(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Lao động là thứ mà thời đại nào cũng quý, cũng coi trọng. Nếu không có lao động thì không có sự tiến bộ nào và không thể hình thành nên thê giới con người. Mọi động vật đều lao động, trước hết là để duy trì sự sống. Ngay cả chú chim yến, khi còn non thì được bố mẹ mang mồi về mớm cho nhưng khi lớn lên sẽ phải tự mình đi kiếm mồi. Hổ và sư tử cũng đều như vậy. Tự mình lao động để tồn tại chính là nguyên lí mà tự nhiên ban tặng cho tất cả các sinh vật. Con người cũng là một loại động vật nên về cơ bản là như vậy. Nhưng sự tuyệt vời của con người là khả năng tìm thấy niềm vui trong lao động. Việc con người có cảm nhận được niềm vui trong lao động hay không sẽ có ý nghĩa lớn lao, quyết định cuộc đời của người đó hạnh phúc hay không. [...] Lao động của chúng ta không chỉ đem lại lợi ích cho chúng ta mà còn đem lại lợi ích cho cộng đồng xã hội. Lao động của chúng ta cũng không chỉ dành riêng cho bản thân chúng ta mà còn dành cho mọi người. Lao động của người khác cùng không chỉ đem lại lợi ích cho họ mà còn cho cả chúng ta. Cần suy nghĩ thâu đáo như vậy để thấy được lao động chính là ý nghĩa của cuộc sống.
(Theo Matsushita Konosuke, Mạn đàm nhân sinh, Phạm Thu Giang dịch, NXB Lao động xã hội, Hà Nội, 2018)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được tác giả sử dụng trong văn bản này là gì?
Câu 2. Văn bản trên bàn về vấn đề gì?
Câu 3. Để làm rõ cho ý kiến: "Mọi động vật đều lao động, trước hết là để duy trì sự sống." tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào? Nhận xét về những bằng chứng ấy.
Câu 4. Câu: "Việc con người có cảm nhận được niềm vui trong lao động hay không sẽ có ý nghĩa lớn lao, quyết định cuộc đời của người đó hạnh phúc hay không." đem đến cho em suy nghĩ gì?
Câu 5. Từ thực tiễn đời sống và những suy nghĩ sau khi đọc văn bản, em hãy nêu lên một biểu hiện cho thấy hiện nay trong cuộc sống vẫn có người nhận thức chưa đúng đắn về ý nghĩa của lao động.
Abc
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính là Nghị luận. Câu 2: Văn bản bàn về giá trị và ý nghĩa của lao động đối với đời sống con người và xã hội.
Câu 3: Phân tích bằng chứng và nhận xét Để làm rõ tư tưởng "Mọi động vật đều lao động, trước hết là để duy trì sự sống", tác giả đã đưa ra những bằng chứng vô cùng sinh động từ thế giới tự nhiên. Đó là hình ảnh chú chim yến khi trưởng thành phải tự mình đi kiếm mồi thay vì đợi bố mẹ mớm cho như lúc còn non, hay bản năng săn mồi của hổ và sư tử để tồn tại. Những bằng chứng này rất giàu sức thuyết phục vì chúng là những sự thật hiển nhiên trong tự nhiên mà ai cũng có thể quan sát được. Việc đưa ra các ví dụ này giúp người đọc nhận thấy lao động không phải là một gánh nặng khiên cưỡng mà là một "nguyên lí tự nhiên", là bản năng sinh tồn gốc rễ của mọi sinh linh, từ đó làm nền tảng vững chắc để tác giả nâng tầm ý nghĩa của lao động ở con người. Câu 4: Suy nghĩ về niềm vui trong lao động và hạnh phúc Câu nói của tác giả gợi cho em một suy nghĩ sâu sắc về định nghĩa của hạnh phúc thực sự. Lao động không chỉ đơn thuần là công cụ để kiếm sống hay tạo ra của cải vật chất, mà nó còn là con đường để con người tìm thấy giá trị bản thân. Khi một người tìm thấy niềm vui trong công việc mình làm, họ sẽ không cảm thấy mệt mỏi hay bị áp bức bởi bổn phận, mà ngược lại, họ cảm thấy mình đang sống có ích và đang cống hiến. Niềm vui đó chính là chất xúc tác khiến cuộc đời trở nên đáng sống và thăng hoa. Ngược lại, nếu coi lao động là cực hình, con người sẽ rơi vào trạng thái bế tắc và vô nghĩa. Vì vậy, hạnh phúc không nằm ở đích đến hay sự hưởng thụ cuối cùng, mà nằm ngay trong quá trình chúng ta nỗ lực và sáng tạo mỗi ngày. Câu 5: Biểu hiện của nhận thức chưa đúng đắn về lao động hiện nay Từ thực tiễn đời sống, một biểu hiện rõ rệt cho thấy vẫn còn những người có nhận thức chưa đúng đắn về lao động chính là tâm lí "ngại khó, ngại khổ" và tư tưởng "việc nhẹ lương cao" trong một bộ phận giới trẻ. Nhiều người coi lao động chân tay là thấp kém, chỉ muốn tìm kiếm những công việc nhàn hạ, mang tính hình thức hoặc thậm chí chọn lối sống "ký sinh", dựa dẫm vào gia đình và xã hội. Họ không hiểu rằng mọi sự tiến bộ của nhân loại đều bắt nguồn từ sự nhọc nhằn của lao động. Việc xem thường lao động hoặc coi đó là một sự trừng phạt thay vì là vinh quang đã khiến họ đánh mất đi cơ hội để rèn luyện ý chí, đồng thời thu hẹp cánh cửa dẫn đến hạnh phúc đích thực như tác giả đã đề cập.