viết bài văn phân tích nhân vật trần quốc toản
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
1.
- Câu chuyện kể về anh Kim Đồng.
- Mở đầu: Một lần, sau khi làm nhiệm vụ dẫn cán bộ vào căn cứ, Kim Đồng đang trên đường trở về nhà thì nghe có tiếng động lạ ở trong rừng.
- Diễn biến:
+ Kim Đồng liền rủ Cao Sơn tìm cách báo động cho các anh cán bộ đang ở trong xóm biết.
+ Sau khi quan sát, Kim Đồng đã nhìn thấy bọn lính đang lợi dụng sương mù phục kích trên đường vào xóm và im lặng đợi bắt người.
+ Kim Đồng bảo Cao Sơn lùi về phía sau, chạy về báo cáo.
+ Đợi cho bạn đi rồi, Kim Đồng ngắm kĩ địa hình, để chạy vọt qua suối, lên phía rừng. Như vậy, bọn lính sẽ phải nổ súng hoặc kêu lên. Chúng nó sẽ bị lộ.
+ Quả nhiên, thấy có bóng người chạy, bọn giặc lên đạn và hô: “Đứng lại!”. Kim Đồng không dừng chân. Giặc bắn theo.
- Kết thúc: Anh Kim Đồng đã anh dũng hi sinh. Hôm ấy là sáng sớm ngày 15 tháng 02 năm 1943.
- Nhờ tiếng súng báo động ấy, các đồng chí cán bộ ở gần đó tránh thoát lên rừng. Song, Kim Đồng đã bị trúng đạn và anh dũng hy sinh tại chỗ, ngay bờ suối Lê-nin.
- Em rất ngưỡng mộ anh Kim Đồng. Anh đã nêu lên một tấm gương vì cách mạng quên mình, hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ cách mạng. Sự hy sinh đó là tấm gương sáng chói mở đầu cho nhiều gương cao quí khác trong đội ngũ Đội viên Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
2.
- Mở bài: Để có một đất nước không có chiến tranh, bộ đội và các chiến sĩ, các vị anh hùng của dân tộc đã phải đổ máu để dành lại tự do. Trong những người chiến sĩ dũng cảm đó, có trẻ nhỏ, có thiếu niên, có người trưởng thành. Và một trong những người anh hùng nhỏ tuổi mà em rất ngưỡng mộ, đó là anh Kim Đồng.
- Thân bài:
+ Một lần, sau khi làm nhiệm vụ dẫn cán bộ vào căn cứ, Kim Đồng đang trên đường trở về nhà thì nghe có tiếng động lạ ở trong rừng. Kim Đồng liền rủ Cao Sơn tìm cách báo động cho các anh cán bộ đang ở trong xóm biết. Sau khi quan sát, Kim Đồng đã nhìn thấy bọn lính đang lợi dụng sương mù phục kích trên đường vào xóm và im lặng đợi bắt người. Kim Đồng bảo Cao Sơn lùi về phía sau, chạy về báo cáo. Đợi cho bạn đi rồi, Kim Đồng ngắm kĩ địa hình, để chạy vọt qua suối, lên phía rừng. Như vậy, bọn lính sẽ phải nổ súng hoặc kêu lên. Chúng nó sẽ bị lộ. Quả nhiên, thấy có bóng người chạy, bọn giặc lên đạn và hô: “Đứng lại!”.
Kim Đồng không dừng chân. Giặc bắn theo.
+ Nhờ tiếng súng báo động ấy, các đồng chí cán bộ ở gần đó tránh thoát lên rừng. Song, Kim Đồng đã bị trúng đạn và anh dũng hy sinh tại chỗ, ngay bờ suối Lê-nin. Hôm ấy là sáng sớm ngày 15 tháng 02 năm 1943.
+ Em rất ngưỡng mộ anh Kim Đồng. Anh đã nêu lên một tấm gương vì cách mạng quên mình, hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ cách mạng. Sự hy sinh đó là tấm gương sáng chói mở đầu cho nhiều gương cao quí khác trong đội ngũ Đội viên Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
- Kết bài: Anh Kim Đồng xứng đáng là một người anh hùng. Một người chết cho đân tộc, đã dâng cả đời mình để cứu lấy sự hoà bình, ấm no. Anh sẽ luôn sống mãi trong tâm trí của mỗi người theo năm tháng không bao giờ phai.
3. Em tiến hành góp ý cho dàn ý của bạn và chỉnh sửa dàn ý nếu có.
Trần Quốc Toản (chữ Hán: 陳國瓚;1267 – 2 tháng 2, 1285), hay Hoài Văn hầu (懷文侯) hoặc Hoài Văn vương (懷文王)[1], là một tông thất nhà Trần, sống ở thời kỳ trị vì của Trần Nhân Tông.
| Trần Quốc Toản 陳國瓚 | |
|---|---|
| Thông tin chung | |
| Thê thiếp | ? |
| Tước hiệu | Hoài Văn hầu (懷文侯) |
| Thụy hiệu | Hoài Văn vương (懷文王) |
| Thân phụ | Trần Nhật Duy (?) |
| Thân mẫu | Trần Ý Ninh (?) |
| Sinh | 1267 |
| Mất | 2 tháng 2, năm1285 sông Như Nguyệt |
Ông nổi tiếng có công tham gia kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và cái chết anh dũng vang danh một thời. Sự tích về ông được đánh giá là hiển hách, thể hiện sự dũng mãnh và kiên định của một người trẻ tuổi trước sự ngoại xâm.
Câu chuyện của ông cũng được lưu truyền trong văn hóa Việt Nam hiện đại với hình ảnh Lá cờ thêu sáu chữ vàng, dựa vào điển tích ông tự thêu 6 chữ [Phá cường địch, Báo hoàng ân; 破強敵,報皇恩] để trang bị cho quân đội của mình.
Vào một buổi sáng mùa thu năm Ất Dậu (1285), triều đình nhà Trần triệu tập một hội nghị quan trọng tại điện Diên Hồng. Tình hình đất nước đang như "ngàn cân treo sợi tóc". Giặc Nguyên – Mông đang dòm ngó bờ cõi phương Nam. Với dã tâm xâm lược, chúng đã chuẩn bị một lực lượng hùng hậu, kéo quân sang xâm lấn Đại Việt lần thứ hai. Trước họa ngoại xâm, vua Trần Nhân Tông quyết định hỏi ý kiến các bô lão, các công thần và tướng lĩnh để cùng tìm một con đường cứu nước.
Tin hội nghị được truyền đi khắp kinh thành Thăng Long. Trong dòng người nô nức đổ về hoàng cung hôm ấy, có một thiếu niên mới mười sáu tuổi, tên là Trần Quốc Toản. Dù tuổi còn nhỏ, nhưng cậu đã sớm tỏ rõ khí chất phi thường. Nghe tin vua triệu tập hội nghị bàn kế đánh giặc, lòng cậu như lửa đốt. Cậu xin đến dự để góp sức với triều đình. Nhưng vì còn quá trẻ, cậu bị lính canh chặn lại ngay từ cổng điện.
Bị từ chối không cho vào, Trần Quốc Toản đứng lặng người. Mắt cậu tối sầm lại. Cậu không oán trách ai, chỉ thấy lòng mình như bị xát muối. Tại sao giặc đến nơi rồi mà cậu lại không được góp lời bàn chuyện nước non? Bàn tay cậu siết chặt lấy quả cam được một quan đại thần ban cho. Mà không, cậu đâu còn để tâm đến mùi vị quả cam lúc này nữa. Những âm thanh vọng ra từ điện Diên Hồng như từng nhát dao đâm vào lòng cậu. Cậu đứng đó, tay run lên vì giận, vì uất ức, vì bất lực. Và rồi — bụp! — quả cam đã vỡ nát trong tay cậu tự lúc nào. Những giọt nước cam chảy xuống đất, thấm vào mảnh áo lam sờn vai của người thiếu niên.
Một cảm xúc mãnh liệt trào dâng trong lòng Trần Quốc Toản. Không thể đứng nhìn giặc ngoại bang giày xéo giang sơn, cậu quyết tâm hành động. Không được dự hội nghị, thì cậu sẽ dùng hành động để chứng minh tấm lòng vì nước của mình. Về đến nhà, Quốc Toản âm thầm chiêu mộ gia binh, rèn luyện binh sĩ, chuẩn bị lương thảo. Cậu tự thiết kế và cho may một lá cờ lớn với sáu chữ đỏ rực: "Phá cường địch, báo hoàng ân" — tiêu biểu cho tấm lòng trung nghĩa, vì vua, vì nước.
Chỉ trong thời gian ngắn, cậu đã tập hợp được một đội quân nhỏ nhưng đầy quyết tâm và khí thế. Họ luyện tập ngày đêm, sẵn sàng chiến đấu. Dù tuổi đời còn trẻ, Trần Quốc Toản đã sớm tỏ rõ tài thao lược, sự cương nghị và khí phách hiếm thấy. Không lâu sau đó, khi quân Nguyên tràn vào xâm lược nước ta, Quốc Toản cùng đội quân của mình đã lập được nhiều chiến công hiển hách trong các trận đánh ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương…
Tấm gương Trần Quốc Toản không chỉ khiến quân thù khiếp sợ mà còn là niềm tự hào lớn lao của dân tộc. Hình ảnh cậu bé siết chặt quả cam đến nát trong tay đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước mãnh liệt và khí phách quật cường của tuổi trẻ Việt Nam. Dù không được dự bàn việc lớn, cậu đã tự mình viết nên những trang sử chói lọi bằng hành động cụ thể.
Nghĩ đến Trần Quốc Toản, em không khỏi xúc động và khâm phục. Một thiếu niên chỉ mới mười sáu tuổi, nhưng tinh thần yêu nước và trách nhiệm với non sông đất nước lại lớn lao và sâu sắc đến nhường ấy. Cậu không chờ đợi người khác công nhận mình, cũng không buông xuôi khi bị từ chối. Cậu chọn cách hành động — một hành động mạnh mẽ, thiết thực, đầy quyết tâm. Cậu đã chứng minh rằng: tuổi trẻ không phải là rào cản, mà chính là động lực nếu biết sống hết mình vì lý tưởng cao đẹp.
Ngày nay, đất nước không còn chiến tranh, nhưng tinh thần Trần Quốc Toản vẫn luôn sống mãi. Trong học tập, lao động, và xây dựng Tổ quốc, mỗi bạn trẻ chúng em cần noi gương Trần Quốc Toản — không ngại khó, không ngại khổ, dám nghĩ, dám làm và sống có trách nhiệm với quê hương, đất nước. Chỉ khi đó, chúng ta mới xứng đáng là thế hệ nối tiếp cha ông, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc.
* Trần Hưng Đạo : Ba lần cầm quân đánh đuổi giặc Mông - Nguyên , đc nhân dân tôn vinh là Đức Thánh Trần , là ng viết áng văn bất hủ Hịch tướng sĩ .
* Lí Thường Kiệt : đánh bại quân nhà Tống vào năm 1075 - 1077 , nổi tiếng vs chiến thắng trên phòng tuyến sông như Nguyệt và thường đc coi là tg bài thơ thần Nam quốc sơn hà .
* Lí Công Uẩn : Ban Chiếu dời đô ( Thiên đô chiếu ) vào mùa xuân năm 1010 để chuyển dời kinh đô của nước Đại Cồ Việt từ Hoa Lư ( Ninh Bình ) ra thành Đại La ( Hà Nội )
* Phạm Ngũ Lão : Ngồi đan sọt bên về đường , mải nghĩ về 1 câu trong binh thư , đến nỗi quân lính dẹp lối cho xa giá của Hương Đạo Vương cầm quân đâm vào đùi chảy máu mà vẫn ko nhúc nhích . Trở thành môn khách của Hưng Đạo Vương , là vị tướng giỏi góp nhiều công lớn cho chiến thắng quân Mông - Nguyên .
* Trần Quốc Toản : 16 tuổi , căm thù giặc đến bóp nát quả cam trong tay ở bến Bình Than , giương cao là lá cờ thêu sáu chữ vàng " Phá cường địch , báo hoàng ân " , góp công đánh giặc Mông - Nguyên lần thứ 2 .
![]()
Trần Quốc Tuấn (1231 - 1300), tức Hưng Đạo Vương là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc. Năm 1285 và năm 1287, quân Mông - Nguyên xâm lược nước ta, lần nào ông cũng được Trần Nhân Tông cử làm Tiết chế thống lĩnh các đạo quân ra trận, và cả hai lần đều thắng lợi vẻ vang. Đời Trần Anh Tông, ông về trí sĩ ở Vạn Kiếp (nay là xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) rồi mất ở đây. Nhân dân tôn thờ ông là Đức thánh Trần và lập đền thờ ở nhiều nơi trên đất nước.
Nửa cuối thế kỉ XIII, chỉ trong ba mươi năm (1257 - 1287), giặc Mông - Nguyên đã ba lần kéo quân sang xâm lược nước ta. Lúc bấy giờ thế giặc rất mạnh, muốn đánh bại chúng phải có sự đồng tình, ủng hộ của toàn quân, toàn dân. Trần Quốc Tuấn đã viết bài hịch này để kêu gọi tướng sĩ hết lòng đánh giặc.
Để kêu gọi lòng dân, người viết có thể dùng nhiều cách khác nhau. Có khi chỉ cần nêu lên thực trạng, khơi gợi truyền thống yêu nước, căm thù giặc... Trong bài hịch này, Trần Quốc Tuấn đã sử dụng một giọng điệu, cách viết rất phong phú. Khi thì ông lấy tấm gương của người đời xưa, khi thì dùng cách "khích tướng", có khi lại an ủi, vỗ về đối với đối tượng... Đó chính là cái hay, cái độc đáo của tác phẩm này.
Tham khảo
Trần Quốc Tuấn là một vị tướng vô cùng tài giỏi hiếm có trong lịch sử Việt Nam. Ông nổi tiếng với những cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thắng lợi vẻ vang và có một lòng yêu nước nồng nàn. Tư tưởng quán xuyến suốt đời của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là một tấm lòng tận tụy đối với đất nước, là ý muốn đoàn kết mọi tầng lớp trong dân tộc thành một lực lượng thống nhất, là tinh thần yêu thương dân. Trước tội ác của kẻ thù và nỗi nhục của đất nước, Trần Quốc Tuấn đã bày tỏ nỗi lòng của mình "Ta thường tới bữa quên ăn; nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa" và tột cùng là "chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù". Những hành động mạnh mẽ ấy không chỉ thể hiện sự căm thù giặc mà còn là ý chí quyết chiến quyết thắng, một phen sống chết với quân thù. Cao hơn nữa, ông còn nguyện hy sinh thân mình cho sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Chưa dừng lại ở đó, Trần Quốc Tuấn còn luôn quan tâm, sẻ chia, theo dõi những tướng sĩ dưới quyền khi xông pha trận bão cũng như khi thái bình. Trên cơ sở, mối quan hệ đầy ân tình ấy, Trần Quốc Tuấn vừa chân tình chỉ bảo vừa phê phán nghiêm khắc thái độ, hành động sai trái của các tướng sĩ vô trách nhiệm trước vận mệnh nước, lơ là cảnh giác trước kẻ thù. Sự phê phán nghiêm khắc của Trần Quốc Tuấn bắt nguồn sâu xa từ lòng yêu thương chân thành với tướng sĩ và từ tình yêu Tổ quốc thiết tha cháy bỏng của ông. Tất cả là nhằm để đánh bại những tư tưởng dao động, bàng quan giành thế áp đảo cho tinh thần quyết chiến quyết thắng và đó cũng chính là tư tưởng chủ đạo của bài Hịch, là thước đo cao nhất, tập trung nhất tư tưởng yêu nước trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.
