Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tham_khảo
Thất bại của Lý Nam Đế không phải là sự sụp đổ của nước Vạn Xuân, vì:
- Lực lượng của Lý Thiên Bảo (anh trai Lý Nam Đế), Lý Phật Tử (một người trong họ và là tướng của Lý Nam Đế) đã đem một cánh quân lui về Thanh Hóa, chờ đợi thời cơ tiếp tục kháng chiến.
- Lực lượng của Triệu Quang Phục (con của Triệu Túc) vẫn còn ở Hưng Yên. Được Lý Nam Đế trao quyền chỉ huy cuộc kháng chiến, nhân dân ta vẫn tiếp tục chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Triệu Quang Phục.
Theo anh (chị) sự thất bại của Lý Nam Đế có phải là sự sụp đổ của nước Vạn Xuân hay không? Vì sao?
A. Có, vì Lý Nam Đế là người đứng đầu quốc gia
B. Không, vì hậu duệ của Lý Nam Đế vẫn còn sống và tiếp tục đấu tranh
C. Có, vì Lý Nam Đế không có người nối dõi
D. Không, vì nhân dân Giao Châu vẫn đấu tranh mà không cần người lãnh đạo
Vương chỉ những ông vua ở các nước nhỏ. Đế tuy cũng là vua nhưng nó ở vị trí cao hơn, vua của nước lớn. Lý Bí muốn xây dựng nước ta giàu mạnh như nước phương Bắc nên ông xưng đế, đồng thời sánh ngang với vua phương Bắc luôn
*Diễn biến cuộc khởi nghĩa Lý Bí:
- Mùa xuân năm 542, Lý Bí phất cờ khởi nghĩa, hào kiệt khắp nơi kéo về tụ nghĩa... Chưa đầy 3 tháng sau, nghĩa quân đã đánh chiếm được hầu hết các quận huyện. Tiêu Tư phải bỏ thành Long Biên chạy về Trung Quốc.
- Cuộc tấn công đàn áp của nhà Lương :
+ Lần thứ nhất : Tháng 4 năm 542, Lý Bí chủ động kéo quân lên phía Bắc và đánh bại quân Lương, giải phóng thêm Hoàng Châu.
+ Lần thứ hai: Đầu năm 543, Lý Bí chủ động đón đánh địch ở Hợp Phố, quân giặc bị đánh tan.
* Những việc làm của Lý Bí sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa: Mùa xuân năm 544, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở cửa sông Tô Lịch (Hà Nội), đặt niên hiệu là Thiên Đức, lập triều đình với hai ban văn, võ.
* Việc Lý Bí xưng đế và đặt tên nước là Vạn Xuân thể hiện nước ta là một nước độc lập, tự chủ, sánh vai ngang hàng với Trung Quốc, nước ta có bờ cõi, giang sơn riêng chứ không phải là một châu quận nội thuộc Trung Quốc. Còn việc đặt tên nước là Vạn Xuân với mong muốn cho nền độc lập của đất nước mãi trường tồn, để nhân dân luôn có cuộc sống ấm no hạnh phúc, đất nước mãi thanh bình như vạn mùa xuân.
Mùa xuân năm 542, Lý Bí phất cờ nổi dậy. Khởi nghĩa thành công nhanh chóng. Trong vòng chưa đầy 3 tháng, nghĩa quân đã chiếm được hầu hết các quận, huyện. Thứ sử Tiêu Tư run sợ, vội vã bỏ thành Long Biên (Yên Phong - Bắc Ninh) rút chạy về Trung Quốc. Lý Bí đem quân vào Long Biên, ổn định tình hình mọi mặt. Được tin Long Biên thất thủ, vua Lương lập tức hạ lệnh cho quân phản công chiếm lại. Bọn xâm lược vừa kéo sang đã bị Lý Bí cho quân mai phục đánh tan.
Đầu năm sau (543), vua Lương lại lệnh cho quân sang xâm lược lần nữa. Bọn tướng chỉ huy quân Lương lúc này vừa khiếp sợ, vừa mệt mỏi, đang còn dùng dằng chưa dám tiến quân, Lý Bí chủ động ra quân đón đánh địch ở bán đảo Hợp Phố (bấy giờ thuộc châu Giao). Quân Lương mười phần chết đến bảy, tám. Tướng địch bị giết gần hết, kẻ sống sót cũng bị vua Lương bắt phải tự tử.
Mùa xuân năm 544, sau khi đánh đuổi được quân đô hộ và đánh lùi hai lần phản công xâm lược của nhà Lương, Lý Bí tự xưng hoàng đế tức Lý Nam Đế. Lý Nam Đế lấy tên nước là Vạn Xuân (2), đặt kinh đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội) và cho dựng điện Vạn Thọ (3) làm nơi vua quan họp bàn việc nước. Triều đình gồm có hai ban văn võ. Phạm Tu được cử đứng đầu hàng quan võ, Tinh Thiều đứng đầu quan văn, Triệu Túc làm thái phó (chức quan cao, cột trụ của triều đình), Triệu Quang Phục là tướng trẻ, có tài, cũng được trọng dụng. Lý Nam Đế lại cho dựng một ngôi chùa đặt tên là chùa Khai Quốc (4).
Vì nếu Lý Bí xưng Vương thì Lý Bí chỉ là vua của một nước nhỏ nên Lý Bí xưng Đế để cho nhà Hán thấy rằng nước Nam không phải là một nước nhỏ, Lý Bí muốn nước ta ngang hàng với Trung Quốc, giang sơn bờ cõi nước ta sẽ không bao giờ bị xâm lược.
Vì )Vương chỉ những ông vua ở các nước nhỏ. Đế tuy cũng là vua nhưng nó ở vị trí cao hơn, vua của nước lớn. Lý Bí muốn xây dựng nước ta giàu mạnh như nước phương Bắc nên ông xưng đế, đồng thời sánh ngang với vua phương Bắc luôn nên Lý Bí không xưng Vương mà xưng Đế
Lễ thành lập sau khi nước vạn xuân được thành lập không khí tưng bừng rộn ràng mừng ngày đất nước ta được thành lập. Khoảng khắc tưng bừng này ghi lại một thời chiến tranh và sự đô hộ chính quyền phương Bắc. Và rồi ngày lễ thành lập này đã tôn Lí Bí lên làm hoàng đế . Ngài lấy hiệu là Lí Nam Đế chứng tỏ cho chính quyền đô hộ phương Bắc thấy rằng lúc này nước ta đã có chủ quyền dân tộc, đã có vua, có người cai quản. Cái tên Vạn Xuân mới mĩ miều làm sao? Cái tên ấy cũng chứng tỏ cho bọn đô hộ thấy rằng nước ta sẽ mãi mãi độc lập tượng trưng cho tình yêu hòa bình. Rồi ngày mai đây cho dù có chiến tranh thì nước ta cũng sẽ có những nhân tài kêu gọi lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam thì nhân dân của đất nước này bất kể là già hay trẻ, bất kể là phụ nữ hay đàn ông sẽ cùng làm cho đất nước này mãi mãi tươi đẹp và mãi mãi hòa bình. Hãy cất cao tiếng hát kêu gọi đồng bào đứng dậy đấu tranh vì dân tộc, vì đất nước. “Các vua Hùng đã có công dựng nước bác cháu ta phải giữ lấy nước”. Đó là lời kêu gọi nhân dân Việt Nam đứng dậy khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi bảo vệ dân tộc, bảo vệ đất nước. Việt Nam muôn năm.
Cái này kết hợp văn miêu tả(Ngữ Văn) và lịch sử ak? Làm đoạn văn hay bài văn
Tra google chắc gì đúng!
Trước khi KT hay thi gì gì đó thì lên hỏi cô là chắc ăn 100%
Đảm bảo chính xác khỏi chỉnh!![]()
Người đầu tiên xưng đế khẳng định giang sơn, bờ cõi riêng của nước mình không lệ thuộc vào Trung Quốc là :
A. Trưng Trắc B. Lý Bí C. Triệu Thị Trinh D. Khúc Thừa Dụ
Người đầu tiên xưng đế khẳng định giang sơn, bờ cõi riêng của nước mình không lệ thuộc vào Trung Quốc là :
A.Trưng Trắc B. Lý Bí C. Triệu Thị Trinh D. Khúc Thừa Dụ
Lúc nãy có chút sai sót rồi, phải là B nha!!!
Câu 17. Đầu năm 544, Lý Bí tự xưng là Lý Nam Đế, lập ra nhà nước Vạn Xuân, đóng đô ở ...
A. vùng cửa sông Bạch Đằng. C. vùng cửa sông Tô Lịch.
B. Phong Châu. D. Phong Khê.
Câu 18. Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở ...
A. Hát Môn (Phúc Thọ - Hà Nội).
B. đầm Dạ Trạch (Hưng Yên).
C. núi Nưa (Triệu Sơn – Thanh Hóa).
D. Hoan Châu (thuộc Nghệ An – Hà Tĩnh hiện nay).
LÍ BÍ LÊN NGÔI NGÔI HOÀNG ĐẾ LẤY TÊN LÁ
A,VUA ĐEN
B, DẠ TRẠCH VƯƠNG
C LÝ BẮC ĐẾ
D, LÝ NAM ĐẾ
CÂU2
SAU KHI LÝ BÍ LÊN NGÔI ĐẶT TÊN NƯỚC LÀ GÌ
A, VẠN XUÂN
B,ĐẠI CỔ VIỆT
C ĐẠI VIỆT
D, ĐẠI NGU
?
Bí không xưng vương mà xưng đế (Lý Nam Đế) là một lựa chọn mang ý nghĩa chính trị rất rõ ràng.Thứ nhất, “đế” là danh xưng cao nhất, ngang hàng với hoàng đế phương Bắc. Khi xưng đế, Lý Bí khẳng định nước ta là một quốc gia độc lập, có chủ quyền ngang với các triều đại Trung Hoa, chứ không phải là một chư hầu lệ thuộc.Thứ hai, việc xưng “vương” thường hàm ý vẫn còn nằm trong hệ thống phong kiến do Trung Quốc chi phối (vua do hoàng đế phương Bắc phong). Nếu Lý Bí xưng vương thì dễ bị coi là chưa hoàn toàn thoát khỏi sự lệ thuộc.Thứ ba, xưng đế còn có tác dụng củng cố tinh thần độc lập, tự chủ của nhân dân và khẳng định ý chí dựng nước riêng (nước Vạn Xuân).
Vì vậy, việc Lý Bí xưng đế thể hiện khát vọng độc lập hoàn toàn và sự tự tin về vị thế ngang hàng với các triều đại lớn.
Lý Bí không xưng vương mà lại xưng đế chứng tỏ rằng nước ta có giang sơn, bờ cõi riêng, không còn lệ thuộc và sánh ngang với phương Bắc (Trung Quốc có hoàng đế, Vạn Xuân cũng có hoàng đế) những điều đó nói lên sự trưởng thành của ý thức dân tộc, lòng tự tin vững chắc ở khả năng tự mình vươn lên, phát triển một cách độc lập. Đó là sự ngang nhiên phủ định quyền làm "bá chủ toàn thiên hạ" của hoàng đế phương Bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực, và là sự khẳng định dứt khoát rằng nòi giống Việt phương Nam là một thực thể độc lập, là chủ nhân của đất nước và nhất quyết giành quyền làm chủ vận mệnh của mình.