Nguyễn Văn Hiếu
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Trẻ con không được ăn thịt chó" là tự sự. Câu 2. Người mẹ sờ tóc ra cho lũ trẻ xúm vào bát cháy nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của chúng, hi vọng giúp các con quên đi cơn đói cồn cào. Câu 3. Ý nghĩa của hình ảnh "cái bát không" ở cuối văn bản: – Về tính cách người cha: Hình ảnh này tố cáo sự ích kỷ, tàn nhẫn và tha hoá đến tận cùng của người cha. Vì miếng ăn và sĩ diện với bạn bè, ông ta đã nhẫn tâm ăn hết sạch đồ ăn, không chừa lại chút gì cho vợ con đang đói khát mòn mỏi chờ đợi dưới bếp. Ông ta hiện lên đúng như một "ông bạo chúa" xấu xa. – Về bi kịch gia đình: "Cái bát không" là biểu tượng cho sự nghèo đói cùng cực và sự tuyệt vọng. Nó dập tắt niềm hi vọng nhỏ nhoi của những đứa trẻ. Nó đẩy nỗi đau và sự bất lực của người mẹ lên đến đỉnh điểm. => Bữa ăn đã trở thành một bi kịch đầy nước mắt.
Câu 4. – Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ khi nghe tiếng bố gọi dọn mâm đến khi thấy mâm bát: Khi nghe thấy tiếng gọi: Từ trạng thái ủ rũ, mệt lả vì đói thì chúng "đột nhiên tươi tỉnh lại", "nhổm dậy" trả lời to và ngồi chồm chồm đợi đầy háo hức, mong chờ. Khi mâm được bê xuống: Chúng vui vẻ, tranh giành, trêu đùa nhau ("Khoan! Kẻo vỡ", "Không cho chúng mày ăn"), sự mong chờ và niềm tin được ăn khiến những đứa trẻ trở nên hoạt bát. Khi nhìn thấy cái bát trống không: Những đứa trẻ chuyển sang trạng thái hụt hẫng, thất vọng và đau đớn đến tột độ. Thằng cu Con "khóc oà", "đạp như giãy chết" và những đứa còn lại đều khóc theo. – Ý nghĩa của diễn biến tâm lí: Khắc hoạ sự tàn khốc của cái đói, nó chi phối hoàn toàn cảm xúc và tinh thần của những đứa trẻ ngây thơ. Làm nổi bật sự tội nghiệp, đáng thương của lũ trẻ và sự tàn nhẫn của thực tại mà chúng phải gánh chịu. Câu 5. – Nghèo đói khiến cuộc sống thiếu thốn vật chất, dễ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột trong gia đình. – Ảnh hưởng đến tinh thần: lo âu, căng thẳng, mất niềm tin vào cuộc sống. – Trẻ em không được chăm sóc, học hành đầy đủ, dễ bị tổn thương về tâm lí. – Làm suy giảm tình cảm gia đình, thậm chí có thể dẫn đến những hành vi tiêu cực. – Cần có sự nỗ lực vươn lên, sự yêu thương, chia sẻ giữa các thành viên và sự hỗ trợ từ xã hội để vượt qua nghèo đói.
– Sự nghèo đói là một trong những nguyên nhân huỷ hoại hạnh phúc gia đình. – Nghèo đói không chỉ dày đoạ con người về thể xác mà còn mài mòn nhân phẩm, khiến con người trở nên tha hoá, ích kỷ. – Cái đói làm mất đi sự ấm áp, yêu thương, biến ngôi nhà thành nơi của sự chịu đựng và nước mắt. Khi nhu cầu cơ bản không được đáp ứng, tình phụ tử, nghĩa vợ chồng dễ bị rạn nứt, nhường chỗ cho bản năng sinh tồn và sự vô cảm lạnh lùng.
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. d. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2. (4 điểm) a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau: “Lòng tốt của con người có thể chữa lành các vết thương nhưng lòng tốt cũng cần đôi phần sắc sảo, nếu không chẳng khác nào con só không tròn trĩnh.” c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận – Xác định được các ý chính của bài viết. – Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần.
Câu 1: thể thơ lục bát
câu2
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh. Câu 3. Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân. Câu 4. Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích: Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng. Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng. Hành động: Tôn trọng Kiều (“thiếp danh đưa đến lầu hồng”), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều “Phi nguyên sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.” => Hành động nhanh chóng, dứt khoát. Câu 5. – Tình cảm/cảm xúc của bản thân: Ngưỡng mộ đối với Từ Hải. Trân trọng đối với Thúy Kiều. Vui mừng với kết thúc viên mãn,... – Lí giải: Học sinh lí giải ngắn gọn, phù hợp, thể hiện được quan điểm cá nhân