II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM)
Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích sau:
Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi không chớp mắt lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bung trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến. Thuyền tôi trôi trên “Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà). Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên.
(Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân, Nguyễn Tuân toàn tập, tập IV, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về vấn đề ý thức tự học ở giới trẻ.
Câu 1: Bài làm:
"Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con Tàu" ("Tiếng hát con tàu" - Chế Lan Viên). Tây Bắc từ lâu đã được xem như một mành đất hứa cho văn chương nghệ thuật, bởi vùng núi ấy không chỉ để lại nhiều ân tình mà còn khiến cho các nhà văn, nhà thơ có được những nguồn cảm hứng bất tận. Nếu như Nguyễn Huy Tưởng đã có cho mình cuốn tiểu thuyết "Bốn năm sau", Tô Hoài ghi dấu ấn với "Vợ chồng A Phủ" thì Nguyễn Tuân lại thăng hoa trên mành đất này với tập "Tùy bút Sông Đà" mà linh hồn là bài kí "Người lái đò Sông Đà". Thường thức bài kí, người đọc không khỏi ấn tượng với vẻ đẹp của con sông Đà và trong mạch nguồn cảm hứng ấy, Nguyễn Tuân đã nhìn sông Đà không chỉ bằng đôi mắt của người lữ hành mà còn bằng trái tim của một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp tuyệt đích. Ở đoạn trích này, con sông Đà hiện ra trước hết trong trạng thái tĩnh lặng đến hóa cổ kính, “lặng tờ” như thể đã bất biến từ “đời Trần, đời Lê”, khiến dòng chảy không chỉ trôi trong không gian mà còn thấm sâu vào chiều dài lịch sử dân tộc. Sự tĩnh lặng ấy mở ra một thế giới thiên nhiên nguyên sơ, tinh khiết và chưa bị bàn tay con người chạm tới: nương ngô non đầu mùa, cỏ gianh ra nõn búp, đàn hươu thơ ngộ cúi mình trong sương đêm. Những hình ảnh ấy không chỉ giàu sức gợi mà còn mang vẻ đẹp của buổi ban sơ, của “bờ tiền sử”, “nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”, khiến sông Đà như bước ra từ huyền thoại. Thiên nhiên trong trang văn Nguyễn Tuân không vô tri mà đầy linh hồn: con hươu biết “nhìn không chớp mắt”, dòng sông biết “lắng nghe”, biết “nhớ thương” những hòn đá thác nơi thượng nguồn xa xôi. Đặc biệt, cách so sánh sông Đà với “một người tình nhân chưa quen biết” đã nâng dòng sông lên tầm một sinh thể có cảm xúc, có chiều sâu tâm trạng, vừa e ấp, kín đáo vừa gợi thương gợi nhớ. Tất cả đã làm nên một bức tranh sông Đà vừa trữ tình, vừa giàu chất thơ, thấm đẫm chất văn hóa và tâm hồn Việt, qua đó khẳng định tài năng độc đáo của Nguyễn Tuân, người đã gửi cả tình yêu đất nước, niềm say mê thiên nhiên và phong cách tài hoa của mình vào từng con chữ.
Câu 2: Bài làm:
Trong kỉ nguyên tri thức bùng nổ và biến đổi không ngừng, ý thức tự học không còn là một lựa chọn mà đã trở thành điều kiện sống còn đối với mỗi người trẻ trên hành trình khẳng định giá trị bản thân. Tự học chính là khả năng chủ động tìm kiếm tri thức, rèn luyện kĩ năng và hoàn thiện nhân cách mà không phụ thuộc hoàn toàn vào sự dẫn dắt của người khác. Khi nhà trường chỉ có thể trao cho người học “chiếc chìa khóa”, thì tự học chính là cánh cửa mở ra thế giới rộng lớn của hiểu biết và trưởng thành.
Trước hết, ý thức tự học giúp giới trẻ làm chủ việc học và cuộc đời mình. Trong thời đại công nghệ số, kiến thức luôn được cập nhật, nếu chỉ trông chờ vào bài giảng trên lớp, người trẻ sẽ nhanh chóng bị tụt lại phía sau. Tự học giúp họ chủ động đào sâu vấn đề, mở rộng tư duy, biến kiến thức tiếp nhận thụ động thành hiểu biết của riêng mình. Quan trọng hơn, quá trình tự học rèn luyện tính kiên trì, tinh thần trách nhiệm và khả năng tự quản lí, những phẩm chất không thể thiếu để thành công trong học tập cũng như nghề nghiệp sau này.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy không ít bạn trẻ hiện nay chưa coi trọng tự học. Nhiều người học đối phó, học để thi, lệ thuộc hoàn toàn vào thầy cô, sách giải hay các nguồn “tóm tắt nhanh” trên mạng. Sự hấp dẫn của mạng xã hội, trò chơi trực tuyến và lối sống hưởng thụ khiến không ít bạn trẻ ngại suy nghĩ, lười đọc, thiếu chiều sâu tri thức. Hệ quả là kiến thức hổng, tư duy hạn chế, thiếu bản lĩnh trước những lựa chọn quan trọng của cuộc đời.
Nguyên nhân của thực trạng ấy không chỉ đến từ bản thân người trẻ mà còn từ gia đình và xã hội. Sự bao bọc quá mức của cha mẹ, cách dạy học nặng về truyền thụ, nhẹ về khơi gợi tư duy, cùng với áp lực điểm số đã vô tình làm giảm tinh thần tự học. Dù vậy, trách nhiệm lớn nhất vẫn thuộc về chính người trẻ, bởi không ai có thể học thay hay sống thay họ.
Nhận thức được tầm quan trọng của tự học, mỗi bạn trẻ cần thay đổi thái độ và phương pháp học tập. Tự học không phải là học một cách cô lập mà là biết đặt câu hỏi, biết tìm kiếm, biết chọn lọc thông tin và biến tri thức thành hành động. Người trẻ cần xây dựng mục tiêu rõ ràng, thói quen đọc sách, khả năng tự đánh giá và tinh thần học hỏi suốt đời. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần tạo môi trường khuyến khích sáng tạo, tôn trọng sự khác biệt và nuôi dưỡng đam mê học tập.
Ý thức tự học chính là thước đo bản lĩnh của giới trẻ trong thời đại mới. Khi biết tự học, người trẻ không chỉ tích lũy tri thức mà còn học cách làm chủ tương lai, tự tin bước đi trên con đường của chính mình và đóng góp giá trị bền vững cho xã hội.
Câu 1 (2 điểm): Phân tích vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích. Vẻ đẹp lặng tờ, hoang dại: Cảnh ven sông được miêu tả "lặng tờ" như từ đời Trần đời Lê, mang vẻ đẹp của một "bờ tiền sử", "nỗi niềm cổ tích tuổi xưa". Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng: Hình ảnh những nương ngô nhú lá non, những con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông như bạc rơi thoi. Vẻ đẹp đầy sức sống nhưng êm đềm: Sông Đà lúc này không còn hung bạo mà trở nên "lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi", mang tâm hồn của một người tình nhân chưa quen biết. Câu 2 (4 điểm): Nghị luận về vấn đề ý thức tự học ở giới trẻ. Mở bài: Khẳng định tầm quan trọng của việc học và đặc biệt là ý thức tự học trong kỷ nguyên tri thức. Thân bài: Giải thích: Tự học là quá trình chủ động chiếm lĩnh tri thức mà không cần sự thúc ép. Thực trạng: Một bộ phận giới trẻ chủ động học hỏi qua internet, sách báo; nhưng cũng có bộ phận thụ động, ỷ lại vào công nghệ. Ý nghĩa: Tự học giúp con người nắm vững kiến thức bền vững, rèn luyện tư duy độc lập và khả năng thích nghi cao. Giải pháp: Cần xây dựng mục tiêu học tập rõ ràng, rèn luyện tính kỷ luật và ham học hỏi. Kết bài: Liên hệ bản thân và khẳng định: "Tự học là con đường ngắn nhất dẫn đến thành công".