(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
GỬI QUÊ
(Trích)
Tôi lớn lên trong vành nôi của sóng
Biển hát ru lúc mẹ bận trên đồng
Vị muối mặn đã biến thành máu thịt
Tôi bạn cùng cua cá với rêu rong
Cát thường cuốn vào ngôi trường tôi học
Sóng vỡ run run nét chữ đầu đời
Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc
Lúa ngô thèm màu xanh mướt, khôn nguôi
Thổi không ngơi cơn gió sạm da người
Những nẻo đường rát bỏng bàn chân nhỏ
Sông mùa lũ nước bò vào tận ngõ
Chim hải âu với cò bợ chung đàn.
(Trần Văn Lợi, in trong Miền gió cát, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1999, tr.9)
* Chú thích: Trần Văn Lợi sinh năm 1976 tại Nam Định, là nhà giáo, nhà thơ. Những sáng tác của ông luôn thể hiện một tâm hồn phong phú, gắn bó sâu sắc với làng quê, miền hoài cổ, nuối tiếc với những vẻ đẹp đã qua. Một số tập thơ đã xuất bản của tác giả: Miền gió cát (2000), Lật mùa (2005), Bàn tay châu thổ (2010),…
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra những vần được gieo trong văn bản trên.
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ:
Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc
Lúa ngô thèm màu xanh mướt, khôn nguôi
Câu 4 (1,0 điểm). Chỉ ra những dòng thơ miêu tả không gian của quê hương, từ đó cho biết quê hương của nhân vật trữ tình hiện lên như thế nào?
Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung của văn bản, em hãy nêu suy nghĩ của mình về ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người. (Trình bày 5 – 7 dòng)
😅
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định thể thơ của văn bản trên. Thể thơ của văn bản là thơ tự do (không bị ràng buộc bởi vần điệu, số tiếng cố định hay niêm luật, dòng thơ dài ngắn linh hoạt, gần với nhịp điệu lời nói tự nhiên). Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra những vần được gieo trong văn bản trên. Những vần được gieo trong bài thơ: ru – ruộng – thịt – rong học – đời – nhọc – người – mứt – người nhỏ – ngõ – đàn cát – (cát) – (cát) – (cát) – (cát) Các vần lưng và vần chân được gieo linh hoạt, tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, da diết, gần với lời ru, lời kể chuyện quê hương. Câu 3 (1,0 điểm): Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: “Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc Lúa ngô thêm màu xanh mứt, khôn người” Trong hai dòng thơ này, tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa và ẩn dụ: “Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc”: đất quê được nhân hóa như người mẹ, “mặn” (mặn mòi mồ hôi, mặn chát cuộc đời) để “nuôi” ước mơ – thể hiện sự vất vả, hy sinh thầm lặng của quê hương trong việc nuôi dưỡng khát vọng của con người. “Lúa ngô thêm màu xanh mứt, khôn người”: lúa ngô cũng được nhân hóa, “thêm màu xanh mứt” (xanh mướt, tươi tốt) và “khôn người” – gợi hình ảnh quê hương không chỉ nuôi dưỡng thể xác mà còn nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ, giúp con người trưởng thành, khôn lớn. Tác dụng: Làm nổi bật vẻ đẹp bình dị nhưng giàu sức sống của quê hương, nhấn mạnh tình yêu thương, sự hy sinh của đất mẹ dành cho con người, khơi gợi nỗi nhớ thương da diết và lòng biết ơn sâu sắc. Câu 4 (1,0 điểm): Chỉ ra những dòng thơ miêu tả không gian của quê hương, từ đó cho biết quê hương của nhân vật trữ tình hiện lên như thế nào? Những dòng thơ miêu tả không gian quê hương: “Tồi lớn lên trong vành nôi của sông” “Biển hát ru lúc mẹ bận trên đồng” “Cát thường cuốn vào ngõ trường tôi học” “Sông vỗ run run nét chữ đầu đời” “Sông mùa lũ nước bò vào tận ngõ” “Chim hải âu với cò bợ chung đàn” Từ đó, quê hương của nhân vật trữ tình hiện lên là một miền quê ven biển (có sông, biển, cát, chim hải âu), nghèo khó, lam lũ (mẹ bận trên đồng, cát cuốn vào ngõ, sông lũ tràn vào nhà) nhưng rất đỗi thân thương, gần gũi. Không gian ấy gắn liền với tuổi thơ, với những kỷ niệm đầu đời (nét chữ đầu đời, trường học), với thiên nhiên rộng lớn (sông vỗ, biển hát ru, chim hải âu) và lao động vất vả của người dân. Quê hương hiện lên vừa khắc nghiệt, gian lao vừa dịu dàng, ru êm, là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và ước mơ. Câu 5 (1,0 điểm): Từ nội dung của văn bản, em hãy nêu suy nghĩ của mình về ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người. (Trình bày 5–7 dòng) Quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn, là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách mỗi con người. Qua bài thơ “Gửi quê” của Trần Văn Lợi, quê hương hiện lên vừa mặn mòi, vất vả (đất mặn nuôi ước mơ khó nhọc, mẹ bận trên đồng) vừa dịu dàng, ru êm (biển hát ru, sông vỗ run run nét chữ đầu đời). Dù nghèo khó, khắc nghiệt, quê hương vẫn là nơi in dấu tuổi thơ, là nguồn động lực để con người vươn lên, là nơi luôn hướng về mỗi khi xa xứ. Đối với em, quê hương không chỉ là không gian địa lý mà còn là tình cảm thiêng liêng, là gốc rễ giúp ta biết yêu thương, biết trân trọng và có trách nhiệm xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp hơn.