Đọc văn bản sau.

TRẺ...">

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản sau.

TRẺ CON KHÔNG ĐƯỢC ĂN THỊT CHÓ

(Tóm tắt đoạn trước đó: Câu chuyện kể về một kẻ nghiện rượu bỗng một ngày lên cơn thèm thịt chó. Khi nhìn thấy con chó nhà mình nằm ở bờ rào hắn đã viện đủ lí do để thịt nó. Đám con đói lâu ngày cũng háo hức chờ được ăn. Người vợ đành đi mua chịu thêm gạo, rượu, mầm để về nấu. Thế nhưng khi nấu xong, gã chồng mời bạn bè về nhậu. Dưới bếp mấy mẹ con còm cõi nheo nhóc ngồi chờ.)

Người mẹ rất còm cõi và bốn đứa con gầy ốm, quây quần với nhau trong xó bếp. Trong gia đình này, năm mẹ con thường giống như một bọn dân hèn yếu cùng chung phận con sâu, cái kiến dưới cái ách một ông bạo chúa.

Thấy lũ con đứa nào cũng nhăn nhăn, nhó nhó, người mẹ thương đứt ruột. Thị biết rằng chúng đói. Khi người ta đã đói mà lại ngửi thấy mùi thịt chó, thì bụng càng đói thêm. Thế mà bữa rượu của người bố với ba ông khách cứ kéo dài mãi. Nghĩ mà bực quá! Cái thể không chết được, chứ giá chết được thì thị chỉ thắt cổ đi cho rồi... Thị dỗ con:

− Cố mà nhịn lúc nữa, các con ạ. Đợi trên nhà ăn xong, còn thừa thì ta ăn.

Rồi muốn cho chúng quên đi, thị sổ tóc ra cho chúng xúm vào bắt chấy. Úi chà! Nhiều chấy quá! Chỉ việc rẽ một đám tóc ra là đủ thấy bốn, năm con bò lổm ngổm. Cái Gái và cu Nhớn, cu Nhỡ thi nhau bắt. Chúng cho cu Con mấy con chấy kềnh làm trâu. Mới đầu cái trò chơi ấy cũng hay hay. Nhưng chỉ một lúc là chúng chán. Thắng cu Con ra hiệu đình công trước. Nó lăn vào lòng mẹ, oằn oại vừa hụ hị kêu:

− Đói!... Bu ơi! Đói...

Tức khắc những đứa kia cũng nhớ ra rằng chúng đói. Chúng không bắt chấy cho mẹ nữa. Chúng thở dài. Chúng nuốt bọt nhem nhép. Chúng thừ mặt ra. Chúng nằm ẹp xuống đất và lật áo lên để khoe cái bụng. Bụng đứa nào đứa nấy cũng gần dính lưng. Mắt thị rơm rớm nước. Cũng may, tiếng người bố trên nhà gọi:

− Cái Gái đâu! Dẹp mâm đi, này!

Bốn đứa trẻ cùng nhỏm dậy: mặt chúng đột nhiên tươi tỉnh lại. Gái "vâng" một tiếng thật to và chạy lên. Cu Nhớn, cu Nhỡ ngồi chồm chỗm đợi... Một lát sau, Gái bê mâm xuống. Nó cũng nâng lên ngang mặt như cha lúc nãy. Các em nó đứng cả lên, chực đu lấy cái mâm. Nó càng nâng cao hơn, mồm thét:

− Khoan! Khoan! Kẻo vỡ...

Cu Nhớn thét:

− Thì bỏ xuống!

Cái Gái vênh mặt lên, trêu nó:

− Không bỏ. Không cho chúng mày ăn.

− Có sợ thành tật không?

− Không cho ăn thật đấy.

Cu Nhỡ sốt ruột, khoặm mặt lại, vằng nhau với chị:

− Làm trò mãi! Có bỏ xuống đây không nào?

Gái hạ nhanh mâm xuống đất bảo:

− Này, ăn đi.

Nó ngẩng mặt nhìn các em, cười the thé. Người mẹ xịu ngay xuống. Trong mâm, chỉ còn bát không. Thằng cu Con khóc oà lên. Nó lăn ra, chân đạp như một người giãy chết, tay cào xé mẹ. Người mẹ đỏ mũi lên và mếu xệch đi, rưng rưng khóc. Cái Gái và cu Nhớn, cu Nhỡ cũng khóc theo.

(Nam Cao, Trích Truyện ngắn Nam Cao, NXB Trẻ)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản "Trẻ con không được ăn thịt chó".

Câu 2. Người mẹ đã làm gì để đánh lạc hướng lũ trẻ, giúp chúng tạm quên đi cơn đói?

Câu 3. Hình ảnh "cái bát không" ở cuối đoạn trích có ý nghĩa gì trong việc khắc hoạ tính cách người cha và bi kịch của gia đình này?

Câu 4. Phân tích diễn biến tâm lí của những đứa trẻ từ khi nghe tiếng người bố gọi dọn mâm cho đến khi nhìn thấy cái mâm bát. Diễn biến tâm lí này thể hiện điều gì?

Câu 5. Qua văn bản, em có suy nghĩ gì về tác hại của sự nghèo đói đối với hạnh phúc của một gia đình? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)

31
13 tháng 4

Câu 1:Phương thức biểu đạt chính của văn bản là biểu đạt tự sự kết hợp biểu cảm.

Câu 2:Người mẹ đã làm trò bắt chấy để đánh lạc hướng lũ trẻ, giúp chúng quên đi cơn đói, đồng thời dỗ dành, an ủi chúng để chúng tạm thời quên đi nỗi khổ đói khát.

Câu 3:Hình ảnh "cái bát không" tượng trưng cho sự thiếu thốn, đói khổ, đồng thời phản ánh sự bất lực và bi kịch của gia đình, đặc biệt là sự vô dụng của người cha và nỗi đau của người mẹ và các con trong cảnh nghèo đói cùng cực.

Câu 4:Khi nghe tiếng người bố gọi dọn mâm, các em trẻ từ trạng thái đói khát, mệt mỏi chuyển sang trạng thái vui vẻ, háo hức, rồi đến thất vọng, xót xa khi nhận ra không còn gì để ăn nữa. Diễn biến này thể hiện sự mong đợi, niềm hy vọng mong manh và nỗi đau khi bị thất vọng của những đứa trẻ trong cảnh nghèo đói.

Câu 5:Qua văn bản, em nhận thức rõ tác hại của nghèo đói là gây ra nỗi đau, mất mát, làm suy yếu hạnh phúc gia đình, gây ra những bi kịch về tinh thần và thể chất cho các thành viên. Nghèo đói không chỉ làm giảm đi sự sống còn mà còn đẩy con người vào cảnh khổ đau, tuyệt vọng, ảnh hưởng tiêu cực đến tình cảm và cuộc sống của họ.


13 tháng 4

Ng yêu ơiiiiiiii ! Anh muốn ăn thịt chóoóó

Nếu ăn cơm với rau , anh sẽ đau bụngg !

13 tháng 4

Chó là bn , ko phải tôi ! 🥀

chị em vẫn húp nè


Câu 1. Phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính là Tự sự (kết hợp với biểu cảm và miêu tả). Câu 2. Hành động của người mẹ để đánh lạc hướng lũ trẻ Trong tác phẩm, để đánh lạc hướng lũ trẻ và giúp chúng tạm quên đi cơn đói, người mẹ đã nói dối rằng đang đun nồi cám (thực tế là nồi cám cho lợn hoặc chỉ là nồi nước không) và hứa hẹn về một bữa ăn ngon sắp tới để dỗ dành, trì hoãn sự đòi hỏi của các con. Câu 3. Ý nghĩa hình ảnh "cái bát không" Hình ảnh "cái bát không" ở cuối đoạn trích mang ý nghĩa sâu sắc:
  • Về tính cách người cha: Cho thấy sự bất lực, nghèo khổ đến cùng cực khiến người cha không thể lo nổi bữa ăn cho vợ con, thậm chí phải lừa dối cả những đứa trẻ ngây thơ.
  • Về bi kịch gia đình: Phản ánh hiện thực tàn khốc của cái nghèo. Nó biến bữa ăn mơ ước thành nỗi thất vọng ê chề, đẩy con người vào tình cảnh bế tắc, đau đớn về cả vật chất lẫn tinh thần.
Câu 4. Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ
  • Diễn biến:
    • Khi nghe tiếng gọi dọn mâm: Lũ trẻ háo hức, hy vọng, chờ đợi một bữa ăn thịnh soạn (thịt chó) sau bao ngày nhịn đói.
    • Khi nhìn thấy cái mâm bát: Sự hụt hẫng, thất vọng tràn trề khi nhận ra sự thật phũ phàng (không có thức ăn như mong đợi).
  • Thể hiện điều gì: Điều này thể hiện sự ngây thơ, đáng thương của trẻ em trong hoàn cảnh nghèo đói và sức ám ảnh khủng khiếp của cái đói đối với tâm hồn trẻ thơ.
Câu 5. Suy nghĩ về tác hại của nghèo đói (Đoạn văn 5-7 dòng) Sự nghèo đói là kẻ thù lớn nhất tàn phá hạnh phúc gia đình. Nó không chỉ bào mòn sức khỏe mà còn bóp nghẹt tâm hồn, khiến con người trở nên cáu gắt, tuyệt vọng và mất đi lòng tự trọng. Trong văn bản, cái đói đã biến một bữa ăn sum họp thành một tấn bi kịch đầy nước mắt, nơi cha mẹ phải lừa dối con cái và những đứa trẻ phải chịu đựng nỗi đau tinh thần quá lớn. Nghèo đói làm rạn nứt sự kết nối yêu thương, khiến hạnh phúc trở nên xa xỉ và mong manh hơn bao giờ hết. Do đó, đấu tranh chống nghèo đói cũng chính là bảo vệ giá trị nhân phẩm và hạnh phúc của mỗi con người.

Câu 1:Phương thức biểu đạt chính là Tự Sự

Câu 2: Để giúp các con tạm quên đi cơn đói, người mẹ đã sổ tóc ra cho chúng xúm vào bắt chấy.

Câu 3: Khắc họa tính cách người cha: Cho thấy sự ích kỷ, tàn nhẫn và vô trách nhiệm của người bố. Ông ta thà ăn nhậu hết sạch với bạn bè chứ không hề để lại chút gì cho vợ con đang đói khát.

Bi kịch gia đình: Phản ánh sự khốn cùng và tuyệt vọng. "Cái bát không" là biểu tượng của sự hụt hẫng, đau đớn đến cùng cực của những đứa trẻ và sự bất lực của người mẹ trước hiện thực tàn khốc.

Câu4:

 Diễn biến: Lúc đầu: Háo hức, hy vọng, kiên nhẫn chờ đợi khi nghe tiếng gọi dọn mâm (nghĩ rằng sẽ được ăn phần thừa).

Lúc nhìn thấy cái mâm bát trống không: Sụp đổ hoàn toàn, đau đớn và tuyệt vọng.

Câu 5:

Cái nghèo đói không chỉ là sự thiếu thốn về vật chất mà còn là "lưỡi dao" sắc bén cắt đứt sợi dây hạnh phúc và tình thân trong gia đình. Khi con người bị đẩy vào đường cùng của sự đói khát, những giá trị đạo đức và tình thương dễ dàng bị lung lay, thay thế bằng sự ích kỷ và thú tính (như người cha trong truyện). Nó khiến những đứa trẻ phải lớn lên trong đau đớn, tị hiềm và biến người mẹ trở nên bất lực, tuyệt vọng. Rõ ràng, đói nghèo chính là kẻ thù của nhân phẩm, khiến tổ ấm vốn là nơi dựa dẫm lại trở thành địa ngục của sự chịu đựng





16 tháng 4

Câu 1. 

Phương thức biểu đạt chính: Tự sự. 

Văn bản kể lại câu chuyện về gia đình nghèo, người bố nhậu thịt chó, mấy mẹ con đói khát chờ cơm thừa.


Câu 2.

Người mẹ đã dỗ con: “Cố mà nhịn lúc nữa, các con ạ. Đợi trên nhà ăn xong, còn thừa thì ta ăn”. Rồi xõa tóc ra cho các con xúm vào bắt chấy. Trò chơi ấy khiến lũ trẻ tạm quên đói trong chốc lát.


Câu 3.

- Với người cha: “Cái bát không” tố cáo sự ích kỷ, vô trách nhiệm, chỉ biết ăn nhậu với bạn bè, không nghĩ đến vợ con đang đói lả dưới bếp.

- Với bi kịch gia đình: Nó là đỉnh điểm của nỗi đau và sự tuyệt vọng. Mâm cơm được dọn xuống nhưng không có gì, đẩy sự háo hức của lũ trẻ rơi thẳng xuống vực thẳm, khiến người mẹ xịu xuống, đứa con giãy khóc. Đó là bi kịch của cái đói, cái nghèo tước đi cả quyền được ăn.


Câu 4.

- Diễn biến: Nghe bố gọi dọn mâm, bốn đứa trẻ “nhỏm dậy”, mặt “tươi tỉnh lại”, Gái “vâng một tiếng thật to và chạy lên”, hai đứa em “ngồi chồm chỗm đợi”. Chúng tranh nhau bê mâm, háo hức trêu đùa. Nhưng khi Gái hạ mâm xuống, “trong mâm, chỉ còn bát không”, thằng cu Con “khóc oà lên”, lăn ra giãy, cào mẹ. Mấy đứa khác cũng khóc theo.

- Thể hiện: Diễn biến từ háo hức, hy vọng tột độ đến thất vọng, đau đớn tột cùng cho thấy lũ trẻ đã bị cái đói hành hạ đến kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần. Qua đó tố cáo sự tàn nhẫn của cái nghèo và sự vô tâm của người cha.


Câu 5.

Sự nghèo đói là kẻ thù tàn phá hạnh phúc gia đình. Nó không chỉ khiến con người thiếu ăn, thiếu mặc mà còn bào mòn tình thân, đẩy con người vào bi kịch. Như trong truyện Nam Cao, vì đói mà người mẹ bất lực nhìn con giãy khóc, người cha trở nên ích kỷ, chỉ lo nhậu nhẹt. Cái đói khiến lũ trẻ không được ăn dù bố chúng đang có mâm cỗ. Nghèo đói tước đi tiếng cười, tình thương, đẩy mỗi thành viên vào nỗi đau riêng. Vì vậy, hạnh phúc gia đình chỉ có thể bền vững khi thoát khỏi cái đói cái nghèo.

Câu 1. (0,5 điểm) Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Trẻ con không được ăn thịt chó" là tự sự. Câu 2. (0,5 điểm) Người mẹ sổ tóc ra cho lũ trẻ xúm vào bắt chấy nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của chúng, hi vọng giúp các con quên đi cơn đói cồn cào. Câu 3. (1,0 điểm) Ý nghĩa của hình ảnh "cái bát không" ở cuối văn bản: Về tính cách người cha: Hình ảnh này tố cáo sự ích kỷ, tàn nhẫn và tha hoá đến tận cùng của người cha. Vì miếng ăn và sĩ diện với bạn bè, ông ta đã nhẫn tâm ăn hết sạch đồ ăn, không chừa lại chút gì cho vợ con đang đói khát mòn mỏi chờ đợi dưới bếp. Ông ta hiện lên đúng như một "ông bạo chúa" xấu xa. Về bi kịch gia đình: "Cái bát không" là biểu tượng cho sự nghèo đói cùng cực và sự tuyệt vọng. Nó dập tắt niềm hi vọng nhỏ nhoi của những đứa trẻ. Nó đẩy nỗi đau và sự bất lực của người mẹ lên đến đỉnh điểm. => Bữa ăn đã trở thành một bi kịch đầy nước mắt. Câu 4. (1,0 điểm) – Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ khi nghe tiếng bố gọi dọn mâm đến khi thấy mâm bát: Khi nghe thấy tiếng gọi: Từ trạng thái ủ rũ, mệt lả vì đói thì chúng "đột nhiên tươi tỉnh lại", "nhỏm dậy" trả lời to và ngồi chồm chỗm đợi đầy háo hức, mong chờ. Khi mâm được bê xuống: Chúng vui vẻ, tranh giành, trêu đùa nhau ("Khoan! Kéo vỡ", "Không cho chúng mày ăn"), sự mong chờ và niềm tin được ăn khiến những đứa trẻ trở nên hoạt bát. Khi nhìn thấy cái bát trống không: Những đứa trẻ chuyển sang trạng thái hụt hẫng, thất vọng và đau đớn đến tột độ. Thằng cu Con "khóc oà", "đạp như giãy chết" và những đứa còn lại đều khóc theo. – Ý nghĩa của diễn biến tâm lí: Khắc họa sự tàn khốc của cái đói, nó chi phối hoàn toàn cảm xúc và tinh thần của những đứa trẻ ngây thơ. Làm nổi bật sự tội nghiệp, đáng thương của lũ trẻ và sự tàn nhẫn của thực tại mà chúng phải gánh chịu. Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh trình bày suy nghĩ của bản thân về tác hại của sự nghèo đói với hạnh phúc của một gia đình. Gợi ý: Sự nghèo đói là một trong những nguyên nhân huỷ hoại hạnh phúc gia đình. Nghèo đói không chỉ đày đoạ con người về thể xác mà còn mài mòn nhân phẩm, khiến con người trở nên tha hoá, ích kỷ. Cái đói làm mất đi sự ấm áp, yêu thương, biến ngôi nhà thành nơi của sự chịu đựng và nước mắt. Khi nhu cầu cơ bản không được đáp ứng, tình phụ tử, nghĩa vợ chồng dễ bị rạn nứt, nhường chỗ cho bản năng sinh tồn và sự vô cảm lạnh lùng.

23 tháng 4

Câu 1 :

Phương thức biểu đạt chính là : tự sự

Câu 2 :

Để đánh lạc hướng và giúp các con tạm quên đi cơn đói, người mẹ đã:

-An ủi, dỗ dành các con ráng nhịn, đợi trên nhà ăn xong có thừa thì ăn.—xổ tóc ra cho các con xúm vào bắt chấy . Bà biến việc bắt chấy thành một trò chơi để lũ trẻ mải mê tìm kiếm, đùa nghịch

Câu 3 :

Khắc hoạ tính cách ng cha : Cho thấy sự ích kỷ, tàn nhẫn và vô trách nhiệm đến cực cùng. Ông ta ăn sạch sành sanh, không để lại chút gì cho vợ con dù biết họ đang đói khát.

-bi kich gia đinhf Phản ánh hiện thực phũ phàng và bi thảm của những gia đình nghèo trước Cách mạng tháng Tám. Đó là sự nghèo đói không chỉ về vật chất mà còn làm xói mòn cả tình nghĩa gia đình, nơi người cha trở thành "bạo chúa" ngay trong chính ngôi nhà mình.

Câu 4 :

Diễn biến: Khi nghe tiếng bố gọi dọn mâm: Các con đột nhiên "tươi tỉnh lại", tràn đầy hy vọng và háo hức. Gái "vâng" thật to, mấy đứa em thì ngồi chổm chổm đợi chờ.

Khi nhìn thấy mâm bát (cái bát không): Hy vọng sụp đổ hoàn toàn. Thằng cu Con "khóc oà lên", vật vã như người giãy chết; Gái, Nhớn, Nhỡ cũng khóc theo trong sự thất vọng ê chề.

-Ý nghĩa: Diễn biến này thể hiện sự ngây thơ, đáng thương của trẻ nhỏ. Cơn đói đã đẩy sức chịu đựng của chúng đến giới hạn, khiến một hy vọng nhỏ nhoi cũng trở thành lẽ sống, để rồi khi bị dập tắt, nỗi đau đớn trở nên dữ dội và ám ảnh.

câu 5 :

Cái đói và cái nghèo trong tác phẩm của Nam Cao không chỉ là sự thiếu thốn về vật chất mà còn là một "con quái vật" tàn phá tâm hồn và hạnh phúc gia đình. Khi con người bị đẩy vào đường cùng của sự sinh tồn, những bản năng thấp kém dễ dàng trỗi dậy, làm lu mờ đi tình thương và trách nhiệm. Người cha vì miếng ăn mà trở nên ích kỷ, tàn nhẫn; người mẹ bất lực trong đau khổ; những đứa trẻ thì phải chịu tổn thương cả thể xác lẫn tinh thần. Qua đó, ta thấy nghèo đói chính là kẻ thù của đạo đức và hạnh phúc, nó có thể biến mái ấm thành địa ngục và chia cắt sợi dây tình thân thiêng liêng nhất.






18 tháng 4

​Câu 1: Phương thức biểu đạt chính ​Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Tự sự (kết hợp với miêu tả tâm lí và biểu cảm). ​Câu 2: Cách người mẹ đánh lạc hướng lũ trẻ ​Để đánh lạc hướng lũ trẻ và giúp chúng tạm quên đi cơn đói, người mẹ đã: ​Sổ tóc ra để lũ trẻ xúm vào bắt chấy: Bà biến việc này thành một trò chơi, để các con đùa nghịch (như lấy chấy kềnh làm trâu) nhằm phân tâm khỏi mùi thức ăn đang bay lên từ nhà trên. ​Câu 3: Ý nghĩa hình ảnh "cái bát không" ​Hình ảnh "cái bát không" ở cuối đoạn trích có ý nghĩa sâu sắc: ​Khắc họa tính cách người cha: Cho thấy sự ích kỷ, tàn nhẫn và thiếu trách nhiệm của người bố. Ông ta chỉ biết thỏa mãn thú vui nhậu nhẹt của bản thân và bạn bè mà không hề để tâm đến sự sống còn của vợ con đang đói khát. ​Bi kịch gia đình: Phản ánh sự khốn cùng và tuyệt vọng. "Cái bát không" là biểu tượng của sự trắng tay, sự tước đoạt đến tận cùng miếng ăn của những đứa trẻ tội nghiệp, đẩy bi kịch gia đình lên đến đỉnh điểm của nỗi đau. ​Câu 4: Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ ​Khi nghe tiếng bố gọi dọn mâm: Lũ trẻ đột nhiên "tươi tỉnh lại", tràn đầy hy vọng và háo hức. Chúng tin rằng mình sắp được ăn những gì còn sót lại sau bữa nhậu. ​Khi nhìn thấy cái mâm bát: Hy vọng vụt tắt, thay vào đó là sự hụt hẫng và đau đớn tột cùng. Thằng cu Con "khóc oà lên", "chân đạp như người giãy chết", còn những đứa khác cũng khóc theo trong sự bất lực. ​Ý nghĩa: Diễn biến này thể hiện sự ngây thơ đáng thương của trẻ con trước cái đói và tố cáo thực trạng tàn nhẫn của xã hội cũ, nơi quyền được sống tối thiểu cũng bị tước đoạt bởi sự nghèo đói và sự tha hóa của con người. ​Câu 5: Suy nghĩ về tác hại của nghèo đói (Khoảng 5 – 7 dòng) ​Sự nghèo đói không chỉ bào mòn thể xác mà còn là "nhát dao" chí mạng đâm vào hạnh phúc gia đình. Trong văn bản, cái đói đã biến một người cha thành kẻ ích kỷ, tàn độc và biến những đứa trẻ thành những sinh linh tội nghiệp, tuyệt vọng. Khi con người bị dồn vào đường cùng của sự thiếu thốn, các giá trị đạo đức và tình thân dễ dàng bị rạn nứt, thay vào đó là sự cáu gắt, u uất và những nỗi đau tinh thần kéo dài. Nghèo đói chính là mảnh đất dung dưỡng cho những bi kịch, khiến tổ ấm không còn là nơi dựa dẫm mà trở thành địa ngục của sự chịu đựng. ​Hy vọng những gợi ý này sẽ giúp bạn hoàn thành tốt bài tập của mình!

18 tháng 4

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Tự sự (kể chuyện). Bên cạnh đó, tác giả còn kết hợp nhuần nhuyễn với các yếu tố Miêu tả và Biểu cảm để khắc họa tâm lý nhân vật.

Câu 2: Người mẹ đã làm gì để đánh lạc hướng lũ trẻ?

Để đánh lạc hướng lũ trẻ và giúp chúng tạm quên đi cơn đói cồn cào khi ngửi thấy mùi thịt chó từ nhà trên, người mẹ đã:

Dùng lời nói dỗ dành: Hứa với các con rằng đợi bố và khách ăn xong, còn thừa thì mẹ con sẽ ăn.

Hành động cụ thể: Thị xổ tóc ra cho lũ trẻ xúm vào bắt chấy. Thị biến việc bắt chấy thành một trò chơi, cho đứa con út (cu Con) lấy những con chấy kềnh làm "trâu" để chơi chọi trâu.

Câu 3: Ý nghĩa của hình ảnh "cái bát không"

Hình ảnh "cái bát không" ở cuối đoạn trích mang sức nặng tố cáo và biểu đạt sâu sắc:

Đối với người cha: Khắc họa sự tàn nhẫn, ích kỷ và vô trách nhiệm. Người cha chỉ biết thỏa mãn cơn nghiện rượu và ham muốn cá nhân với bạn bè mà không hề để lại chút gì cho vợ con đang đói khát, dù chính vợ đã phải đi mua chịu gạo, rượu.

Đối với bi kịch gia đình: Là biểu tượng của sự nghèo đói cùng cực và sự đổ vỡ của tình thân. "Cái bát không" dập tắt hy vọng cuối cùng của năm mẹ con, đẩy họ từ sự chờ đợi háo hức xuống vực thẳm của nỗi đau khổ và tủi nhục.

Câu 4: Diễn biến tâm lý của những đứa trẻ

Tâm lý lũ trẻ biến chuyển qua các giai đoạn:

Khi nghe tiếng người bố gọi dọn mâm: Chúng đột nhiên "tươi tỉnh lại", tràn đầy hy vọng và háo hức. Cái Gái "vâng" thật to, chạy lên nhanh nhẹn, các em ngồi chờ đợi trong sự kỳ vọng mãnh liệt.

Khi cái Gái bê mâm xuống: Chúng đứng cả lên, chực đu lấy cái mâm. Cái Gái còn đùa nghịch, trêu chọc các em vì nghĩ rằng trong mâm có đồ ăn ngon.

Khi nhìn thấy mâm chỉ còn bát không: Cảm xúc sụp đổ hoàn toàn. Cu Con khóc oà lên, giãy giụa như người giãy chết; cái Gái và hai người em khác cũng khóc theo trong sự bất lực và tuyệt vọng.

Câu 5: Suy nghĩ về tác hại của sự nghèo đói đối với hạnh phúc gia đình

Sự nghèo đói không chỉ là nỗi đau về thể xác mà còn là "lửa thử vàng" đối với đạo đức và hạnh phúc gia đình. Khi cái đói bủa vây, con người dễ rơi vào trạng thái bế tắc, u uất. Nó có thể biến một người cha thành kẻ ích kỷ, tàn nhẫn và khiến tình cảm gia đình trở nên rạn nứt. Trong văn bản, nghèo đói đã biến bữa ăn – vốn là nơi sum họp – thành một bi kịch của sự chia rẽ và nước mắt. Để có được hạnh phúc bền vững, con người không chỉ cần tình thương mà còn cần những điều kiện vật chất tối thiểu để duy trì phẩm giá và sự gắn kết.



​Câu 1: Phương thức biểu đạt chính ​Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Tự sự (kết hợp với miêu tả và biểu cảm để khắc họa tâm lý nhân vật). ​Câu 2: Người mẹ đã làm gì để đánh lạc hướng lũ trẻ? ​Dựa vào nội dung tác phẩm (phần trước đoạn trích này), để giúp các con tạm quên đi cơn đói trong lúc chờ đợi, người mẹ đã nói dối về một bữa ăn ngon (thịt chó) và cố gắng bày biện, tạo ra không khí chờ đợi để kéo dài thời gian, hy vọng chồng mang đồ ăn về. ​Câu 3: Ý nghĩa hình ảnh "cái bát không" ​Hình ảnh "cái bát không" ở cuối đoạn trích mang ý nghĩa hiện thực và biểu tượng sâu sắc: ​Đối với người cha: Cho thấy sự bất lực, nghèo túng đến cùng cực. Nó phản ánh một thực tế phũ phàng là người cha đã không thể lo nổi một bữa ăn tối thiểu cho vợ con, thậm chí phải ăn tranh phần của các con trong cơn đói khát. ​Bi kịch gia đình: Là biểu tượng của sự trống rỗng, đói khát và tan vỡ. Nó đẩy nỗi đau khổ của người mẹ và sự thất vọng của những đứa trẻ lên đến đỉnh điểm. "Cái bát không" chính là sự hiện thân của cái nghèo đã bóp nghẹt nhân cách và hạnh phúc gia đình. ​Câu 4: Diễn biến tâm lý của những đứa trẻ ​Diễn biến: ​Khi nghe tiếng bố gọi dọn mâm: Lũ trẻ vô cùng hào hứng, hy vọng và tin tưởng tuyệt đối vào một bữa no (thịt chó). Đây là đỉnh cao của sự mong đợi. ​Khi nhìn thấy cái mâm bát: Sự hào hứng biến thành ngỡ ngàng, hụt hẫng và đau đớn tột cùng khi thấy mâm bát trống rỗng hoặc không có thịt như lời hứa. Kết quả là chúng "khóc theo" mẹ. ​Ý nghĩa: Diễn biến này thể hiện sự tổn thương tâm hồn non nớt của trẻ thơ trước thực tế khắc nghiệt. Đồng thời, nó tố cáo sự tàn độc của cái đói đã cướp đi niềm vui nhỏ bé nhất của trẻ em. ​Câu 5: Suy nghĩ về tác hại của sự nghèo đói đối với hạnh phúc gia đình ​Gợi ý đoạn văn (5 – 7 dòng): Sự nghèo đói không chỉ là nỗi đau về vật chất mà còn là "lưỡi dao" sắc bén cắt đứt sợi dây hạnh phúc gia đình. Khi cái đói bủa vây, con người dễ rơi vào trạng thái bế tắc, cáu gắt và đánh mất đi sự kiên nhẫn, yêu thương dành cho nhau, giống như người cha trong tác phẩm. Nó khiến những đứa trẻ phải chịu đựng sự tổn thương tinh thần quá sớm và làm người mẹ phải rơi nước mắt trong bất lực. Nghèo đói bào mòn nhân cách, biến mái ấm thành nơi đầy rẫy sự u uất và những tiếng khóc than. Vì vậy, để bảo vệ hạnh phúc, con người không chỉ cần tình yêu mà còn cần những điều kiện sống cơ bản nhất.

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính**

* **Phương thức biểu đạt chính:** Tự sự (kết hợp với biểu cảm và miêu tả).

Câu 2: Người mẹ làm gì để đánh lạc hướng lũ trẻ?**

Để giúp các con tạm quên đi cơn đói cồn cào trong khi chờ đợi những mẩu thức ăn thừa từ mâm cơm trên nhà, người mẹ đã:

* An ủi, dỗ dành các con hãy cố nhịn thêm một chút.

* **Sổ tóc ra cho các con xúm vào bắt chấy:** Đây là một cách để tạo ra một "trò chơi" tập thể, khiến lũ trẻ bận rộn tay chân và trí óc mà tạm thời quên đi cái bụng rỗng.

Câu 3: Ý nghĩa hình ảnh "cái bát không"**

Hình ảnh "cái bát không" ở cuối đoạn trích mang ý nghĩa sâu sắc:

* **Khắc họa tính cách người cha:** Cho thấy sự ích kỷ, tàn nhẫn và vô trách nhiệm của người cha. Ông ta cùng bạn bè ăn sạch sẽ, không để lại chút gì cho vợ con dù biết họ đang đói khát dưới bếp.

* **Bi kịch gia đình:** Biểu tượng cho sự cùng cực của nghèo đói và sự đổ vỡ của tình thân. Nó biến niềm hy vọng cuối cùng của những đứa trẻ thành nỗi tuyệt vọng đau đớn, đẩy gia đình vào cảnh bế tắc cả về vật chất lẫn tinh thần.

Câu 4: Diễn biến tâm lý của những đứa trẻ**

* **Khi nghe tiếng gọi dọn mâm:** Lũ trẻ đột nhiên "tươi tỉnh lại", tràn đầy hy vọng và háo hức. Chúng ngồi "chồm chồm" đợi chờ, tin rằng sắp được ăn.

* **Khi nhìn thấy cái mâm (chỉ có bát không):

* Cái Gái (đứa lớn) trêu chọc các em để giấu đi sự thật nhưng rồi cũng phải hạ mâm xuống.

* Thằng cu Con khóc òa lên, vật vã như người "giãy chết", tay cào xé mẹ.

* Những đứa còn lại cũng khóc theo trong sự thất vọng tột cùng.

**Ý nghĩa:** Diễn biến này thể hiện **nỗi khao khát mãnh liệt về cái ăn** và **sự tổn thương tâm hồn sâu sắc** của trẻ thơ trước hiện thực nghiệt ngã. Nó tố cáo xã hội cũ đã đẩy con người đến mức mất đi nhân tính.

Câu 5: Suy nghĩ về tác hại của sự nghèo đói đối với hạnh phúc gia đình**

Sự nghèo đói không chỉ bào mòn thể xác mà còn là "kẻ thù" nguy hiểm nhất đối với hạnh phúc gia đình.

* **Thứ nhất:** Nó làm tha hóa nhân cách con người (như người cha trở nên ích kỷ, tàn nhẫn vì miếng ăn).

* **Thứ hai:** Nó triệt tiêu những niềm vui giản dị, thay vào đó là tiếng khóc, sự cau có và tuyệt vọng.

* **Thứ ba:** Khi cái bụng không no, tình cảm giữa vợ chồng, cha con dễ dàng bị rạn nứt, khiến ngôi nhà không còn là tổ ấm mà trở thành một "địa ngục" của sự chịu đựng.

**Kết luận:** Nghèo đói chính là rào cản ngăn chặn sự phát triển của tình thương và sự thấu hiểu trong gia đình.



18 tháng 4

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Phương thức biểu đạt chính là Tự sự (kết hợp với miêu tả và biểu cảm). Câu 2. Người mẹ đã làm gì để đánh lạc hướng lũ trẻ? Người mẹ đã hứa hẹn về một bữa ăn ngon (thịt chó) để lũ trẻ quên đi cơn đói trước mắt. Bà cố gắng tạo ra niềm hy vọng giả tạo để xoa dịu sự mong ngóng và khổ sở của các con trong lúc chờ đợi người cha mang đồ ăn về. Câu 3. Ý nghĩa hình ảnh "cái bát không" ở cuối đoạn trích: Đối với tính cách người cha: Cho thấy sự ích kỷ, tàn nhẫn và tha hóa của người cha. Vì sự thèm khát cá nhân (uống rượu), ông ta đã ăn hết phần thức ăn duy nhất, không để lại chút gì cho vợ con đang chết đói. Đối với bi kịch gia đình: "Cái bát không" là biểu tượng của sự trống rỗng, tuyệt vọng và cùng cực. Nó khẳng định sự tan vỡ của tình thương và sự bế tắc của một gia đình nghèo khổ trước cái đói. Câu 4. Phân tích diễn biến tâm lí lũ trẻ: Từ khi nghe tiếng bố gọi: Lũ trẻ vô cùng háo hức, vui sướng và tràn đầy hy vọng. Tiếng gọi của bố như một phép màu hứa hẹn sự no đủ. Khi nhìn thấy cái mâm bát: Sự hy vọng sụp đổ hoàn toàn, thay thế bằng sự ngỡ ngàng, hụt hẫng và đau đớn đến phát khóc khi thấy mâm bát trống trơn. Điều này thể hiện: Sự ngây thơ, đáng thương của những đứa trẻ và sự tàn khốc của thực tại. Cái đói đã hành hạ cả thể xác lẫn tâm hồn chúng, biến niềm vui nhỏ bé thành nỗi đau thương. Câu 5. Suy nghĩ về tác hại của sự nghèo đói đối với hạnh phúc gia đình (Khoảng 5 – 7 dòng): Sự nghèo đói không chỉ là nỗi đau về vật chất mà còn là "lưỡi dao" sắc bén tàn phá hạnh phúc gia đình. Khi con người rơi vào cảnh bần cùng, cái đói có thể làm mờ đi nhân tính, khiến tình thân trở nên xa xỉ và dễ dàng rạn nứt. Trong văn bản, sự nghèo đói đã biến người cha thành kẻ ích kỷ, tàn nhẫn, khiến người mẹ bất lực trong nước mắt và những đứa trẻ phải chịu tổn thương sâu sắc. Rõ ràng, một gia đình khó có thể hạnh phúc trọn vẹn khi dạ dày còn trống rỗng; nghèo đói chính là mảnh đất dung dưỡng cho những bi kịch nhân sinh đau lòng nhất.

Câu1:Xác định phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính là tự sự Câu 2: Cách người mẹ đánh lạc hướng lũ trẻ Người mẹ trong câu chuyện hiện lên đầy bất lực nhưng cũng đầy yêu thương. Để đánh lạc hướng lũ trẻ khỏi cơn đói, mẹ thường dùng sự dịu dàng, những lời dỗ dành hoặc những câu chuyện nhỏ để thu hút sự chú ý, làm chúng tạm quên đi cái bụng đói. Hành động này cho thấy sự hy sinh thầm lặng của người mẹ, cố gắng duy trì một chút niềm vui mong manh trong hoàn cảnh gia đình quá đỗi khốn cùng. Câu 3: Ý nghĩa hình ảnh "cái bát không" Hình ảnh "cái bát không" ở cuối đoạn trích là một chi tiết nghệ thuật giàu sức gợi, mang ý nghĩa: Biểu tượng của sự nghèo đói tột cùng: Cái bát không có thức ăn là hình ảnh trần trụi nhất của cái đói, sự thiếu thốn vật chất đến mức cùng cực. Bi kịch gia đình: Nó cho thấy sự cay đắng, trớ trêu. Sự kỳ vọng của lũ trẻ vào bữa ăn đã hoàn toàn sụp đổ, nhường chỗ cho sự hụt hẫng và đau đớn. Khắc họa tính cách người cha: Cái bát không còn là cách người cha thực hiện sự "dạy dỗ" hoặc trừng phạt trong cơn bế tắc, cho thấy sự méo mó về nhân cách hoặc sự bất lực đến tàn nhẫn khi người cha không thể lo nổi bữa ăn cho con mình. Câu 4: Phân tích diễn biến tâm lí của những đứa trẻ Diễn biến tâm lí của bọn trẻ trải qua các giai đoạn: Háo hức, mong chờ: Khi nghe tiếng cha gọi dọn mâm, chúng tràn đầy hy vọng về một bữa ăn ấm cúng, đánh bay cơn đói. Ngỡ ngàng, hụt hẫng: Khi nhìn thấy "cái bát không", sự kỳ vọng tan biến, thay vào đó là sự thất vọng tràn trề. Tuyệt vọng và đau đớn: Sự ngây thơ của trẻ con bị va đập mạnh mẽ với thực tại tàn khốc, dẫn đến sự khóc lóc, tủi thân. Ý nghĩa: Qua đó, Nam Cao muốn nhấn mạnh rằng cái nghèo không chỉ bào mòn thể xác mà còn sớm bóp nghẹt sự trong sáng, niềm tin và tuổi thơ của những đứa trẻ. Câu 5: Suy nghĩ về tác hại của nghèo đói đối với hạnh phúc gia đình Sự nghèo đói là kẻ thù đáng sợ nhất của hạnh phúc gia đình. Khi cơm áo gạo tiền trở thành gánh nặng quá lớn, nó dễ dàng bào mòn lòng kiên nhẫn, sự bao dung và tình yêu thương giữa các thành viên. Trong gia đình, nghèo đói làm méo mó các mối quan hệ, khiến cha mẹ trở nên cáu bẳn, tàn nhẫn với con cái, còn trẻ con thì sớm mất đi quyền được vô tư, hồn nhiên. Một mái ấm không thể bền vững nếu bị bủa vây bởi sự thiếu thốn, vì khi cái đói lấn át, tiếng cười dễ dàng bị thay thế bằng tiếng khóc và sự tổn thương, cuối cùng làm rạn nứt những sợi dây tình cảm thiêng liêng nhất.

Câu 1.

Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Trẻ con không được ăn thịt chó" là tự sự.

Câu 2.

Người mẹ sổ tóc ra cho lũ trẻ xúm vào bắt chấy nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của chúng, hi vọng giúp các con quên đi cơn đói cồn cào.

Câu 3.

Ý nghĩa của hình ảnh "cái bát không" ở cuối văn bản:

  • Về tính cách người cha: Hình ảnh này tố cáo sự ích kỷ, tàn nhẫn và tha hóá đến tận cùng của người cha. Vì miếng ăn và sĩ diện với bạn bè, ông ta đã nhẫn tâm ăn hết sạch đồ ăn, không chừa lại chút gì cho vợ con đang đói khát mòn mỏi chờ đợi dưới bếp. Ông ta hiện lên đúng như một "ông bạo chúa" xấu xa.
  • Về bi kịch gia đình: "Cái bát không" là biểu tượng cho sự nghèo đói cùng cực và sự tuyệt

vọng.

+ Nó dập tắt niềm hi vọng nhỏ nhoi của những đứa trẻ.

+ Nó đẩy nỗi đau và sự bất lực của người mẹ lên đến đỉnh điểm.

=> Bữa ăn đã trở thành một bi kịch đầy nước mắt.

Câu 4.

- Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ khi nghe tiếng bố gọi dọn mâm đến khi thấy mâm bát:

+ Khi nghe thấy tiếng gọi: Từ trạng thái ủ rũ, mệt lả vì đói thì chúng "đột nhiên tươi tỉnh lại",

"nhỏm dậy" trả lời to và ngồi chồm chỗm đợi đầy háo hức, mong chờ.

+ Khi mâm được bê xuống: Chúng vui vẻ, tranh giành, trêu đùa nhau ("Khoan! Kẻo vỡ", "Không cho chúng mày ăn"), sự mong chờ và niềm tin được ăn khiến những đứa trẻ trở nên hoạt bát.

+ Khi nhìn thấy cái bát trống không: Những đứa trẻ chuyển sang trạng thái hụt hẫng, thất vọng và đau đớn đến tột độ. Thằng cu Con

"khóc oà", "đạp như giãy chết" và những đứa còn lại đều khóc theo.

- Ý nghĩa của diễn biến tâm lí:

+ Khắc họạ sự tàn khốc của cái đói, nó chi phối hoàn toàn cảm xúc và tinh thần của những đứa tré ngây thơ.

+ Làm nối bật sự tội nghiệp, đáng thương của lũ trẻ và sự tàn nhẫn của thực tại mà chúng phái gánh chịu.

Câu 5.

  • Sự nghèo đói là một trong những nguyên nhân huỷ hoại hạnh phúc gia đình.
  • Nghèo đói không chỉ đày đoạ con người về thể xác mà còn mài mòn nhân phẩm, khiến con người trở nên tha hóá, ích kỷ.
  • Cái đói làm mất đi sự ấm áp, yêu thương, biến ngôi nhà thành nơi của sự chịu đựng và nước mắt. Khi nhu cầu cơ bản không được đáp ứng, tình phụ tử, nghĩa vợ chồng dễ bị rạn nứt, nhường chỗ cho bản năng sinh tồn và sự vô cảm lạnh lùng.

Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính: tự sự (kết hợp với miêu tả và biểu cảm).

Câu 2:
Người mẹ đã nói dối, tìm cách đánh lạc hướng, dỗ dành con bằng cách hứa hẹn, khiến lũ trẻ tưởng có cái ăn ngon (thịt chó), để chúng tạm quên cơn đói.

Câu 3:
Hình ảnh “cái bát không” có ý nghĩa:

  • Tố cáo cái đói, sự nghèo khổ đến cùng cực của gia đình.
  • Thể hiện sự bất lực, đau đớn của người cha mẹ khi không lo nổi bữa ăn cho con.
  • Làm nổi bật bi kịch gia đình: hi vọng → thất vọng → đau khổ.

Câu 4:
Diễn biến tâm lí của lũ trẻ:

  • Khi nghe gọi dọn mâm: háo hức, mong chờ vì nghĩ sẽ được ăn ngon.
  • Khi nhìn thấy mâm chỉ có “bát không”: ngỡ ngàng → thất vọng → đau đớn → bật khóc.
    → Diễn biến này thể hiện cái đói dày vò, sự tổn thương tâm hồn trẻ thơ và bi kịch nghèo đói quá khắc nghiệt.

Câu 5
Sự nghèo đói không chỉ khiến con người thiếu thốn vật chất mà còn làm tổn thương sâu sắc đến đời sống tinh thần. Trong gia đình, cái đói có thể phá vỡ niềm vui, gây nên những giọt nước mắt và sự tuyệt vọng. Cha mẹ trở nên bất lực, con cái chịu nhiều thiệt thòi và đau đớn. Hạnh phúc gia đình vì thế bị đe dọa, thậm chí tan vỡ. Qua văn bản, ta càng thấu hiểu và cảm thông hơn với những số phận nghèo khổ, đồng thời biết trân trọng cuộc sống đầy đủ mình đang có.


19 tháng 4

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: tự sự (kết hợp miêu tả và biểu cảm). Câu 2: Người mẹ đã bứt tóc rối đưa cho con chơi “bắt chấy” để chúng tạm quên cơn đói. Câu 3: Hình ảnh “cái bát không”: Khắc họa rõ sự ích kỉ, tàn nhẫn của người cha (ăn hết phần, không nghĩ đến vợ con). Thể hiện bi kịch nghèo đói, cùng cực của gia đình: trẻ con đói khát, mong chờ nhưng cuối cùng chẳng có gì ăn. → Gợi sự xót xa, đau đớn. Câu 4: Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ: Khi nghe gọi dọn mâm: mừng rỡ, hi vọng, mặt tươi tỉnh. Khi chờ đợi: háo hức, mong ăn. Khi thấy mâm chỉ còn “cái bát không”: thất vọng, đau đớn, tủi thân, bật khóc. → Thể hiện nỗi khổ cực của trẻ em trong cảnh đói nghèo, đồng thời tố cáo sự vô tâm của người cha. Câu 5: Sự nghèo đói không chỉ khiến con người thiếu thốn vật chất mà còn làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Trong câu chuyện, cái đói khiến những đứa trẻ phải chịu cảnh khổ cực, luôn sống trong mong chờ và thất vọng. Người mẹ thì bất lực, đau đớn nhìn con đói khát. Đáng buồn hơn, nó còn làm tha hóa con người, như người cha trở nên ích kỉ, chỉ nghĩ đến bản thân. Qua đó, ta thấy cần phải biết trân trọng cuộc sống đủ đầy và quan tâm, yêu thương những người xung quanh, nhất là trong hoàn cảnh khó khăn.

​Câu 1: Phương thức biểu đạt chính ​Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Tự sự (kết hợp với miêu tả và biểu cảm để khắc họa tâm lý nhân vật). ​Câu 2: Người mẹ đã làm gì để đánh lạc hướng lũ trẻ? ​Dựa vào nội dung tác phẩm (phần trước đoạn trích này), để giúp các con tạm quên đi cơn đói trong lúc chờ đợi, người mẹ đã nói dối về một bữa ăn ngon (thịt chó) và cố gắng bày biện, tạo ra không khí chờ đợi để kéo dài thời gian, hy vọng chồng mang đồ ăn về. ​Câu 3: Ý nghĩa hình ảnh "cái bát không" ​Hình ảnh "cái bát không" ở cuối đoạn trích mang ý nghĩa hiện thực và biểu tượng sâu sắc: ​Đối với người cha: Cho thấy sự bất lực, nghèo túng đến cùng cực. Nó phản ánh một thực tế phũ phàng là người cha đã không thể lo nổi một bữa ăn tối thiểu cho vợ con, thậm chí phải ăn tranh phần của các con trong cơn đói khát. ​Bi kịch gia đình: Là biểu tượng của sự trống rỗng, đói khát và tan vỡ. Nó đẩy nỗi đau khổ của người mẹ và sự thất vọng của những đứa trẻ lên đến đỉnh điểm. "Cái bát không" chính là sự hiện thân của cái nghèo đã bóp nghẹt nhân cách và hạnh phúc gia đình. ​Câu 4: Diễn biến tâm lý của những đứa trẻ ​Diễn biến: ​Khi nghe tiếng bố gọi dọn mâm: Lũ trẻ vô cùng hào hứng, hy vọng và tin tưởng tuyệt đối vào một bữa no (thịt chó). Đây là đỉnh cao của sự mong đợi. ​Khi nhìn thấy cái mâm bát: Sự hào hứng biến thành ngỡ ngàng, hụt hẫng và đau đớn tột cùng khi thấy mâm bát trống rỗng hoặc không có thịt như lời hứa. Kết quả là chúng "khóc theo" mẹ. ​Ý nghĩa: Diễn biến này thể hiện sự tổn thương tâm hồn non nớt của trẻ thơ trước thực tế khắc nghiệt. Đồng thời, nó tố cáo sự tàn độc của cái đói đã cướp đi niềm vui nhỏ bé nhất của trẻ em. ​Câu 5: Suy nghĩ về tác hại của sự nghèo đói đối với hạnh phúc gia đình ​Gợi ý đoạn văn (5 – 7 dòng): Sự nghèo đói không chỉ là nỗi đau về vật chất mà còn là "lưỡi dao" sắc bén cắt đứt sợi dây hạnh phúc gia đình. Khi cái đói bủa vây, con người dễ rơi vào trạng thái bế tắc, cáu gắt và đánh mất đi sự kiên nhẫn, yêu thương dành cho nhau, giống như người cha trong tác phẩm. Nó khiến những đứa trẻ phải chịu đựng sự tổn thương tinh thần quá sớm và làm người mẹ phải rơi nước mắt trong bất lực. Nghèo đói bào mòn nhân cách, biến mái ấm thành nơi đầy rẫy sự u uất và những tiếng khóc than. Vì vậy, để bảo vệ hạnh phúc, con người không chỉ cần tình yêu mà còn cần những điều kiện sống cơ bản nhất.

19 tháng 4

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Trẻ con không được ăn thịt chó" là tự sự. Câu 2. Người mẹ sờ tóc ra cho lũ trẻ xúm vào bát cháy nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của chúng, hi vọng giúp các con quên đi cơn đói cồn cào. Câu 3. Ý nghĩa của hình ảnh "cái bát không" ở cuối văn bản: – Về tính cách người cha: Hình ảnh này tố cáo sự ích kỷ, tàn nhẫn và tha hoá đến tận cùng của người cha. Vì miếng ăn và sĩ diện với bạn bè, ông ta đã nhẫn tâm ăn hết sạch đồ ăn, không chừa lại chút gì cho vợ con đang đói khát mòn mỏi chờ đợi dưới bếp. Ông ta hiện lên đúng như một "ông bạo chúa" xấu xa. – Về bi kịch gia đình: "Cái bát không" là biểu tượng cho sự nghèo đói cùng cực và sự tuyệt vọng. Nó dập tắt niềm hi vọng nhỏ nhoi của những đứa trẻ. Nó đẩy nỗi đau và sự bất lực của người mẹ lên đến đỉnh điểm. => Bữa ăn đã trở thành một bi kịch đầy nước mắt.

Câu 4. – Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ khi nghe tiếng bố gọi dọn mâm đến khi thấy mâm bát: Khi nghe thấy tiếng gọi: Từ trạng thái ủ rũ, mệt lả vì đói thì chúng "đột nhiên tươi tỉnh lại", "nhổm dậy" trả lời to và ngồi chồm chồm đợi đầy háo hức, mong chờ. Khi mâm được bê xuống: Chúng vui vẻ, tranh giành, trêu đùa nhau ("Khoan! Kẻo vỡ", "Không cho chúng mày ăn"), sự mong chờ và niềm tin được ăn khiến những đứa trẻ trở nên hoạt bát. Khi nhìn thấy cái bát trống không: Những đứa trẻ chuyển sang trạng thái hụt hẫng, thất vọng và đau đớn đến tột độ. Thằng cu Con "khóc oà", "đạp như giãy chết" và những đứa còn lại đều khóc theo. – Ý nghĩa của diễn biến tâm lí: Khắc hoạ sự tàn khốc của cái đói, nó chi phối hoàn toàn cảm xúc và tinh thần của những đứa trẻ ngây thơ. Làm nổi bật sự tội nghiệp, đáng thương của lũ trẻ và sự tàn nhẫn của thực tại mà chúng phải gánh chịu. Câu 5. – Nghèo đói khiến cuộc sống thiếu thốn vật chất, dễ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột trong gia đình. – Ảnh hưởng đến tinh thần: lo âu, căng thẳng, mất niềm tin vào cuộc sống. – Trẻ em không được chăm sóc, học hành đầy đủ, dễ bị tổn thương về tâm lí. – Làm suy giảm tình cảm gia đình, thậm chí có thể dẫn đến những hành vi tiêu cực. – Cần có sự nỗ lực vươn lên, sự yêu thương, chia sẻ giữa các thành viên và sự hỗ trợ từ xã hội để vượt qua nghèo đói.

– Sự nghèo đói là một trong những nguyên nhân huỷ hoại hạnh phúc gia đình. – Nghèo đói không chỉ dày đoạ con người về thể xác mà còn mài mòn nhân phẩm, khiến con người trở nên tha hoá, ích kỷ. – Cái đói làm mất đi sự ấm áp, yêu thương, biến ngôi nhà thành nơi của sự chịu đựng và nước mắt. Khi nhu cầu cơ bản không được đáp ứng, tình phụ tử, nghĩa vợ chồng dễ bị rạn nứt, nhường chỗ cho bản năng sinh tồn và sự vô cảm lạnh lùng.

20 tháng 4

Câu 1. (0,5 điểm)

Phương thức biếu đạt chính của văn bản

"Trẻ con không được ăn thịt chó" là tự sự.

Câu 2. (0,5 điểm)

Người mẹ sổ tóc ra cho lũ trẻ xúm vào bắt chấy nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của chúng, hi vọng giúp các con quên đi cơn đói côn cào.

Câu 3. (1,0 điễm)

Ý nghĩa của hình ảnh "cái bát không" ở cuối văn bản:

- Về tính cách người cha: Hình ảnh này tố cáo sự ích kỷ, tàn nhẫn và tha hóá đến tận cùng của người cha. Vì miếng ăn và sĩ diện với bạn bè, ông ta đã nhẫn tâm ăn hết sạch đồ ăn, không chừa lại chút gì cho vợ con đang đói khát mòn mỏi chờ đợi dưới bếp.

Ông ta hiện lên đúng như một "ông bạo chúa" xấu xa.

- Về bi kịch gia đình: "Cái bát không" là biểu tượng cho sự nghèo đói cùng cực và sự tuyệt vọng.

+ Nó dập tắt niềm hi vọng nhỏ nhoi của những đứa trẻ.

+ Nó đấy nồi đau và sự bất lực của người mẹ lên đến đỉnh điểm

.=>> Bữa ăn đã trở thành một bi kịch đầy nước mắt.

Câu 4. (1,0 điểm)

- Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ khi nghe tiếng bố gọi dọn mâm đến khi thấy mâm bát:

+ Khi nghe thấy tiếng gọi: Từ trạng thái ủ rũ, mệt lả vì đói thì chúng "đột nhiên tươi tỉnh lại", "nhỏm dậy" trả lời to và ngồi chồm chỗm đợi đầy háo hức, mong chờ.

+ Khi mâm được bê xuống: Chúng vui vẻ, tranh giành, trêu đùa nhau ("Khoan! Kéo vỡ", "Không cho chúng mày ăn"), sự mong chờ và niềm tin được ăn khiến những đứa trẻ trở nên hoạt bát.

+ Khi nhìn thấy cái bát trống không: Những đứa trẻ chuyển sang trạng thái hụt hãng, thất vọng và đau đớn đến tột độ. Thắng cu Con "khóc oà", "đạp như giãy chết" và những đứa còn lại đều khóc theo.

- Ý nghĩa của diễn biến tâm lí:

+ Khắc họạ sự tàn khốc của cái đói, nó chi phối hoàn toàn cảm xúc và tinh thần của những đứa trẻ ngây thơ.

+ Làm nổi bật sự tội nghiệp, đáng thương của lũ trẻ và sự tàn nhẫn của thực tại mà chúng phải gánh chịu.

Câu 5 : Gia đình là "tổ ấm" của yêu thương, nhưng sự nghèo đói lại là "cơn sóng thần" có thể công phá nền móng hạnh phúc ấy từ bên trong. Khi cái đói đi vào cửa chính, những rung cảm tinh tế của tình yêu thường buộc phải lẻn ra cửa sổ bởi áp lực sinh tồn quá nghiệt ngã. Nghèo đói không chỉ là sự thiếu hụt vật chất, mà còn là thứ axit ăn mòn nhân vị, khiến con người dễ rơi vào trạng thái tha hóa và ích kỷ khi phải ưu tiên bản năng sinh tồn lên trên lòng tự trọng. Dưới mái nhà túng quẫn, những lời vỗ về dần bị thay thế bởi tiếng thở dài và sự cau gắt, biến nơi trú ẩn bình yên thành chốn của sự chịu đựng và nước mắt. Những giá trị thiêng liêng như tình phụ tử, nghĩa vợ chồng dễ dàng rạn nứt khi con người không còn đủ không gian tâm trí để bao dung cho nhau giữa vòng xoáy cơm áo. Đáng sợ nhất, cái nghèo tước đi quyền ước mơ của trẻ thơ, giam cầm thế hệ tương lai trong một vòng lặp tăm tối và bế tắc. Vì vậy, đấu tranh xóa nghèo không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà là cuộc hành trình nhân văn để bảo vệ phẩm giá và giữ gìn ngọn lửa hạnh phúc thiêng liêng dưới mỗi mái nhà.


Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản “Trẻ con không được ăn thịt chó” là tự sự. Câu 2: Người mẹ sổ tóc ra cho các con bắt chấy nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của chúng, giúp các con tạm quên đi cơn đói. Câu 3: Hình ảnh “cái bát không” ở cuối văn bản có ý nghĩa rất sâu sắc. Trước hết, nó thể hiện sự ích kỉ và tàn nhẫn của người cha, vì sĩ diện và miếng ăn mà không nghĩ đến vợ con đang đói. Đồng thời, “cái bát không” còn là biểu tượng cho sự nghèo đói cùng cực của gia đình. Hình ảnh này làm nổi bật bi kịch đau đớn khi niềm hi vọng của lũ trẻ bị dập tắt và người mẹ rơi vào tuyệt vọng. Câu 4: Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ được thể hiện rõ ràng. Khi nghe tiếng bố gọi, chúng từ mệt mỏi vì đói trở nên vui mừng, háo hức chờ ăn. Khi mâm được bê xuống, chúng tranh nhau, cười đùa vì tin rằng sắp được ăn. Nhưng khi thấy cái bát trống không, tất cả chuyển sang thất vọng, đau đớn, có đứa bật khóc. Diễn biến này cho thấy cái đói đã chi phối mạnh mẽ cảm xúc của trẻ nhỏ, đồng thời làm nổi bật sự đáng thương của chúng. Câu 5: Theo em, nghèo đói ảnh hưởng rất lớn đến hạnh phúc gia đình. Nó không chỉ khiến con người khổ về vật chất mà còn làm tình cảm giữa các thành viên dễ bị rạn nứt. Khi cái ăn không đủ, con người dễ trở nên ích kỉ, vô tâm và làm tổn thương nhau. Gia đình vì thế không còn ấm áp mà trở nên nặng nề, đầy lo toan. Vì vậy, mỗi người cần cố gắng học tập và làm việc để xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.

21 tháng 4

Câu 1. (0,5 điểm) Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Trẻ con không được ăn thịt chó" là tự sự. Câu 2. (0,5 điểm) Người mẹ sờ tóc ra cho lũ trẻ xúm vào bát cháy nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của chúng, hi vọng giúp các con quên đi cơn đói cồn cào. Câu 3. (1,0 điểm) Ý nghĩa của hình ảnh "cái bát không" ở cuối văn bản: – Về tính cách người cha: Hình ảnh này tố cáo sự ích kỷ, tàn nhẫn và tha hoá đến tận cùng của người cha. Vì miếng ăn và sĩ diện với bạn bè, ông ta đã nhẫn tâm ăn hết sạch đồ ăn, không chừa lại chút gì cho vợ con đang đói khát mòn mỏi chờ đợi dưới bếp. Ông ta hiện lên đúng như một "ông bạo chúa" xấu xa. – Về bi kịch gia đình: "Cái bát không" là biểu tượng cho sự nghèo đói cùng cực và sự tuyệt vọng. Nó dập tắt niềm hi vọng nhỏ nhoi của những đứa trẻ. Nó đẩy nỗi đau và sự bất lực của người mẹ lên đến đỉnh điểm. => Bữa ăn đã trở thành một bi kịch đầy nước mắt.

– Cần có sự nỗ lực vươn lên, sự yêu thương, chia sẻ giữa các thành viên và sự hỗ trợ từ xã hội để vượt qua nghèo đói.

Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh trình bày suy nghĩ của bản thân về tác hại của sự nghèo đói với hạnh phúc của một gia đình. Gợi ý: – Sự nghèo đói là một trong những nguyên nhân huỷ hoại hạnh phúc gia đình. – Nghèo đói không chỉ dày đoạ con người về thể xác mà còn mài mòn nhân phẩm, khiến con người trở nên tha hoá, ích kỷ. – Cái đói làm mất đi sự ấm áp, yêu thương, biến ngôi nhà thành nơi của sự chịu đựng và nước mắt. Khi nhu cầu cơ bản không được đáp ứng, tình phụ tử, nghĩa vợ chồng dễ bị rạn nứt, nhường chỗ cho bản năng sinh tồn và sự vô cảm lạnh lùng.

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự

Câu 2: Việc người mẹ làm để đánh lạc hướng lũ trẻ Để đánh lạc hướng cơn đói của lũ trẻ, người mẹ đã sổ tóc ra cho chúng xúm vào bắt chấy. Hành động này thể hiện tình thương bao la và sự bất lực đắng cay của người mẹ khi không có gì cho con ăn, chỉ có thể tìm cách đánh lạc hướng bằng những trò chơi đơn giản.

Câu 3: Ý nghĩa "cái bát không cái bát không" ở cuối đoạn trích có ý nghĩa vô cùng sâu sắc: Đối với người cha: Khắc họa sự vô tâm, ích kỷ và thiếu trách nhiệm. Người cha chỉ biết thỏa mãn thú vui cá nhân (nhậu nhẹt) mà quên đi sự đói khổ, nhọc nhằn của vợ con. Đối với bi kịch gia đình: Đây là đỉnh điểm của sự nghèo đói và túng quẫn. Nó làm tan vỡ niềm hy vọng nhỏ nhoi của những đứa trẻ, đẩy bi kịch lên cao trào, phơi bày sự thiếu hụt cả về vật chất lẫn tình thương trong gia đình này.

Câu 4: Diễn biến tâm lý của những đứa trẻ Diễn biến tâm lý của lũ trẻ đi từ hy vọng đến hụt hẫng tột cùng: Khi nghe tiếng người bố gọi dọn mâm: Chúng bỗng nhiên "tươi tỉnh lại", vui mừng và tràn đầy hy vọng sẽ được ăn no. Sự hào hứng thể hiện qua hành động chạy lên, nâng mâm, tranh giành nhau vì quá đói. Khi nhìn thấy cái bát không: Tâm lý chuyển sang hụt hẫng, đau đớn và phẫn uất. Đỉnh điểm là sự khóc oà, lăn lộn, gào thét của thằng cu Con và tiếng khóc theo của các anh chị. Điều này thể hiện: Nỗi ám ảnh kinh hoàng của cái đói. Nó bào mòn không chỉ thể xác mà còn tác động mạnh mẽ đến tâm hồn thơ ngây của trẻ nhỏ, khiến chúng phải đối diện với thực tế tàn khốc của sự nghèo khổ.

Câu 5: Tác hại của sự nghèo đói đối với hạnh phúc gia đình Sự nghèo đói là "kẻ thù" đáng sợ nhất phá hủy hạnh phúc gia đình. Nó không chỉ tước đi những nhu cầu cơ bản nhất (ăn, mặc) khiến thể xác con người héo mòn, mà còn bào mòn nhân tính, làm rạn nứt tình cảm vợ chồng, cha con. Trong cái đói, người ta dễ trở nên vô tâm, ích kỷ, dẫn đến những mâu thuẫn gia đình gay gắt. Nghèo đói không chỉ gây ra nỗi khổ về vật chất mà còn gieo rắc sự tổn thương tâm hồn, khiến hạnh phúc trở nên xa xỉ và mong manh.

23 tháng 4

Câu 1.

Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Trẻ con không được ăn thịt chó" là tự sự.

Câu 2.

Người mẹ sổ tóc ra cho lũ trẻ xúm vào bắt chấy nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của chúng, hi vọng giúp các con quên đi cơn đói cồn cào.

Câu 3.

Ý nghĩa của hình ảnh "cái bát không" ở cuối văn bản:

Về tính cách người cha: Hình ảnh này tố cáo sự ích kỷ, tàn nhẫn và tha hóá đến tận cùng của người cha. Vì miếng ăn và sĩ diện với bạn bè, ông ta đã nhẫn tâm ăn hết sạch đồ ăn, không chừa lại chút gì cho vợ con đang đói khát mòn mỏi chờ đợi dưới bếp. Ông ta hiện lên đúng như một "ông bạo chúa" xấu xa.

Về bi kịch gia đình: "Cái bát không" là biểu tượng cho sự nghèo đói cùng cực và sự tuyệt

vọng.

+ Nó dập tắt niềm hi vọng nhỏ nhoi của những đứa trẻ.

+ Nó đẩy nỗi đau và sự bất lực của người mẹ lên đến đỉnh điểm.

=> Bữa ăn đã trở thành một bi kịch đầy nước mắt

câu 4

- Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ khi nghe tiếng bố gọi dọn mâm đến khi thấy mâm bát:

+ Khi nghe thấy tiếng gọi: Từ trạng thái ủ rũ, mệt lả vì đói thì chúng "đột nhiên tươi tỉnh lại",

"nhỏm dậy" trả lời to và ngồi chồm chỗm đợi đầy háo hức, mong chờ.

+ Khi mâm được bê xuống: Chúng vui vẻ, tranh giành, trêu đùa nhau ("Khoan! Kẻo vỡ", "Không cho chúng mày ăn"), sự mong chờ và niềm tin được ăn khiến những đứa trẻ trở nên hoạt bát.

+ Khi nhìn thấy cái bát trống không: Những đứa trẻ chuyển sang trạng thái hụt hẫng, thất vọng và đau đớn đến tột độ. Thằng cu Con

"khóc oà",

', "đạp như giãy chết" và những đứa

còn lại đều khóc theo.

- Ý nghĩa của diễn biến tâm lí:

+ Khắc họạ sự tàn khốc của cái đói, nó chi phối hoàn toàn cảm xúc và tinh thần của những đưa tré ngây thơ.

+ Làm nối bật sự tội nghiệp, đáng thương của lũ trẻ và sự tàn nhẫn của thực tại mà chúng phái gánh chịu.

Câu 5.

Sự nghèo đói là một trong những nguyên nhân huy hoại hạnh phúc gia đình.

Nghèo đói không chỉ đày đoạ con người về thể xác mà còn mài mòn nhân phẩm, khiến con người trở nên tha hóá, ích kỷ.

Cái đói làm mất đi sự ấm áp, yêu thương, biến ngôi nhà thành nơi của sự chịu đựng và nước mắt. Khi nhu cầu cơ bản không được đáp ứng, tình phụ tử, nghĩa vợ chồng dễ bị rạn nứt, nhường chỗ cho bản năng sinh tồn và sự vô cảm lạnh lùng.


Câu 1: Phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Tự sự(kể lại các sự việc, diễn biến câu chuyện về gia đình anh cu Lộ). Câu 2: Hành động của người mẹ để đánh lạc hướng lũ trẻ Để giúp các con tạm quên đi cơn đói và đánh lạc hướng chúng khỏi mâm thịt chó mà người cha đang ăn một mình, người mẹ đã:
  • Dùng lời lẽ dỗ dành, hứa hẹn: Bà bảo chúng đi ngủ sớm để sáng mai dậy sớm sẽ có cái ăn, hoặc hứa hẹn về một tương lai gần sẽ được ăn no.
  • Tìm cách đưa lũ trẻ ra chỗ khác: Bà cố gắng tách chúng khỏi không gian nơi người bố đang ăn để giảm bớt sự thèm khát và nỗi đau khổ của trẻ thơ.
Câu 3: Ý nghĩa hình ảnh "cái bát không" Hình ảnh "cái bát không" ở cuối đoạn trích mang giá trị biểu cảm sâu sắc:
  • Khắc họa tính cách người cha: Cho thấy sự tha hóa, ích kỷ đến tàn nhẫn của người bố (anh cu Lộ). Trong cơn đói và sự bần cùng, bản năng thấp hèn đã lấn át tình phụ tử, khiến ông ăn hết cả phần của vợ con, để lại những cái bát trống rỗng.
  • Bi kịch gia đình: Phản ánh sự khốn cùng, bế tắc của gia đình nông dân trước Cách mạng. Cái bát không không chỉ thiếu thốn thức ăn mà còn tượng trưng cho sự đổ vỡ của tình thân và niềm hy vọng.
Câu 4: Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ
  • Diễn biến:
    • Lúc nghe tiếng bố gọi dọn mâm: Chúng khấp khởi mừng thầm, hy vọng, háo hức vì tưởng rằng sẽ được ăn một bữa ngon (thịt chó).
    • Khi nhìn thấy mâm bát: Sự mừng rỡ biến thành hụt hẫng, thất vọng tràn trề và đau đớn khi thấy mâm bát sạch trơn, không còn gì cho mình.
  • Ý nghĩa: Diễn biến này thể hiện sự ngây thơ, đáng thương của trẻ con trong cảnh nghèo đói. Đồng thời, nó tố cáo thực trạng xã hội đẩy con người vào cảnh khốn cùng, làm xói mòn nhân cách và tước đoạt niềm vui nhỏ bé nhất của trẻ thơ.
Câu 5: Suy nghĩ về tác hại của sự nghèo đói (5 – 7 dòng) Sự nghèo đói không chỉ gây ra nỗi đau về thể xác mà còn là kẻ thù tàn độc phá hủy hạnh phúc gia đình. Nó đẩy con người vào bước đường cùng, khiến những tình cảm thiêng liêng như tình phụ tử, tình vợ chồng bị rạn nứt bởi những nhu cầu bản năng tối thiểu. Khi cái bụng đói hành hạ, lòng tự trọng và sự yêu thương dễ dàng bị thay thế bằng sự ích kỷ, cục cằn. Những đứa trẻ lớn lên trong sự thiếu thốn cả vật chất lẫn hơi ấm tình thương sẽ chịu những tổn thương tâm lý sâu sắc. Vì vậy, nghèo đói chính là bi kịch lớn nhất ngăn cản con người sống đúng nghĩa với sự tử tế và hạnh phúc.

câu1:

ptbđ chính là tự sự

câu 2:

Để đánh lạc hướng lũ trẻ và giúp chúng tạm quên đi cơn đói, người mẹ đã:

-Vỗ về an ủi bằng những lời hứa hẹn

-khóc cùng con: Sự bất lực và đau xót của người mẹ thể hiện qua tiếng khóc "đỏ mũi lên và mếu xệch đi, rưng rưng khóc"như một cách chia sẻ nỗi đau với các con

câu 3:

- Tính cách người cha:khắc họa sự tàn nhẫn, ích kỷ và tha hóa vì cái đói. Ông ta lừa dối những đứa con đang khát khao được ăn để độc chiếm miếng ăn duy nhất Tượng trưng cho sự trống rỗng, tuyệt vọng và tan vỡ của hạnh phúc gia đình. Nó cho thấy cái nghèo đã đẩy con người vào đường cùng, làm xói mòn cả tình phụ tử thiêng liêng.

-Đối với bi kịch gia đình : tượng trưng cho sự trống rỗng, tuyệt vọng ,tan vỡ của một gia đình .Nó cho thấy cái nghèo đã đẩy con người vào đường cùng ,làm tan vỡ cả một hạnh phúc gia đình

Câu 4:

-khi nghe tiếng bố gọi don mâm: hào hứng, hy vọng và tin tưởng rằng sắp được ăn một bữa ngon (thịt chó). Đây là niềm vui hiếm hoi trong cuộc sống nghèo khổ.

- Khi nhìn thấy mâm bát: sự thật phũ phàng (mâm bát trống không hoặc không còn thức ăn) khiến chúng rơi vào trạng thái sốc, hụt hẫng và đau đớn.

-Thể hiện : tâm lí này phản ánh sự ngây thơ nhưng tội nghiệp của trẻ em trong cảnh nghèo đói; đồng thời tố cáo hiện thực xã hội tàn nhẫn đã tước đi quyền được no ấm tối thiểu của con người

Câu5:

Sự nghèo đói ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình theo nhiều cách. Đầu tiên phải kể đến khi thiếu thốn vật chất các nhu cầu ăn uống, sinh hoạt , giáo dục của gia đình không được đảm bảo . Điều này dẫn đến căng thẳng, mệt mỏi, xung đột giũa các thành viên .Ngoài ra áp lực tài chính kéo dài có thể làm suy giảm sức khoẻ ,tinh thần ,gây ra lo âu và cảm giác bất lực .Từ đó khiến tình cảm gia đình bị rạn nứt, mất đoàn kết và tinhf cảm giữa các thành viên


26 tháng 4

Câu 1 phương thức biểu đạt chính : tự sự

Câu 2 hành động của người mẹ đánh lạc hướng lũ trẻ là : người mẹ đã sổ tóc ra cho các con xúm vào bắt chấy

Câu 3 ý nghĩa hình ảnh “cái bát không “

người cha thể hiện sự ích kỷ tàn nhẫn và tha hoá đến mất hết nhân tính Bi kịch gia đình: cho thấy sự cùng cực của nghèo đói và sự đổ vỡ của tình thân khi miếng ăn đè nặng lên đạo đức

Câu 4 diễn biến tâm lý lũ trẻ Từ vui vẻ , háo hức chuyển sang hụt hẫng đau đớn tuyệt vọng

nhấn mạnh nỗi khao khát miếng ăn tội nghiệp của trẻ thơ và sự tàn nhẫn của thực tại

Câu 5

Sự nghèo đói không chỉ tàn phá sức khỏe mà còn huỷ hoại nhân cách con người và làm tan vỡ hạnh phúc gia đình.Khi cái đói bủa vây những giá trị đạo đức và tình thân bị xem nhẹ biến ngươif thân thành kẻ thù cuar nhau chỉ vì miếng ăn

C1: Phương thức biểu đạt chính là tự sự 

C2: Để đánh lạc hướng các con, người mẹ đã sổ tóc ra cho chúng xúm vào bắt chấy. Lúc đầu, lũ trẻ hào hứng chơi trò lấy những con chấy kềnh làm trâu để tạm quên đi cái bụng đang đói cồn cào.

C3:

Đối với người cha: Hình ảnh này tố cáo sự ích kỷ, tàn nhẫn và vô trách nhiệm. Ông ta cùng bạn bè ăn nhẵn nhụi, không để lại chút gì cho vợ con dù biết họ đang đói khát, chờ đợi dưới bếp.

Đối với bi kịch gia đình: "Cái bát không" là đỉnh điểm của sự khốn cùng. Nó biến niềm hy vọng cuối cùng của lũ trẻ thành sự tuyệt vọng cay đắng. Nó cho thấy sự rạn nứt của tình thân trước cái đói và khẳng định một thực tế phũ phàng: trong cảnh nghèo đói cùng cực, nhân cách con người dễ dàng bị tha hóa.

C4: Diễn biến tâm lí:

Khi nghe gọi: Lũ trẻ đột nhiên tươi tỉnh, chạy nhảy, ngồi chồm chỗm đợi chờ với niềm hy vọng tràn trề về một bữa ăn ngon.

Khi cái mâm được bê xuống: Chúng háo hức, trực đu lấy cái mâm. Cái Gái còn trêu đùa các em tạo không khí hồi hộp.

Khi nhìn thấy mâm bát: Niềm vui biến thành sự bàng hoàng và thất vọng tột cùng. Thằng cu Con khóc oà, chân đạp như người giãy chết, còn những đứa lớn cũng khóc theo trong sự bất lực.

Ý nghĩa: Diễn biến tâm lí này thể hiện sự ngây thơ, đáng thương của trẻ nhỏ và sức tàn phá khủng khiếp của cái đói. Nó nhấn mạnh nỗi đau bị bỏ rơi ngay chính trong gia đình mình.

C5:

28 tháng 4

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Tự sự (kết hợp với miêu tả và biểu cảm).

Câu 2: Cách người mẹ đánh lạc hướng lũ trẻ

Để đánh lạc hướng lũ trẻ và giúp chúng tạm quên đi cơn đói, người mẹ đã:

An ủi, dỗ dành các con bằng lời hứa hão huyền: "Cố mà nhịn lúc nữa... Đợi trên nhà ăn xong, còn thừa thì ta ăn."

Bày ra trò chơi bắt chấy: Thị sổ tóc ra cho các con xúm vào bắt chấy để chúng mải mê chơi mà quên đi bụng đói.

Câu 3: Ý nghĩa hình ảnh "cái bát không"

Hình ảnh "cái bát không" ở cuối đoạn trích mang ý nghĩa sâu sắc:

• Đối với người cha: Khắc họa sự tàn nhẫn, vô tâm và ích kỷ của một người bố nghiện rượu. Ông ta ăn sạch sẽ, không để lại chút gì cho vợ con dù biết họ đang rất đói.

Về bi kịch gia đình: Tượng trưng cho sự trống rỗng, tuyệt vọng và cùng cực của nghèo đói. Nó biến niềm hy vọng cuối cùng của lũ trẻ thành sự hụt hẫng đau đớn, đẩy bi kịch gia đình lên đến đỉnh điểm.

Câu 4: Phân tích diễn biến tâm lí của những đứa trẻ

Tâm lí lũ trẻ thay đổi từ hy vọng tột cùng đến thất vọng tràn trề:

Khi nghe tiếng gọi dọn mâm: Lũ trẻ từ trạng thái mệt lả vì đói bỗng trở nên "tươi tỉnh hẳn lại", tràn đầy hy vọng và háo hức. Chúng tin rằng mình sắp được ăn.

• Khi nhìn thấy cái mâm bát không: Sự háo hức biến thành cú sốc. Thằng cu Con khóc oà, lăn ra ăn vạ; cái Gái và cu Nhớn, cu Nhỡ cũng khóc theo trong bất lực.

-Điều này thể hiện: Nỗi khổ cực và sự đáng thương của trẻ em trong xã hội cũ. Cơn đói đã giày vò cả thể xác lẫn tâm hồn, khiến chúng trở nên nhạy cảm và dễ tổn thương hơn bao giờ hết.

Câu 5: Suy nghĩ về tác hại của sự nghèo đói đối với hạnh phúc gia đình (5-7 dòng)

Sự nghèo đói chính là "kẻ thù" nguy hiểm tàn phá hạnh phúc gia đình. Khi cái ăn cái mặc không đủ, con người dễ trở nên tha hóa, ích kỷ và tàn nhẫn như nhân vật người cha trong truyện. Nghèo đói không chỉ khiến thể xác héo mòn mà còn làm rạn nứt tình cảm, tước đi quyền được chăm sóc và vui chơi của trẻ em. Một gia đình hạnh phúc khó có thể tồn tại bền vững nếu bị bủa vây bởi sự túng quẫn, nơi mà sự sinh tồn lấn át cả lòng trắc ẩn và tình yêu thương.

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.Mẹ con bác...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:

Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khỏang rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.

   (Trích Nhà mẹ Lê – Thạch Lam)

Nhân vật chính trong văn bản trên là ai? Anh/chị cảm nhận như thế nào về nhân vật đó?

3
7 tháng 8 2019

Nhân vật chính trong văn bản là bác Lê. Đó là một người phụ nữ cực khổ [đông con, nghèo đói, phải đi làm thuê làm mướn] song giàu tình thương con, chịu thương chịu khó [dậy sớm đi làm thuê suốt 4 mùa, bất kể nắng mưa, rét mướt; ủ ấm cho đàn con].

31 tháng 3 2022

Năm giờ sáng, lúc ông trời còn đang ngủ, tôi dậy chuẩn bị ra bến xe. Trời tờ mờ sáng, xe lăn bánh tiến về phía Nam. Ngồi trên ô tô, cảnh vật bên đường như chạy qua mắt tôi. Nhìn cảnh đẹp mà lòng tôi cứ lâng lâng nghĩ về quê hương biết bao tươi đẹp của mình. Gần trưa, xe đến nơi. Tôi bước xuống xe, đi về phía làng Rạng bên bờ sông Lam xanh mát. Đường làng tôi! Đường làng tôi đây rồi! Con được mẹ đất quen thuộc vẫn như ngày nào, trải dài suốt hai bờ ruộng, bãi ngô về đến nhà, tôi chạy ào vào gọi bà. Bà đang cho gà ăn trước sân, vui mừng, xúc động khi nhìn thấy tôi. Bà múc nước giếng cho tôi rửa mặt. Dòng nước mát lạnh như xua hết bao mệt nhọc trên đường đi. Buổi chiều, tôi cùng ba mẹ ra thăm mộ ông trên đồi cao. Sau khi thắp hương cho ông, tôi quay ra hít thở khí trời. Đứng ở đây, tôi có thể nhìn thấy mọi cảnh vật xung quanh.

Xa xa, những ngọn núi trùng điệp thấp thoáng sau làn mây trắng mềm mại, nhẹ tênh như dải lụa. Từ chân núi phía xa trải đến chân đồi bên này là một cánh đồng lúa mênh mông. Lúa đang thì con gái, bông nặng trĩu, vàng ươm. Nắng nhạt phủ lên cánh đồng và những bãi ngô trù phú một lớp nắng nhẹ của buổi chiều. Bãi ngô non nở hoa nâu giản dị, râu ngô cũng nâu theo. Từng búp ngô non từ trong lá chui ra, tươi cười hớn hở, để lộ ra bao cái răng vàng loá. Từng đàn cò trắng thi nhau liệng xuống đồng làm duyên, rỉa lông rỉa cánh rồi lấy đà bay vút lên trời xanh. Nắng cũng kịp rác lên bờ sông Lam một chút nắng vàng hoc lấp lánh. Sông Lam mùa này nước xanh, trong vắt, từng đàn cá tung tăng bơi lội. Cá uốn lượn mấy vòng dưới nước như vận động viên bơi lội, có con nhảy lên hụp xuống như nhảy múa thật vui. Dưới chân đồi, những cậu bé cô bé đang vui vẻ nô đùa, mặc cho đàn bò gặm cỏ no đó để rồi cuối buổi chiều, bọn trẻ dắt bò về nhà. Những con bò đã no căng bụng lững thững theo chủ về nhà. Nhìn ra xa một chút, hiện lên những ngôi nhà ngói gạch đỏ tươi. Đống rơm chất cao giữa sân vàng giòn, có thể cháy ngay tức khắc nếu có một ngọn lửa châm vào. Trên bờ tường rêu phủ kín xanh mượt, hòa vào đám lá mướp xanh ngát, làm nổi bật lên những bông hoa mướp vàng tươi nở xòe; từng nụ mướp chúm chím, e thẹn, khẽ nấp sau chiếc lá. Tôi đi xuống đồi. Đồi khá dốc, cào cào, châu chấu nhảy loạn xạ. Mặt Trời ngả bóng, hoàng hôn buông xuống phủ lên cảnh vật một màu đỏ bình yên. Bầu trời dần chuyển sang màu xanh tím. Buổi tối, sau khi ăn cơm, tôi đi thăm bà con làng xóm và kể cho bà nghe chuyện ở Thủ đô.

Ba ngày sau, tôi về Hà Nội. Lúc chia tay bà, tôi rơm rớm nước mắt. Bà ôm tôi, bàn tay gầy gò của bà khẽ xoa lên đầu tôi khiến tôi chẳng muốn rời xa bà, xa quê hương. Nhưng dù đi đâu tôi cũng không thể quên được hình ảnh bà và câu hát thân thương: Nước sông Lam vừa trong vừa mát. Đường đi chợ Rụng lắm cát dễ đi.

Tả lại một cảnh đẹp mà em có dịp quan sát Mẫu 2

Trong kỳ nghỉ hè vừa qua, gia đình em đã tổ chức đi chơi ở Vũng Tàu trong vòng một tuần. Em rất phấn khởi vì từ lâu em đã ao ước được nhìn ngắm bãi biển xanh trong ấy.

Sáng, khoảng bốn năm giờ. Gia đình em lên xe và lên đường đến Vũng Tàu. Gần trưa xe mới tới nơi. Em bước xuống xe và đưa mắt quan sát. ôi! Em thốt lên. Ánh nắng hắt xuống biển làm mặt nước biển lóng lánh một cách rực rỡ. Nước biển trong suốt lộ ra cho em thấy bãi cát gợn đều rất lạ. Em chưa kịp ngắm hết quang cảnh ở đó thì phải phụ ba mẹ xách đồ đạc về phòng trọ.

Phòng trọ cũng rất tiện nghi. Nhưng điều làm em thích nhất là phòng trọ có một cửa sổ, mà đứng ở cửa sổ thì có thể nhìn thấy bãi biển. Sau khi ngủ một giấc lấy lại sức em thay đồ rồi chạy ra biển. Biển lúc này có một màu xanh đục. Nắng dịu trải dài trên bãi cát trắng. Chốc chốc lại có những cơn gió thoảng qua làm đung đưa những tàu dừa xanh mơn mởn.

Em bước từng bước trên bãi cát mịn và nóng xuống biển. Nước biển mát rượi làm em sảng khoái lạ thường. Lúc này trên bờ chỉ còn lác đác những du khách tham quan đang hối hả về cho kịp chuyến xe. Những con dã tràng nhanh chóng chạy về tổ. Nắng đã tắt hẳn, em phải trở về phòng với vẻ luyến tiếc.

Buổi tối, em đứng ở cửa sổ nhìn về phía bãi biển. Lúc này bãi biển chỉ toàn một màu đen, nhưng em có thể trông thấy những đợt sóng trắng xóa ập vào liếm lên bãi cát. Em có thể nghe thấy tiếng sóng rì rào như một bản tình ca dịu dàng đưa em vào giấc ngủ.

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN

Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu đời...

Người xa quê ơi, sao đến hôm nay sắp năm cùng tháng tận mà người mãi chưa về, còn mải mê vui thú đường xa hay đang ê chề nỗi gian lao vất vả không dám về quê vì vẫn chỉ bộ quần áo tàng tàng rung rúc, không được ai xênh xang xe, ngựa, có cành hoa giấy trang kim, có gói bánh cốm lá xanh lạt đỏ biếu cô dì chú bác, không có đồng tiền cho vợ may cái yếm mới đón xuân... nên người tủi phận, tự mình lần tránh thân mình, tự mình lừa hồn mình, khất lần ngày về nơi chôn rau cắt rốn.

Tết ơi, giá mỗi năm có mười cái Tết thì chắc con người phải bạc đầu từ trẻ, nhưng nếu mười năm mới có một Tết thì chắc hồn người cũng sẽ ủ ê không biết nhường nào [...].

Phiên chợ cuối năm đã họp kín người, xế chưa tan. Đắt hàng thế là chị bán hàng vàng hương, vàng hồ, vàng hoa, mũ ông Công, ông Táo, hương đen, hương vàng, hương trầm, hương sạ, hương sào, hương vòng, nến trắng, nến đỏ. Không hiếu sao ngồi cạnh chị ngay ngoài đầu chợ, bao giờ cũng có bà trầu vỏ kèm bên. Bà cụ đã móm, hình như bà ngôi đây đã mấy trăm cái Tết, nên chiếc vồ chặt vỏ, nguyên là cả khúc gỗ mít, gỗ nhãn đã xơ ra, tướp hết, thành cái chày thắt ngẵng, như sắp gãy ở quãng giữa ấy. Những thanh vỏ chay ngon lành thế, cô con gái biếu mẹ, vì lấy chồng xa, chị con dâu hiền thảo mua cho mẹ chồng ăn Tết, mỗi thanh còn vỏ au đỏ mỏng tang như làm bằng giấy bản nhuộm hồng, những thanh vỏ quạch, từng khúc nâu xỉn, như từng khúc lưng con rắn rừng nằm chờ thân phận được quyết định về với Tết nhà ai, nghèo khó nơi bìa làng, thiếu thốn nơi ngõ trại,...

[…] Ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được mặc tấm áo trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét, càng kéo cái Tết đến gần, như đã sờ thấy nó, nó đã vào đến làng, đến cổng rồi kìa... Hình như từ sâu thẳm tâm can, mỗi con người đều được cái Tết thúc gọi, cấy vào đấy chiếc mầm cây mới, gieo vào đấy cái hạt nở ra cây hi vọng. Bận rộn mà vui, hối hả vẫn tươi cười... để có niềm hạnh phúc chờ mong mơ ước. Đôi câu đối giấy hồng điều trên cột, đôi cây mía tím, mía voi làm gậy ông vải hai bên bàn thờ, tờ tranh ông Phúc, ông Lộc dán hai bên cánh cửa, con gà mắt trong veo, con lợn gặm cây khoai ráy, chị tốc váy hứng dừa, anh đánh ghen rúc rích thứ tranh Đông Hồ bán đầy chợ Tết, bày la liệt mặt đất,... cho đến tranh y môn, mâm bồng ngũ quả bán ngoài thành phố,... bức tranh lụa hay sơn dầu quý phái bạn họa sĩ tặng ta treo Tết,... chẳng là hi vọng cái mới sẽ sang đấy sao?

[...] Ta trở về những nẻo đường xuân ríu rít, càng nhận ra cần phải trở thành con người hữu ích ra sao, chí ít là cho bản thân bé nhỏ của ta không phải phiền nhiễu đến bao người khác, mong sao ông chánh án thất nghiệp, anh công an nhàn rồi mà rong xuân, bà thẩm phán cứ dắt con đi công viên, và cái tháng củ mật ngàn năm mịt mùng kia yên bình bất chấp mưa kim châm hay gió cắt thịt... Hàn những giây phút này đây, ông Táo trên trời đã trở về trái đất. Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,... Thành phố nơi ta ở, làng xa nơi mẹ ta chờ,... xuân đã sang ở cả hai nơi. Giờ này, những nẻo đường xuân, bao nhiêu con tàu đang hối hả đích tới, chở theo những trái tim hồi hộp, những cành hoa và những gói quà Tết, mứt sen hay rượu cúc, bánh cốm hay trà sen,... tàu cứ đi đi, mùa xuân còn dài, còn dài như đời ta, như đất nước, như vũ trụ...

(Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, trang 40 - 47)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả?

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: "Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...".

Câu 5. Nội dung chính của văn bản này là gì?

4
16 tháng 12 2025

Câu1 Thể loại: Tùy bút.

Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về

Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.

Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.

Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...

tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.

Câu 5.

Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân

Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau

17 tháng 12 2025

Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3.  Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.Mẹ con bác...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:

Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khỏang rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.

   (Trích Nhà mẹ Lê – Thạch Lam)

Theo anh/chị, nhà văn đã thể hiện tình cảm gì đối với nhân vật? Anh/chị hãy nhận xét về tình cảm đó.

3
24 tháng 11 2019

Tình cảm của nhà văn: Yêu thương, xót xa, ái ngại cho cảnh ngộ nghèo khổ của nhà bác Lê. Đó là tình cảm nhân đạo sâu sắc.

20 tháng 10 2024

Hãy nêu chủ đề của văn bản gió lạnh đầu mùa 

 

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.Mẹ con bác...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:

Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khỏang rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.

   (Trích Nhà mẹ Lê – Thạch Lam)

Tìm và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ bất kì được tác giả sử dụng trong văn bản trên.

1
30 tháng 9 2017

BPTT so sánh “Dưới manh áo nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết” [so sánh con người với con vật, lại là con vật chết] → Đây là 1 hình ảnh đầy ám ảnh, khắc sâu sự nghèo khổ, tội nghiệp, đáng thương của nhà bác Lê.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂNThế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày “chưa cười đã tối” vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN

Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày “chưa cười đã tối” vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu đời...

Người xa quê ơi, sao đến hôm nay sắp năm cùng tháng tận mà người mãi chưa về, còn mải mê vui thú đường xa hay đang ê chề nỗi gian lao vất vả không dám về quê vì vẫn chỉ bộ quần áo tàng tàng rung rúc, không được ai xênh xang xe, ngựa, có cành hoa giấy trang kim, có gói bánh cốm lá xanh lạt đỏ biếu cô dì chú bác, không có đồng tiền cho vợ may cái yếm mới đón xuân... nên người tủi phận, tự mình lần tránh thân mình, tự mình lừa hồn mình, khất lần ngày về nơi chôn rau cắt rốn.

Tết ơi, giá mỗi năm có mười cái Tết thì chắc con người phải bạc đầu từ trẻ, nhưng nếu mười năm mới có một Tết thì chắc hồn người cũng sẽ ủ ê không biết nhường nào [...].

Phiên chợ cuối năm đã họp kín người, xế chưa tan. Đắt hàng thế là chị bán hàng vàng hương, vàng hồ, vàng hoa, mũ ông Công, ông Táo, hương đen, hương vàng, hương trầm, hương sạ, hương sào, hương vòng, nến trắng, nến đỏ. Không hiếu sao ngồi cạnh chị ngay ngoài đầu chợ, bao giờ cũng có bà trầu vỏ kèm bên. Bà cụ đã móm, hình như bà ngôi đây đã mấy trăm cái Tết, nên chiếc vồ chặt vỏ, nguyên là cả khúc gỗ mít, gỗ nhãn đã xơ ra, tướp hết, thành cái chày thắt ngẵng, như sắp gãy ở quãng giữa ấy. Những thanh vỏ chay ngon lành thế, cô con gái biếu mẹ, vì lấy chồng xa, chị con dâu hiền thảo mua cho mẹ chồng ăn Tết, mỗi thanh còn vỏ au đỏ mỏng tang như làm bằng giấy bản nhuộm hồng, những thanh vỏ quạch, từng khúc nâu xỉn, như từng khúc lưng con rắn rừng nằm chờ thân phận được quyết định về với Tết nhà ai, nghèo khó nơi bìa làng, thiếu thốn nơi ngõ trại,...

[…] Ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được mặc tấm áo trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét, càng kéo cái Tết đến gần, như đã sờ thấy nó, nó đã vào đến làng, đến cổng rồi kìa... Hình như từ sâu thẳm tâm can, mỗi con người đều được cái Tết thúc gọi, cấy vào đấy chiếc mầm cây mới, gieo vào đấy cái hạt nở ra cây hi vọng. Bận rộn mà vui, hối hả vẫn tươi cười... để có niềm hạnh phúc chờ mong mơ ước. Đôi câu đối giấy hồng điều trên cột, đôi cây mía tím, mía voi làm gậy ông vải hai bên bàn thờ, tờ tranh ông Phúc, ông Lộc dán hai bên cánh cửa, con gà mắt trong veo, con lợn gặm cây khoai ráy, chị tốc váy hứng dừa, anh đánh ghen rúc rích thứ tranh Đông Hồ bán đầy chợ Tết, bày la liệt mặt đất,... cho đến tranh y môn, mâm bồng ngũ quả bán ngoài thành phố,... bức tranh lụa hay sơn dầu quý phái bạn họa sĩ tặng ta treo Tết,... chẳng là hi vọng cái mới sẽ sang đấy sao?

[...] Ta trở về những nẻo đường xuân ríu rít, càng nhận ra cần phải trở thành con người hữu ích ra sao, chí ít là cho bản thân bé nhỏ của ta không phải phiền nhiễu đến bao người khác, mong sao ông chánh án thất nghiệp, anh công an nhàn rồi mà rong xuân, bà thẩm phán cứ dắt con đi công viên, và cái tháng củ mật ngàn năm mịt mùng kia yên bình bất chấp mưa kim châm hay gió cắt thịt... Hàn những giây phút này đây, ông Táo trên trời đã trở về trái đất. Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi “hôi” cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,... Thành phố nơi ta ở, làng xa nơi mẹ ta chờ,... xuân đã sang ở cả hai nơi. Giờ này, những nẻo đường xuân, bao nhiêu con tàu đang hối hả đích tới, chở theo những trái tim hồi hộp, những cành hoa và những gói quà Tết, mứt sen hay rượu cúc, bánh cốm hay trà sen,... tàu cứ đi đi, mùa xuân còn dài, còn dài như đời ta, như đất nước, như vũ trụ...

(Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, trang 40 - 47)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả?

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: “Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi “hôi” cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...”

Câu 5. Nội dung chính của văn bản này là gì?

1
1 tháng 12 2024

Xhcjfjgcc

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.Mẹ con bác...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:

Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khỏang rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.

   (Trích Nhà mẹ Lê – Thạch Lam)

Văn bản trên có sự kết hợp giữa các phương thức biểu đạt nào? Tác dụng của việc kết hợp đó là gì?

1
29 tháng 1 2019

VB sử dụng kết hợp phương thức biểu đạt tự sự và miêu tả để khắc họa một cách chân thực và làm nổi bật gia cảnh nhà mẹ Lê.

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.Mẹ con bác...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:

Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khỏang rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.

   (Trích Nhà mẹ Lê – Thạch Lam)

Nêu nội dung chính của văn bản trên?

1
9 tháng 8 2018

Nội dung văn bản: Gia cảnh nghèo túng, đói khổ của nhà mẹ Lê.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:ÁO TẾT Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: – Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:

– Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.

Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.

Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về Ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.

Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi sách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:

– Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?

– Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.

– Vậy mầy được mấy bộ?

– Có một bộ hà.

Con bé Em trợn mắt:

– Ít quá vậy?

– Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.

– Vậy à?

Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.

Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:

– Còn mầy?

– Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.

– Mầy sướng rồi.

Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:

– Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?

Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:

– Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.

Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.

(Nguyễn Ngọc Tư, theo isach.info)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản “Áo Tết”?

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

45
14 tháng 12 2025


Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).

Câu 2.

Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:

→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.

Câu 3.

  • Sự thay đổi điểm nhìn:
    Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích.
  • Tác dụng:
    Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:

  • Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
  • Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
    → Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện.
  • Câu 5.

 Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.


14 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".

Gợi ý:

Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.

Tác dụng:

• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.

• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).

• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?

Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):

Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).

Bộc lộ tính cách nhân vật:

Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).

Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

Bài học:

• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.

• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.

• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.

• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO

      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã được vẽ ra như là một cách tố cáo cái xã hội tàn bạo đã huỷ hoại cả đến nhân hình, nhân dạng của con người). Dường như mọi đặc sắc nghệ thuật của ông đều gắn với sở trường ấy. Trong "Chí Phèo", có những đoạn tả ánh trăng rất thú vị: ánh trăng in cái bóng thằng Chí Phèo trên đường làng "Nó xệch xạc về phía bên phải, nó xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách ra vài chỗ. Nó cứ quần quật dưới chân Chí Phèo"; ánh trăng chiếu trên "những tàu lá chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy đành đạch như là hứng tình". Đó là nghệ thuật diễn tả tâm lí hơn là vẽ cảnh thiên nhiên: tâm lí thằng say rượu sắp sửa gặp thị Nở. Ở truyện này, ông ghép nên những cặp nhân vật tâm sự (Lão Hạc − ông giáo hàng xóm; Chí Phèo − thị Nở; Lang Rận − mụ Lợi,...), ở truyện kia, ông lại tạo những nhân vật gây sự (vợ chồng anh trí thức nghèo chẳng hạn). Xét ở một phương diện nào đấy, đó cũng là một cách sắp đặt tình huống độc đáo để bộc lộ những tâm sự sâu kín của các vai truyện. Nếu so sánh Nam Cao với Ngô Tất Tố, thì dễ dàng nhận thấy Ngô Tất Tố chủ yếu dùng bút pháp ngoại hiện để diễn tả tâm lí nhân vật hơn là trực tiếp quan sát và phân tích thế giới nội tâm của chúng. Nếu so sánh với Nguyễn Công Hoan thì thấy nhà văn trào phúng thường chỉ thành công khi diễn tả những khoảnh khắc tâm lí đơn giản, giới hạn trong một truyện ngắn có một chủ để hết sức rõ ràng. Còn Nam Cao thì có khả năng "du lịch" triền miên trong thế giới nội tâm của nhân vật để theo dõi những quá trình tâm lí phức tạp, quanh co, nhiều khi thật khó phân biệt là vui hay buồn, cười hay khóc, say hay tỉnh, ghét hay thương,...

      Chính vì thông thuộc tâm lí con người mà Nam Cao có lối kể chuyện rất biến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong của nhân vật mà dẫn dắt mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm. Lối kể chuyện theo quan điểm nhân vật như thế tạo ra ở nhiều tác phẩm Nam Cao một lối kết cấu bề ngoài có vẻ rất phóng túng, tuỳ tiện, xáo trộn trật tự tự nhiên của không gian, thời gian, mà thực ra rất chặt chẽ như không thể nào phá vỡ nổi. Đây cũng là lối trần thuật nhiều giọng điệu rất độc đáo và hấp dẫn của Nam Cao.

      (2) Như đã nói, Nam Cao luôn băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người, ông dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục vì nghèo đói cùng đường. Nam Cao đặt vấn đề này ra là để minh oan chiêu tuyết cho những con người bị miệt thị một cách bất công: "Chí Phèo", "Một bữa no", "Lang Rận",... Để giải quyết vấn đề này, nhiều khi ông phải đặt nhân vật của mình vào tình thế cheo leo nơi ranh giới giữa con người và thú vật. Và như thế thì ngòi bút của nhà văn cũng thật cheo leo. Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không. Nam Cao không làm xiếc ngôn từ, không làm trò kĩ thuật, ông tự thử thách mình về tư tưởng, về cái tâm đối với con người. Nhiều cây bút khác, đi trên đất bằng mà có lúc cũng vấp ngã, Nam Cao đi trên dây làm sao tránh khỏi có lúc ngả nghiêng. Nhưng người đọc, sau những giây phút hồi hộp, căng thẳng, càng cảm thấy khoan khoái khi thấy nhà văn đã đạt tới đích mà không hề sa chân hụt bước.

      Một cái tâm vững vàng, đằm thắm, đó là nền tảng của mọi tác phẩm của Nam Cao. Cho nên dù ông nhiều khi có cố tình làm ra vẻ lạnh lùng, cố tình dùng những từ vô cảm, thậm chí có sắc thái miệt thị và châm biếm nữa đối với các nhân vật của mình (như những đại từ nhân xưng: hắn, y, thị...), thì người ta vẫn thấy có biết bao đau xót, biết bao nước mắt trong đó.

      Ấy cũng là một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao.

(Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2000, trang 276 - 278)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2. Văn bản trên đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên những phương diện nào?

Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không." có tác dụng gì?

Câu 4. Nhận xét về ngôn ngữ nghị luận được sử dụng trong phần (2).

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. 

0
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. ANH BÉO VÀ ANH GẦY     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi....
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

ANH BÉO VÀ ANH GẦY

     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài − đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại − đó là con trai anh ta.

     − Pơ-phi-ri đấy à? − anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. − Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!

     − Trời! − anh gầy sửng sốt. − Mi-sa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?

     Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.

     − Cậu ạ, − anh gầy bắt đầu nói sau khi hôn xong. − Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Lui-đa, nguyên họ là Van-xen-bắc, theo đạo Luy-te(1)... Còn đây là con trai mình, Na-pha-na-in, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.

     Na-pha-na-in ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.

    − Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! − anh gầy nói tiếp − À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gê-rô-xtrát(2) vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là E-phi-an(3) vì mình hay mách. Hô... hô... Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Na-pha-na-in! Con lại gần bác chút nữa nào... Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Van-xen-bắc... theo đạo Luy-te...

    Na-pha-na-in suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.

    − Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? - anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. - Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?

   − Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay Xta-ni-xláp(4). Lương lậu chẳng đáng là bao... nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi... Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?

    − Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, − anh béo nói. − Mình là viên chức bậc ba rồi... có hai mề đay của Nhà nước.

    Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...

    − Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn... nghĩa là bạn... từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế. Hì hì hì.

    − Thôi, cậu đừng nói thế đi! - anh béo cau mặt. − Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ − việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế.

    − Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... − anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn. − Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Na-pha-na-in... và vợ là Lui-đa, theo đạo Luy-te đấy ạ...

    Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.

    Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Na-pha-na-in kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống.

    Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.

(Sê-khốp, theo docsach24)

Chú thích:

(1) Đạo Luy-te: một trong những biến dạng của đạo Tin lành (cùng với đạo Thiên Chúa và Chính giáo là ba nhánh chính của Ki-tô giáo). Ra đời trong thế kỷ XVI, do những nỗ lực của Luy-te (1483-1546) và những tông đồ của ông ở nước Ðức.

(2) Gê-rô-xtrát: người Hy Lạp, năm 356 trước công nguyên đã đốt đền Ác-tê-mi-đa E-phe-xcai-a để tên mình trở thành bất tử.

(3) E-phi-an: (khoảng 500 đến 461 trước công nguyên) - nhà hoạt động chính trị của A-ten thời cổ. Năm 480 trước công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phen-nô-pin-xki. Toán dân binh Xpác-ta ở Hy Lạp cổ bảo vệ khe núi này, đã hy sinh một cách anh hùng.

(4) Mề đay Xta-ni-xláp: thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. 

Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy.

Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?

Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản. 

10
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.


Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:

“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”

Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.


Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.


Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo

  • Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
  • Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.

19 tháng 12 2025

Câu 1

Thể loại: truyện ngắn.

Câu 2

Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:

"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."

Câu 3.

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.

Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4.

Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:

+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Cầu 5.