K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

11 tháng 10 2021

Chi tiết nào em?

6 tháng 10 2017


tức nước vỡ bờ Tác phẩm "Tắt đèn" nói chung và đọan trích "tức nước vỡ bờ" nói riêng rất giàu giá trị hiện thực bởi dưới ngòi bút của Ngô Tất Tố, hòan cảnh xã hội, cuộc sống của con người, tâm lý của nhân vật được miêu tả một cách sâu sắc và chân thực. Nó hòan tòan hiện thực, không phải do văn hoa hay trau chuốt mới có được, nó mộc mạc và giản đơn qua những từ ngữ rất "thực". Hình ảnh cùng cực đến thương tâm, sự bế tắc của người dân đựơc cảm nhận sâu sắc.Và tác phẩm mang giá trị nhân đạo cũng là vì nó đã nêu lên đựơc giá trị hiện thực. Tác giả chắc hẳn đã gửi vào đấy sự đồng cảm và xót thương chân thành!
Nhưng giá trị nhân đạo đựơc đưa đến cao trào khi tác giả để cho nhân vật chị Dậu vùng lên, một sự "tức nước vỡ bờ", đó là hy vọng và khát khao được giải thóat của ngừơi dân.
khi bạn đọc tác phẩm, bạn tưởng tượng mình là một nhân vật trong đó, nhìn thấy tòan bộ câu chuyện xảy ra như thế nào , bạn sẽ cảm nhận được rất nhiều và cảm nhận đó tôi bảo đảm là rất sâu sắc. Trong quá trình phân tích bạn hãy sử dụng một số từ ngữ trong tác phẩm để dẫn chứng vào bài làm. Chúc bạn thành công !

6 tháng 10 2017

1/ Giá trị nhân đạo thể hiện ở tấm lòng đồng cảm với những con người bất hạnh, từ đó lên tiếng tố cáo gay gắt những bất công, những thế lực thống trị, áp bức trong xã hội.

a/ Đồng cảm với những người nông dân.

+ Đồng cảm với những người nông dân bị áp bức bóc lột bởi chính sách thuế khoá nặng nề.

* “ Tắt đèn” xoáy sâu vào nạn thuế thân- một thứ thuế vô nhân đạo của chế độ thực dân phong kiến:

- Làng Đông Xá ngột ngạt, căng thẳng trong hhững ngày sưu thuế.

- Gia đình chị Dậu điều đứng vì thuế, phải nộp cả thuế cho đứa em đã chêt.

* Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” thể hiện rõ nỗi khổ của người nông dân trong vụ sưu thuế.          
          => Làng Đông Xá là hình ảnh thu nhỏ của nông thôn Việt Nam. Đoạn trích “ Tức nước vỡ bờ” nói riêng, “Tắt đèn” nói chung đã lên tiếng tố cáo gay gắt chính sách thuế má vô nhân đạo, sự đối xử tàn nhẫn của chế độ Thực dân phong kiến đối với người nông dân.

+ Đồng cảm với người nông dân cơ cực, nghèo đói, lay lắt trong kiếp sống mòn, phải tìm đến đến cái chết để tự giải thoát. 

         - Lão Hạc một đời nghèo khổ: Không có tiền lấy vợ cho con, sống cô quạnh trong nỗi dằn vặt; đói khát vì không có việc làm, ốm đau bệnh tật, thóc cao gạo kém, phải đành lòng bán chó, ăn củ chuối, sung luộc, bữa ốc bữa trai, tự tử bằng bả chó…

           - Truyện ngắn “ Lão Hạc”  mang đến cho người đọc nỗi buồn, nỗi xót xa trước số phận của người nông dân bần cùng không lối thoát.

+ Đồng cảm với người nông dân bị đày đoạ bởi những hủ tục phong kiến.
                     - Anh con trai lão Hạc và người con gái không lấy được nhau vì hủ tục cưới xin nặng nề.

+ Đồng cảm với những người dân bị bóc lột bởi những thủ đoạn trắng trợn của bọn quan lại thống trị.

           - Chị Dậu bị vợ chồng Nghị Quế ăn bớt tiền bán con.

           - Con mẹ Nuôi bị tên quan phủ ăn chặn đồng hào đôi.

=>Người dân luôn bị những “ bóng ma” rình rập xung quanh để bóc lột, bóp nặn…

+ Đồng cảm với người nông dân bị đẩy đến bước đường cùng, bị lưu manh hoá, mất nhân cách.

          - Binh Tư sống bằng nghề ăn trộm…

                     - Các nhân vật trong truyện của Nam Cao : bà lão chết no, anh cu Lộ, Chí Phèo…

=>Tất cả họ đã hợp thành một thế giới những người nông dân nghèo khổ bất hạnh được các nhà văn hiện thực xây dựng với lòng đồng cảm sâu sắc.

b/ Đồng cảm với những người phụ nữ:

Nguyên Hồng đã viết về người phụ nữ với tấm lòng thương cảm thiết tha…Người mẹ bé Hồnglà nhân vật tiêu biểu cho những người phụ nữ bất hạnh trong xã hội cũ.

- Đồng cảm với những số phận trẻ em:

       + Chú bé Hồng mồ côi cha, thiếu vắng tình mẹ, sống trong sự ghẻ lạnh của họ hàng…

       + Cái Tí phải lìa xa bố mẹ, các em đem thân đi làm con ở…

  • Đồng cảm với những người trí thức nghèo.

           + Những nhân vật Điền, Hộ, Thứ, Du, “ hắn” “ tôi”… trong tuyện của Nam Cao vốn có khát vọng sống đẹp , nhưng vì phải lo miếng cơm manh áo nên hoài bão tiêu tan…

           + Ông giáo ( Lão Hạc) phải bỏ về quê sống bám vợ, phải bán dần những quyển sách để trang trải cuộc sống…

    => Với tấm lòng đồng cảm sâu sắc, các nhà văn đã dựng lên bao cảnh đời, bao số phận đau thương của nhiều tầng lớp nhân dân trong xã hội cũ. Họ thấu hiểu những nỗi đau tận cùng, nhận thấy những kết cục bi thảm mà xã hội dành cho những con người khốn khổ. Các tác phẩm văn học hiện thực phê phán là những lời tố khổ muôn đời cho những người

    2. Giá trị nhân đạo thể hiện ở thái độ ngợi ca, trân trọng những vẻ đẹp ngời sáng của con người trong một thời đau thương của lịch sử dân tộc.

    a/ Vẻ đẹp của sự lương thiện, nhân hậu giàu lòng tự trọng.

    -Lão Hạc là một chân dung ngời sáng của người nông dân lương thiện, nhân hậu và tự trọng…

    b/ Vẻ đẹp của lòng yêu thương và đức hi sinh:

    - Lão Hạc yêu thương con tha thiết, cả đời lão sống vì con và chết vì con…

    - Người mẹ và bé Hồng ( Trong lòng mẹ) có tình mẫu tử thiêng liêng sâu sắc.

    - Ngoài ra còn tình làng nghĩa xóm đẹp đẽ đáng trân trọng: ông giáo đối với lão Hạc, bà láng giềng với gia đình chị Dậu…

    c/ Vẻ đẹp của sức sống tiềm tàng mạnh mẽ:

  • Chị Dậu là điển hình cảu con người bị áp bức đã vùng dậy đấu tranh quyết liệt…

.=> Các nhà văn đã “cố tìm mà hiểu” những con người “ ở xung quanh ta” , nâng niu trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của những người nghèo khổ. Chị Dậu đẹp từ hình thức tới phẩm giá, lão Hạc lương thiện, giàu lòng tự trọng, yêu con tha thiết, Chí Phèo quỷ dữ nhưng vẫ tiềm ẩn bên trong là khát vọng sống lương thiện, chú bé Hồng thương yêu mẹ đến mãnh liệt…Đó là những nhân vật mang vẻ đẹp bản chất của con người Việt Nam tự ngàn đời.

IV/ Kết luận.

- Các nhà văn hiện thực đã hướng ngòi bút về phía “ những tiếng kêu đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than”, tấu lên bản nhạc buồn về cuộc đời của bao người bị áp bức, đồng thời khẳng định những vẻ đẹp phẩm chất không gì có thể làm mất đi ở chính những con người đau khổ ấy. Đó chính là chiều sâu nhân đạo cảu các tác phẩm văn chương chân chính.

- Các tác phẩm văn học hiện thực phê phán 1930 -1945 có giá trị nhân đạo lớn lao, góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền văn học dân tộc.

Tác giả Ngô Tất Tố là nhà văn của những người nông dân. Ông là nhà văn xuất sắc, tiêu biểu của trào lưu văn học hiện thực phê phán trước cách mạng tháng Tám. Nói đến Tắt đèn là chúng ta nhớ đến nhân vật chị Dậu. Đó là một người phụ nữ nông dân nghèo khổ, cần cù lao động, giàu tình thương yêu chồng con, dũng cảm chống lại cường hào.

Với đoạn trích Tức nước vỡ bờ, ông dã phản ánh lại cảnh thu thuế của xã hội ngày xưa đồng thời qua đó ông muốn lên án, phê phán chế độ thực dân nửa phong kiến bất công vô nhân đạo. Cảnh Tức nước vỡ bờ dã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về nhân vật chị Dậu - một người phụ nữ điển hình biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam.

Hoàn cảnh của chị Dậu thật đáng thương. Chị phải bán chó, bán khoai và đứt ruột bán đứa con bảy tuổi để đủ tiền nộp sưu cho chồng. Tưởng mọi chuyện đã xong và anh Dậu được về nhà nhưng bọn chúng lại còn bắt chị nộp thêm tiền sưu cho chú em chồng đã chết. Nộp một suất đã làm cho chị khổ lắm rồi nay nộp thêm suất nữa thì chị lấy đâu ra khoai, lấy đâu ra chó, lấy đâu ra con để bán mà nộp bây giờ? Anh Dậu bị ốm, bị trói suốt ngày đêm, anh ngất xỉu như cái xác chết. Bọn cường hào cho người vác anh Dậu về trả lại cho chị Dậu. Đau khổ, tai họa chồng chất, đè nặng lên người chị làm cho chị khốn đốn vô cùng.

Cuộc đời là vậy, chị làm chăm chỉ, cần cù lao động quần quật nhưng chị vẫn nghèo, vẫn khổ, vẫn đói. Thế nhưng chị Dậu là một người vợ, một người mẹ giàu tình thương yêu chồng con. Khi anh Dậu được trả về với cái xác không hồn chị đã tìm mọi cách cứu chữa cho chồng. Hàng xóm kéo đến an ủi, người cho vay gạo nấu cháo... Tiếng trống, tiếng tù và đã nổi lên. Chị Dậu cất tiếng khẩn khoản, tha thiết mời chồng: Thầy em cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xốt ruột. Lời người dàn bà nhà quê mời chồng ăn lúc hoạn nạn chứa đựng biết bao tình thương yêu, an ủi, vỗ về. Cái cử chỉ của chị Dậu bế cái Tỉu cố ý chờ xem chồng ăn cổ ngon miệng hay Không đã biểu lộ sự săn sóc và yêu thương của người vợ vởi người chồng đang đau ốm, tính mạng đang bị bọn cường hào de dọa.

Chị Dậu là một người phụ nữ cứng cỏi, dũng cảm, có tinh thần phản kháng chống cường quyền mặnh liệt. Bọn cai lệ và tên hầu cận lý trưởng với tay thước, tay roi, dây thừng lại sầm sập xông vào nhà chị Dậu thét trói kẻ thiếu sưu. Anh Dậu vừa run rẩy kề miệng vào bát cháo, nghe tiếng thét của tên cai lệ anh đã lăn đùng xuống phản. Tên cai lệ gọi anh Dậu là thằng kia, hắn trợn ngược hai mát quát chị Dậu : Mày định nói cho chú mày nghe đấy à? Sưu của nhà nước mà cũng mở mồm xin khất. Chị Dậu đã hạ mình van xin, lúc thì run run, xin khất, lức thì thiết tha xin ông trông lại. Chị Dậu càng van xin thì bọn chúng càng hung hăng, dữ tợn hơn. Tên cai lệ đùng đùng... giật phát cái dây thừng trong tay anh hầu cận lý trưởng, hắn chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu để bắt trói điệu ra đình chị Dậu van xin hắn tha cho... thì hắn bịch luôn vào ngực chị mấy bịch, tát đánh bốp vào mặt chị rồi nhảy vào cạnh anh Dậu.

Trước thái độ của bọn cường hào, mọi sự nhẫn nhục đều có giới hạn. Để bảo vệ tính mạng cho chồng và nhân phẩm của bản thân, chị Dậu đã kiên quyết chống cự chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ. Không chịu lui bước, chị Dậu nghiến hai hàm răng như thách thức: mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem.

Tư thế của chị Dậu có một bước nhảy vọt. Từ chỗ nhún mình tự gọi là cháu xưng ông, sau đó lại là tôi với ồng cuối cùng là bày chồng bà với mày. Chị Dậu đã phản kháng. Tên cai lệ bị chị túm lấy cổ, ấn dúi ra cửa làm cho bọn chúng ngã chỏng quèo. Tên hầu cận lý trưởng bị chị túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm. Với chị nhà tù thực dân chẳng làm cho chị run sợ.

Ngô Tất Tố đã hả hê khi tả cảnh chị Dậu cho tên cai lệ và tên hầu cận lý trưởng một bài học đích đáng, ông đã chỉ ra một quy luật tất yếu trong xã hội có áp bức, có đấu tranh.

Ngô Tất Tố đã miêu tả một cách rất chân thực, đã xây dựng một đoạn văn như một màn kịch vừa có bi vừa có hài. Cách sử dụng ngôn ngữ đối thoại nhuần nhuyễn, hợp lý, sử dụng lời ăn tiếng nói rất bình dị của đời sống hàng ngày. Mỗi nhân vật đều có ngôn ngữ riêng để thể hiện tính cách của mình. Ông đã thành công trong việc khắc họa nhân vật điển hình : chị Dậu - một người phụ nữ cần cù, chịu khó và có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, mang những vẻ đẹp của người phụ nữ nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

28 tháng 8 2019

Giai đoạn 1936-1939, văn đàn Việt Nam xuất hiện nhiều tác phẩm có giá trị, ình thành một trào lưu văn học hiện thực phê phán mạnh mẽ xã hội và phản ánh sinh động cụ thể những nỗi đau khổ, lầm than của nhân dân Việt trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ngô Tất Tố là một cây bút hiện thực phê phán xuất sắc của dòng văn học này. “tắt đèn” là một tác phẩm thành công nhất của ông. Đó là một bản cáo trạng lên án chế độ thối nát của bọn thực dân nửa phong kiến, đồng thời xây dựng hình tượng nhân vật chị Dậu tiêu biểu cho người phụ nữ nông dân Việt nam với những phẩm chất tốt đẹp.

Đoạn trích “tức nước vỡ bờ” kể lại sau khi anh Dậu bị ngất ở sân đình, sợ bị vạ lây bọn tay sai đem anh trả về gia đình như một cái xác chết. Chị Dậu cùng bà con hang xóm ra sức chăm sóc cho anh. Chị vô cùng đau đớn xót xa lo lắng cho mạng sống của chồng. Chị ân cần chăm sóc từng giấc ngủ, bữa ăn cho anh Dậu. trong lúc anh Dậu đau nặng, chị rón rén bưng bát cháo lớn đến chỗ chồng nằm và dịu dàng nói “ Thầy hãy cố dậy híp một ít cháo cho đỡ xót ruột”. rõ rang cị tận tụy, hết lòng chăm sóc chồng. Việc làm của chị xuất phát từ tấm lòng yêu thương chân thành sâu sắc của người vợ. chị cố ngồi xem chồng có ăn ngon miệng không. Hình ảnh này khiến ta liên tưởng đến bà Tú, vợ Tú Xương cũng tần tảo, đảm đang lo lắng hi sinh tất cả cho chồng con

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Những tình cảm cao đẹp đó chính là đặc điểm tiêu biểu nhất của người phụ nữ Việt Nam. Cũng chính vì tình cảm vợ chồng cao đẹp, chị Dậu đã dung cảm đấu tranh chống lại bọn tay sai để bảo vệ người chồng yêu quý. Khi anh Dậu run rẩy bê bát cháo lên thì bọn cai vệ và người nhà lí trưởng rầm rập kéo vào với những roi song, tay thước, dây thừng. Chúng chưa hành hung nhưng mồm vẫn chửi bới mỉa mai. Đối phó với hoàn cảnh bất ngờ đó, thái độ ban đầu cảu chị Dậu hoàn toàn bị động, chị run rẩy van xin thiết tha: “khốn nạn nhà cháy đã không có, dẫu ông có chửi mắng cũng thế thôi, xin ông trông lại”. Chị đã hạ mình nhẫn nhục xưng hô ông- cháu để bảo vệ tính mạng cho chồng. Nhưng chúng nào có nghe, bọn tay sai vẫn hung hang xông tới. bọn chúng giật phắt dây thừng, đùng đùng chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu. đến giờ phút này, trước sự ức hiếp tàn bạo của chúng, chị không còn nhẫn nhục được nữa, rõ rang nước càng tức càng vỡ bờ, chị đã chủ động đấu tranh chống lại kẻ thù. Tinh thần phản kháng biểu hiện ở thái độ hành động. chị xám mặt lại và cách xưng hô cũng thay đổi dần. lần cuối chị không gọi chúng bằng ông và xưng con cháu nữa mà là mày-bà, chị đã tự đặt mình lên trên kẻ thù và giành lại thế chủ động: “mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem”. Hành động cảu chị quyết liệt và nhanh như cắt chị nắm ngay gậy của hắn, túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm.

Câu nói đầy vẻ thách thức cùng hành động quyết liệt vừa là biểu hiện của long thương chồng vừa cho thấy sự dung cảm, tinh thần đấu tranh quyết liệt cảu chị. Rõ rang “tức nước vỡ bờ”. câu nói đầy khí phách của chị Dậu “Thà ngồi tù chứ để cho bọn chúng làm tình làm tội mãi thế tôi không chịu được” biểu hiện mãnh liệt sức phản kháng, lòng căm thù giai cấp chất chứa lâu nay. Bao nhiêu nỗi tủi nhục bấy lâu cam chịu giờ đây không còn dằn ra được nữa, nhất là chúng cố tình hành hạ anh Dậu. chị đã lấy thân che chở chồng mà cũng không yên, cuối cùng chị vùng lên đấu tranh chống lại áp bức với một sức mạnh quật khởi của lòng căm thù

Hành động của chị Dậu trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ chứng minh “ở đây có áp bức ở đó có đấu tranh”. Sự phản kháng của chị Dậu cũng là biểu hiện tinh thần đấu tranh chống áp bức, dù mang tính chất tự phát nhưng vẫn thể hiện một tiềm lực tốt của giai cấp nông dân. Khi có sự lãnh đạo cảu Đảng giai cấp nông dân vùng lên đấu tranh với sức mạn quật khởi bằng ý thức tự giác cách mạng.

Với nghệ thuật miêu rả tính cách nhân vật qua các diễn biến căng thẳng của tình tiết Ngô Tất Tố đã xây dựng thành công nhân vật chị Dậu. đó là hình tượng chân thực, đẹp đẽ về người phụ nữ nông dân trước Cách mạng tháng Tám có lòng yêu thương chồng con, có tinh thần đầu tranh dung cảm chống mọt áp bức, bất công của chế độ thực dân nửa phong kiến

BÀI LÀM 2: PHÂN TÍCH CẢM NGHĨ CẢM NHẬN VỀ NHÂN VẬT CHỊ DẬU TRONG ĐOẠN TRÍCH TỨC NƯỚC VỠ BỜ CỦA NGÔ TẤT TỐ
Ngô Tất Tố là bậc thầy trong làng văn học hiện thực giai đoạn trước năm 1945, ông đã rất thành công trong đề tài liên quan đến người nông dân và đoạn trích Tức Nước Vỡ Bờ đã làm nên tên tuổi của ông. Với tài hoa của mình, ông khắc họa hoàn hảo hình tượng người phụ nữ Việt Nam qua nhân vật chị Dậu- nhân vật chính trong đoạn trích Tức Nước Vỡ Bờ.
Lấy bối cảnh là một vụ thúc sưu thuế của một làng nọ, Ngô Tất Tố đã xây dựng một câu truyện xoay quanh số phận của người nông dân Việt Nam trước năm 1945 đặc biệt là người Phụ Nữ. Họ phải chịu nhiều đau khố và bất công biết nhường nào. Trong đoạn trích này, ta được thưởng thức ngòi bút tài hoa và sắc sảo của ông khi khắc họa hình ảnh chị Dậu. 

Trong hoàn cảnh gia đình nghèo khó , hạng cùng đinh trong làng, bị thúc sưu thuế đến nỗi phaỉ chạy vạy, bán chó, bán gà, bán cả đứa con gái đầu lòng rất khổ và khó khăn thì chị Dậu hiện lên là một người phụ nữ hết mực yêu thương chồng con và là một người phụ nữ can đảm và mạnh mẹ vô cùng. Khi chông trong cơn nguy kịch, chị tìm đủ mọi cách cứu chồng, chị khẩn khoản tha thiết mời chồng " thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột". Lời yêu thương ấy xuất hát từ một người đàn bà cục mịch và quê mùa nhưng chứa bao tình người tha thiết cùng sự an ủi và vỗ về. Cái cách mà chị Dậu bế cái Tỉu rồi ngồi xuống cạnh chồng cố ý chờ xem chồng chị ăn có ngon miệng không đã thể hiện sự săn sóc và tình thương của người vợ đối với người chồng đang đau ốm và bệnh tật

Và chị Dậu cũng là một người phụ nữ cứng cỏi và dũng cảm khi chống lại sự áp bức và cường bạo của tên Cai Lệ- bộ mặt tàn ác đại diện cho giai cấp thống trị, chúng đâm sầm vào nhà chị với tay cầm thước, roi song, dây thừng để thúc sưu, đòi trói anh Dậu đưa ra đầu đình. Anh Dậu run rẩy sợ đến suýt ngất, lăn đùng xuống phản. Tên Cai lệ cứ thế chửi bới nạt nổ và mỉa mai. Ban đầu chị Dậu còn khiêm nhường, quỳ mà van lạy để khất sưu nhưng chúng lại trợn chừng mắt lên rồi quát: Mày định nói cho cha mày nghe đấy à? Sưu của nhà nước mà dám mở mồm xin khất. Chị Dậu đã hạ mình van xin, lúc thì run run xin khất, lúc thì thiết tha xin ông trông lại" Tên cai lệ mỗi lúc lại nổi trận lôi đình:" Đùng đùng giật phắt cái thừng trong tay anh hầu cận lý trưởng, hắn chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu để bắt trói điệu ra đình. Chị Dậu van hắn tha cho thì hắn"bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch, tát đánh bốp vào mặt chị, rồi nhảy vào cạnh anh Dậu ". Tên Cai Lệ, một "kẻ hút nhiều xái cũ” đã làm ra những việc vô cùng dã man đôi với những người dân lành. Sau cùng, sức chịu đựng đã lên đến đỉnh điểm nên chị đã phản kháng lại bằng những lí lẽ chính đáng:" chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ" rồi chị Dâu đã nghiến hai hàm răng mà thách thức:"Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!" Từ chỗ chị nhún mình xưng cháu gọi là ông, chị Dậu sau đã xưng là bà và gọi Cai Lệ là mày. Với tư thế của kẻ yếu chị đã phản kháng lại những bất công vô lí từ kẻ thống trị bạo tàn. Kẻ đi thúc sưu giờ đã bị lép vế trước người bị thúc sưu. Hắn bị chị Dậu túm lấy cổ y ấn dúi ra cửa, ngã chỏng queo trên mặt đất !Tên hầu cận lý trưởng bị chị Dậu túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm" Trước sự can ngăn của anh Dậu chị Dậu đã quả quyết mà trả lời: "Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được"

Hình ảnh chị Dậu đã được khắc họa rất hoàn hảo bởi ngòi bút tài hoa của Ngô Tất Tố. Ông đã thể hiện sự đồng cảm và ngợi ca người đàn bà lực điền bằng tình cảm chân thành. Qua chị Dậu, Ngô Tất Tố còn cho ta nhìn thấy một quy luật tất yếu: Có áp bức thì sẽ có đấu tranh.

25 tháng 8 2021

undefined

20 tháng 9 2021

Tham khảo:

Câu mở rộng: in đậm.

Trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ, hình ảnh chị Dậu đã được thể hiện với vẻ đẹp của tình yêu thương và sức phản kháng tiềm tàng mãnh liệt. Vì tình yêu thương hy sinh cho chồng, chị Dậu luôn có những cử chỉ dịu dàng, hiền dịu với chồng mình. Và cũng vì yêu thương chồng, chị Dậu còn dám đứng lên phản kháng lũ cầm quyền vừa là đàn ông vừa được pháp luật bảo hộ. Tình yêu thương chồng đã cho chị sức mạnh để chống lại lũ cầm quyền ác độc. Đồng thời, chị còn là người có tinh thần phản kháng mạnh mẽ, chị đã chuyển từ đấu lí sang đấu lực. Chao ôi! Hơn ai khác, chị hiểu chồng chị đang trong tình cảnh ốm đau thế nào, nếu còn bị đánh trói thì chắc chắn chồng chị sẽ không chịu nổi! Vì vậy, hành động đó của chị chẳng phải là xuất phát từ tình yêu thương chồng, từ việc cai lệ và người nhà lí trưởng cứ một mực đòi trói chồng chị đi hay sao? Hơn nữa, với tinh thần phản kháng mãnh liệt của chị, chị không thể dùng cách nhún nhường nhẫn nại mà cầu xin cai lệ, người nhà lí trưởng được nên cách duy nhất chị có thể dùng đó là vùng lên đấu tranh với chúng. Bởi vì: chị buộc phải làm thế để bảo vệ chồng trong khoảnh khắc ấy, và cũng là do chúng dồn chị đến bước đường cùng. Tóm lại, qua nhân vật chị Dậu, nhà văn Ngô Tất Tố đã cho ta thấy được những vẻ đẹp, phẩm chất đại diện cho người nông dân bị áp bức trong xã hội phong kiến.

18 tháng 9 2021

Phân biệt ngôn ngữ tác giả với ngôn ngữ nhân vật có nghĩa là: Tình huống có chứa lời thoại và chỉ sự kiện chính của nhân vật trong bài. Còn ngôn ngữ nhân vật là chỉ ta tình huống có chứa lời thoại và chỉ ra sự kiện chính của lời Tác giả (Ngô Tất Tố) kể chuyện. Mn giúp mình với nhé<333.


 

 

19 tháng 9 2021

Cách làm nha bạn: chắc thế =)))

Chỉ ra các tình huống có trong đoạn trích và phân biệt ngôn ngữ tác giả với ngôn ngữ nhân vật

Tình huống trong đoạn trích:

-        Anh Dậu bệnh người như cái xác chết,chị Dậu cố chăm sóc chồng.

-        Bọn tay sai kéo vào , thái độ hách dịch mỉa mai, bạo ngược.

-        Chi Dậu van xin, chúng không tha, cuối cùng chị liều mạng khán cự lại.

Ngôn ngữ tác giả:

-        Anh Dậu bệnh người như cái xác chết,chị Dậu cố chăm sóc chồng.

-        Bọn tay sai kéo vào , thái độ hách dịch mỉa mai, bạo ngược.

Ngôn ngữ nhân vật:

-        Chi Dậu van xin, chúng không tha, cuối cùng chị liều mạng khán cự lại.