữ lối sống đơn giản nhưng sạch sẽ, không ham cầu
Câu 1. (0,5 điểm)
Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2. (0,5 điểm)
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3. (1,0 điễm)
- Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với
"tiền":
+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa tru nặng, nhưng bông hoa thơm ngát.
+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.
- Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông
Trần Thiết Chung:
+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.
+ Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.
Câu 4. (1,0 điểm)
- Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình.
- Ý nghĩa của kết thúc này:
+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thế dung hòà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền).
+ Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.
+ Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế.
Câu 5. (1,0 điếm)
Học sinh đưa ra ý kiến đồng tình với quan điểm của ông Trần Thiết Chung và đưa ra lí giải hợp lí.
Gợi ý:
- Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khỏẻ và sự bình yên trong tâm hồn.
- Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm đế đạt mục đích.
- Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.
Câu 1. (0,5 điểm)
Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2. (0,5 điểm)
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3. (1,0 điễm)
- Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với
"tiền":
+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa tru nặng, nhưng bông hoa thơm ngát.
+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.
- Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông
Trần Thiết Chung:
+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.
+ Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích đoạn trích "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long.
- Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điếm):
Gợi ý:
- Hoàn cánh gia đình cụ Thông:
+ Cụ Thông đế lại gia sản lớn nhưng gia đình nhanh chóng sa sút và lâm vào cảnh khánh kiệt.
+ Nguyên nhân: Bà vợ và con dâu mê đồng bóng, con trai trưởng ăn chơi trác táng, thiếu trách nhiệm.
- Diễn biến tâm lí của nhân vật Thông Thu:
+ Sự hối hận và nhận thức về lỗi lầm của bản thân (Hồi II):
t+ Thông Thu hiện lên với những con số nợ nần cụ thể (2000 đồng, 500 đồng...). Sự tính toán chi li cho thấy sự tỉnh ngộ về tài chính khi đã quá muộn.
++ Nhân vật tự phê phán lối sống của chính mình là "ném tiền qua cửa sồ", "đắm đuối trong bế tình dục".
Câu 1. (0,5 điễm)
Văn bản "Chén thuộc độc" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2. (0,5 điểm)
Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).
Câu 3. (1,0 điểm)
- Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:
+ "Bóp trán nghĩ ngợi".
+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống."
+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.".
+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện."
+...
- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:
+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật.
+ Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).
Câu 4. (1,0 điễm)
- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình.
- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hăn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").
- Sự thay đối: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II)
chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai).
Câu 5. (1,0 điểm)
Học sinh đưa ra quan điếm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý:
- Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt đế sứa chữa.
- Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên luy, đến những người thân xung quanh.
- Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
VvgviyfHfddhgfdfgcgxsdj đn vs jdhrhrdhsGdtjdhdjrz