Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu1 Thể loại: Tùy bút.
Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.
Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về
Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.
Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.
Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...
tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.
Câu 5.
Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân
Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau
Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.
Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”
Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.
Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.
Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo
- Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
- Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.
Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.
Câu 1
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2
Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:
"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."
Câu 3.
Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.
Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.
Câu 4.
Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:
+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.
+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.
Cầu 5.
- Đoạn 1: cụm từ “ một đêm khuya” được đặt đầu câu nhằm nêu hoàn cảnh, thời gian cho các sự kiện xảy ra. Trạng ngữ “sáng hôm sau” có tác dụng liên kết câu vì thế phải nằm đầu câu
- Đoạn 2: trạng ngữ chỉ thời gian “một buổi sáng tinh sương” đặt giữa câu, đằng sau hành động của chủ thể.
- Đoạn 3: “đã mấy năm” nằm cuối câu mục đích thông báo, nó biểu thị phần tin mới, phần trọng tâm. Tuy giữ vai trò thứ yếu về mặt ngữ pháp nhưng nó lại giữ vai trò quan trọng về mặt thông báo nên nó cần đặt ở cuối câu.
Nhân vật chính trong văn bản là bác Lê. Đó là một người phụ nữ cực khổ [đông con, nghèo đói, phải đi làm thuê làm mướn] song giàu tình thương con, chịu thương chịu khó [dậy sớm đi làm thuê suốt 4 mùa, bất kể nắng mưa, rét mướt; ủ ấm cho đàn con].
Năm giờ sáng, lúc ông trời còn đang ngủ, tôi dậy chuẩn bị ra bến xe. Trời tờ mờ sáng, xe lăn bánh tiến về phía Nam. Ngồi trên ô tô, cảnh vật bên đường như chạy qua mắt tôi. Nhìn cảnh đẹp mà lòng tôi cứ lâng lâng nghĩ về quê hương biết bao tươi đẹp của mình. Gần trưa, xe đến nơi. Tôi bước xuống xe, đi về phía làng Rạng bên bờ sông Lam xanh mát. Đường làng tôi! Đường làng tôi đây rồi! Con được mẹ đất quen thuộc vẫn như ngày nào, trải dài suốt hai bờ ruộng, bãi ngô về đến nhà, tôi chạy ào vào gọi bà. Bà đang cho gà ăn trước sân, vui mừng, xúc động khi nhìn thấy tôi. Bà múc nước giếng cho tôi rửa mặt. Dòng nước mát lạnh như xua hết bao mệt nhọc trên đường đi. Buổi chiều, tôi cùng ba mẹ ra thăm mộ ông trên đồi cao. Sau khi thắp hương cho ông, tôi quay ra hít thở khí trời. Đứng ở đây, tôi có thể nhìn thấy mọi cảnh vật xung quanh.
Xa xa, những ngọn núi trùng điệp thấp thoáng sau làn mây trắng mềm mại, nhẹ tênh như dải lụa. Từ chân núi phía xa trải đến chân đồi bên này là một cánh đồng lúa mênh mông. Lúa đang thì con gái, bông nặng trĩu, vàng ươm. Nắng nhạt phủ lên cánh đồng và những bãi ngô trù phú một lớp nắng nhẹ của buổi chiều. Bãi ngô non nở hoa nâu giản dị, râu ngô cũng nâu theo. Từng búp ngô non từ trong lá chui ra, tươi cười hớn hở, để lộ ra bao cái răng vàng loá. Từng đàn cò trắng thi nhau liệng xuống đồng làm duyên, rỉa lông rỉa cánh rồi lấy đà bay vút lên trời xanh. Nắng cũng kịp rác lên bờ sông Lam một chút nắng vàng hoc lấp lánh. Sông Lam mùa này nước xanh, trong vắt, từng đàn cá tung tăng bơi lội. Cá uốn lượn mấy vòng dưới nước như vận động viên bơi lội, có con nhảy lên hụp xuống như nhảy múa thật vui. Dưới chân đồi, những cậu bé cô bé đang vui vẻ nô đùa, mặc cho đàn bò gặm cỏ no đó để rồi cuối buổi chiều, bọn trẻ dắt bò về nhà. Những con bò đã no căng bụng lững thững theo chủ về nhà. Nhìn ra xa một chút, hiện lên những ngôi nhà ngói gạch đỏ tươi. Đống rơm chất cao giữa sân vàng giòn, có thể cháy ngay tức khắc nếu có một ngọn lửa châm vào. Trên bờ tường rêu phủ kín xanh mượt, hòa vào đám lá mướp xanh ngát, làm nổi bật lên những bông hoa mướp vàng tươi nở xòe; từng nụ mướp chúm chím, e thẹn, khẽ nấp sau chiếc lá. Tôi đi xuống đồi. Đồi khá dốc, cào cào, châu chấu nhảy loạn xạ. Mặt Trời ngả bóng, hoàng hôn buông xuống phủ lên cảnh vật một màu đỏ bình yên. Bầu trời dần chuyển sang màu xanh tím. Buổi tối, sau khi ăn cơm, tôi đi thăm bà con làng xóm và kể cho bà nghe chuyện ở Thủ đô.
Ba ngày sau, tôi về Hà Nội. Lúc chia tay bà, tôi rơm rớm nước mắt. Bà ôm tôi, bàn tay gầy gò của bà khẽ xoa lên đầu tôi khiến tôi chẳng muốn rời xa bà, xa quê hương. Nhưng dù đi đâu tôi cũng không thể quên được hình ảnh bà và câu hát thân thương: Nước sông Lam vừa trong vừa mát. Đường đi chợ Rụng lắm cát dễ đi.
Tả lại một cảnh đẹp mà em có dịp quan sát Mẫu 2
Trong kỳ nghỉ hè vừa qua, gia đình em đã tổ chức đi chơi ở Vũng Tàu trong vòng một tuần. Em rất phấn khởi vì từ lâu em đã ao ước được nhìn ngắm bãi biển xanh trong ấy.
Sáng, khoảng bốn năm giờ. Gia đình em lên xe và lên đường đến Vũng Tàu. Gần trưa xe mới tới nơi. Em bước xuống xe và đưa mắt quan sát. ôi! Em thốt lên. Ánh nắng hắt xuống biển làm mặt nước biển lóng lánh một cách rực rỡ. Nước biển trong suốt lộ ra cho em thấy bãi cát gợn đều rất lạ. Em chưa kịp ngắm hết quang cảnh ở đó thì phải phụ ba mẹ xách đồ đạc về phòng trọ.
Phòng trọ cũng rất tiện nghi. Nhưng điều làm em thích nhất là phòng trọ có một cửa sổ, mà đứng ở cửa sổ thì có thể nhìn thấy bãi biển. Sau khi ngủ một giấc lấy lại sức em thay đồ rồi chạy ra biển. Biển lúc này có một màu xanh đục. Nắng dịu trải dài trên bãi cát trắng. Chốc chốc lại có những cơn gió thoảng qua làm đung đưa những tàu dừa xanh mơn mởn.
Em bước từng bước trên bãi cát mịn và nóng xuống biển. Nước biển mát rượi làm em sảng khoái lạ thường. Lúc này trên bờ chỉ còn lác đác những du khách tham quan đang hối hả về cho kịp chuyến xe. Những con dã tràng nhanh chóng chạy về tổ. Nắng đã tắt hẳn, em phải trở về phòng với vẻ luyến tiếc.
Buổi tối, em đứng ở cửa sổ nhìn về phía bãi biển. Lúc này bãi biển chỉ toàn một màu đen, nhưng em có thể trông thấy những đợt sóng trắng xóa ập vào liếm lên bãi cát. Em có thể nghe thấy tiếng sóng rì rào như một bản tình ca dịu dàng đưa em vào giấc ngủ.
BPTT so sánh “Dưới manh áo nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết” [so sánh con người với con vật, lại là con vật chết] → Đây là 1 hình ảnh đầy ám ảnh, khắc sâu sự nghèo khổ, tội nghiệp, đáng thương của nhà bác Lê.
Câu 1 :Phương thức biểu đtạ chính là:Nghị luận
Câu 2:Theo tác giả:Thất bại giúp con người ta đúc kết kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng và giúp thành công đạt thêm phần ý nghĩa.
Câu 3:Em hiểu câu"Hẫy thất bại một cách tích cực" là:Nếu ta thất bại một lần thì chúng ta có thể nhận được một số bài học và kinh nghiệm nhưng nếu ta thất bại nhiều thì bài học và kinh nghiệm đó sẽ nhân lên,nhân lên rất nhiều.Từ đó,ta có thể thành công với số bài học và kinh nghiệm đó.
Câu 4:Điều em tâm đắc nhất trong đoạn trích chính là:em đã có thêm những phần kiến thức bổ ích,tốt đẹp,nó sẽ giúp em vươn lên towisthanhf công từ những thất bại của mình!
Nệ
C1:
Thông Xạ là con rể của ông lão mù (chồng của con gái ông lão).
C2:
Xung đột giữa đạo đức, tình người với sức ép của đồng tiền và cuộc sống nghèo đói.
→ Cụ thể: giữa tình thân gia đình với lối sống thực dụng, coi trọng tiền bạc.
C3:
Coi đồng tiền là quan trọng nhất, có thể chi phối tình cảm và cách cư xử.
Quan điểm đó phản ánh vấn đề xã hội:
→ Phản ánh sự tha hóa con người trong xã hội, khi đồng tiền làm lu mờ đạo đức và tình thân.
C4:
Phẩm chất đáng quý của chị cả Thuận:
→ Nhân hậu, giàu tình nghĩa, thương cha.
Chi tiết thể hiện:
→ Quan tâm, chăm sóc ông lão mù.
→ Có thái độ xót thương, không lạnh lùng như những người khác.
→ Giữ được tình cảm gia đình dù hoàn cảnh khó khăn.
C5:
Bi kịch của gia đình ông lão mù cho thấy sức ép của “cơm áo gạo tiền” có thể làm con người thay đổi sâu sắc. Khi cuộc sống quá khó khăn, nhiều người dễ trở nên thực dụng, đặt lợi ích vật chất lên trên tình cảm. Điều đó khiến các mối quan hệ gia đình bị rạn nứt, tình thân bị xem nhẹ. Tuy nhiên, tác phẩm cũng nhắc nhở rằng con người cần giữ gìn lòng nhân ái và đạo đức. Dù trong hoàn cảnh nào, tình người vẫn là giá trị quan trọng nhất. Nếu đánh mất nó, con người sẽ trở nên vô cảm và cô độc.
Câu 1: Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù. Câu 2: Đoạn trích thể hiện mâu thuẫn giữa khát vọng sống của người nghèo và thực tế xã hội bất công, khắc nghiệt. Câu 3: Anh cả Thuận cho rằng tiền là sức mạnh tối cao, đứng trên cả đạo đức và pháp luật, phản ánh xã hội “kim tiền” tàn nhẫn, đảo lộn giá trị. Câu 4: Chị cả Thuận là người hiếu thảo, giàu tình thương, luôn cố gắng kiếm sống và không chịu đầu hàng số phận. Câu 5: Bi kịch gia đình cho thấy sức ép của “cơm áo gạo tiền” có thể làm con người tha hóa, mất niềm tin và bị đẩy vào lựa chọn nghiệt ngã giữa lương tâm và sự sống.
Câu 1:
Nhân vật Thông Xa là con của ông lão mù.
Câu 2:
Xung đột cơ bản của văn bản “Không một tiếng vang” là mâu thuẫn giữa tình thân – đạo đức với sức ép của tiền bạc, nghèo đói, làm con người thay đổi và đánh mất giá trị nhân văn.
Câu 3:
Anh cả Thuận cho rằng đồng tiền là quan trọng nhất, có thể chi phối mọi thứ.
→ Quan điểm này phản ánh thực trạng xã hội: nhiều người coi trọng vật chất hơn tình nghĩa, dễ bị tha hóa bởi tiền bạc.
Câu 4:
Chị cả Thuận có những phẩm chất đáng quý như:
Chi tiết thể hiện: cách chị đối xử với cha, sự lo lắng, hi sinh và không chạy theo tiền bạc như người khác.
Câu 5 (5–7 dòng):
Bi kịch của gia đình ông lão mù cho thấy sức ép của “cơm áo gạo tiền” có thể làm con người thay đổi, thậm chí đánh mất tình thân và đạo đức. Khi nghèo đói đè nặng, con người dễ trở nên thực dụng, ích kỉ. Tuy nhiên, không phải ai cũng bị tha hóa, vẫn có những người giữ được lòng nhân ái. Điều đó nhắc nhở chúng ta cần biết cân bằng giữa vật chất và tình cảm, không để tiền bạc chi phối hoàn toàn nhân cách. Giá trị con người nằm ở cách sống, không chỉ ở tiền.
Câu 1:
Nhân vật Thông Xạ là con trai của ông lão mù là em của anh cả Thuận và chị cả Thuận.
Câu 2:
Xung đột cơ bản của văn bản “ Không một tiếng vang” là xung đột giữa tình thân , đạo đức gia đình với sức ép của đồng tiền và cuộc sống nghèo đói.Chính sự túng quẫn đã khiến những người thân trong gia đình trở nên ích kỉ, lạnh lùng, đẩy gia đình ông lão mù vào bi kịch.
Câu 3:
Anh cả Thuận cho rằng đồng tiền là quan trọng nhất, có tiền thì mới sống được,nên sẵn sàng đặt lợi ích vật chất lên trên tình nghĩa.Quan điểm đó phản ánh sự tha hoá của con người trong xã hội khi đồng tiền chi phối các giá trị đạo đức, làm con người trở nên thực dụng và vô cảm.
Câu 4.
Nhân vật chị cả Thuận được khắc họa với những phẩm chất đáng quý như: giàu tình thương, biết hy sinh có lòng trắc ẩn và còn giữ được đạo lí gia đình .Chi tiết thể hiện phẩm chất ấy là chị luôn quan tâm, thương xót cho hoàn cảnh của cha, đau lòng trước sự vô tâm của người thân và vẫn giữ được lòng nhân hậu giữa cảnh nghèo đói.
Câu 5:
Bi kịch của gia đình ông lão mù cho thấy sức ép của “cơm áo gạo tiền”có thể làm con người thay đổi, khiến tình thân bị rạn nứt và nhân phẩm bị bào mòn. Khi nghèo đói đè nặng, con người dễ trở nên ích kỉ, thực dụng và vô cảm với người thân. Tuy nhiên, hoàn cảnh khó khăn không phải là lí do để đánh mất đạo đức. Con người cần biết giữ gìn tình nghĩa và lòng nhân ái, bởi đó mới là giá trị bền vững nhất. Đồng tiền cần thiết nhưng không thể đứng trên nhân phẩm và tình người
Câu 1. (0,5 điểm)
-Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.
Câu 2. (0,5 điểm)
-Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.
Câu 3. (1,0 điểm)
-Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:
+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật").
+ Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!").
-Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:
+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.
+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng.
Câu 4. (1,0 điểm)
-Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận:
+Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha già mù loà.
+ Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói.
+ Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố".
Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng.
+ Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: "... chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?".
+ Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình.
Câu 5. (1,0 điểm)
-Học sinh đưa ra suy nghĩ của bản thân về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm con người. Gợi ý:
Bi kịch của gia đình ông lão mù là lời cảnh tỉnh đau xót về sức tàn phá khủng khiếp của gánh nặng "cơm áo gạo tiền".
-Khi bị dồn vào bước đường cùng của sự đói nghèo, con người dễ bị tha hoá, đánh mất niềm tin vào những giá trị tốt đẹp (như anh Cả mất niềm tin vào Giời Phật, pháp luật, sự lương thiện).
-Cái nghèo không chỉ bào mòn thể xác mà còn đe doạ tước đoạt cả nhân phẩm, lòng tự trọng; buộc người ta phải đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã: Giữ lấy lương tâm mà chết đói hay làm liều để tồn tại.
Câu 4. (1,0 điểm) Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình. Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!"). Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai). Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý: Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa. Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên luỵ đến những người thân xung quanh. Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách
Câu 1.
Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.
Câu 2.
Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.
Câu 3.
- Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:
+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật").
+ Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!").
- Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:
+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.
+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng.
Câu 4.
Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả
Thuận:
- Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương:
Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khỏẻ và cảm giác của người cha già mù loà.
+ Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói.
+ Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố".
- Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn.
Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng.
+ Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: " chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?"
+ Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình.
Câu 1: Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù
Câu 2: Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công
Câu 3: Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:
+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh "Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật". + Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật "Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!". − Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội: + Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền. + Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng
Câu 4: Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận:
− Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha già mù loà. + Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố". − Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng. + Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: "... chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?". + Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình.
Câu 5:Qua bi kịch của gia đình ông lão mù cho em suy nghĩ:
Bi kịch của gia đình ông lão mù là lời cảnh tỉnh đau xót về sức tàn phá khủng khiếp của gánh nặng "cơm áo gạo tiền". − Khi bị dồn vào bước đường cùng của sự đói nghèo, con người dễ bị tha hoá, đánh mất niềm tin vào những giá trị tốt đẹp như anh Cả mất niềm tin vào Giời Phật, pháp luật, sự lương thiện. − Cái nghèo không chỉ bào mòn thể xác mà còn đe doạ tước đoạt cả nhân phẩm, lòng tự trọng; buộc người ta phải đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã: Giữ lấy lương tâm mà chết đói hay làm liều để tồn tại.
Câu 1: Mối quan hệ giữa nhân vật Thông Xạ và gia đình ông lão mù
Nhân vật Thông Xạ là chủ nhà (người cho thuê nhà) của gia đình ông lão mù. Trong bối cảnh này, lão Thông Xạ đóng vai trò là kẻ chủ nợ, người nắm quyền sinh sát đối với chỗ ở của cả gia đình ông lão. Mối quan hệ này mang tính chất bóc lột và áp bức, khi lão liên tục đến đòi tiền thuê nhà và đe dọa đuổi họ ra đường.
Câu 2: Xung đột cơ bản của văn bản "Không một tiếng vang"
Xung đột cơ bản trong đoạn trích là xung đột giữa những con người nghèo khổ, lương thiện với hoàn cảnh sống nghiệt ngã, bế tắc (bi kịch cơm áo gạo tiền).
• Cụ thể hơn, đó là sự đối đầu giữa gia đình ông lão mù (đại diện cho người lao động bị bần cùng hóa) và lão Thông Xạ (đại diện cho tầng lớp chủ nợ, thực dân phong kiến tàn nhẫn).
• Đồng thời, còn có xung đột nội tâm của các nhân vật khi phải lựa chọn giữa lòng tự trọng, đạo đức và sự tồn tại sống còn.
Câu 3: Suy nghĩ và quan điểm của nhân vật Anh cả Thuận về đồng tiền
• Suy nghĩ/Quan điểm: Thuận nhìn nhận đồng tiền với thái độ cay nghiệt và tuyệt vọng. Anh cho rằng ở xã hội này, đồng tiền là sức mạnh tối thượng, "là Giời, là Phật", có thể sai khiến mọi thứ và đảo lộn mọi giá trị đạo đức. Những người hiền lành, tử tế thì bị chà đạp, còn kẻ gian ác, biết xoay xở tiền bạc thì lại được sung sướng.
• Vấn đề xã hội phản ánh: Quan điểm này phản ánh một xã hội thực dân phong kiến thối nát, nơi giá trị con người bị rẻ rúng và mọi quan hệ xã hội đều bị "tiền tệ hóa". Sức mạnh của đồng tiền đã bóp nghẹt lương tâm và đẩy con người đến bờ vực của sự tha hóa hoặc cái chết.
Câu 4: Phẩm chất đáng quý của nhân vật Chị cả Thuận
Chị cả Thuận được khắc họa là người phụ nữ tảo tần, giàu đức hy sinh và giàu lòng nhân hậu.
• Chi tiết chứng minh:
• Chị luôn lo lắng, chăm sóc cho bố chồng (ông lão mù) từng chút một: dìu bố, đắp chiếu cho bố, lo lắng hỏi han khi bố ngã.
• Chị sẵn sàng đem chiếc chậu thau (tài sản ít ỏi còn lại) sang bán cho bác phó để lấy tiền mua cháo và dầu thuốc cho bố.
• Thái độ loay hoay, lúng túng khi phải lựa chọn giữa việc đi gọi chồng hay ở lại đỡ bố cho thấy sự hiếu thảo và tình yêu thương gia đình sâu sắc.
Câu 5: Suy nghĩ về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm con người (5-7 dòng)
Bi kịch của gia đình ông lão mù trong đoạn trích là minh chứng đau đớn cho sức ép nghẹt thở của "cơm áo gạo tiền" lên nhân phẩm con người. Khi cái đói và nợ nần bủa vây, con người dễ rơi vào trạng thái tuyệt vọng, mất niềm tin vào đạo đức và công lý, giống như cách anh cả Thuận cay nghiệt phủ nhận mọi giá trị thiêng liêng. Tuy nhiên, sức ép ấy cũng là "thước đo" nhân cách; trong khi nghịch cảnh khiến người này muốn làm liều, thì người kia như chị cả Thuận vẫn cố giữ lấy sợi dây hiếu thảo cuối cùng. Qua đó, tác giả cho thấy trong một xã hội bất công, cái nghèo không chỉ bào mòn thể xác mà còn có nguy cơ hủy hoại cả linh hồn và lòng tự trọng của những kiếp người nhỏ bé.
Câu 1:
Lão Thông Xạ là chủ nhà cho thuê. Lão là chủ nợ, người nắm quyền sinh sát đối với nơi ở của gia đình ông lão mù. Mối quan hệ này mang tính chất bóc lột và áp bức, khi lão liên tục đến đòi tiền thuê nhà và đe dọa đuổi cả gia đình ra đường nếu không trả đủ tiền.
Câu 2:
Xung đột cơ bản trong văn bản là xung đột giữa con người nhỏ bé, lương thiện với hoàn cảnh sống nghiệt ngã, bần cùng (xung đột giữa cái đói, cái nghèo và nhân cách). Gia đình ông lão mù cố gắng sống lương thiện nhưng bị đẩy vào đường cùng bởi nợ nần, mất việc, đói khát và sự tàn nhẫn của những kẻ có quyền, có tiền (lão Thông Xạ, cai ăn chặn lương, nhân viên soát vé).
Câu 3:
-Suy nghĩ của anh cả Thuận: Anh tuyệt vọng và thực dụng hóa mọi giá trị vì quá nghèo. Anh cho rằng: "Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật", tiền sai khiến được mọi người và có quyền lực hơn cả lương tâm, luật pháp hay thần linh.
-Vấn đề xã hội: Quan điểm này phản ánh một xã hội thực dân nửa phong kiến thối nát, nơi sức mạnh của đồng tiền đã làm đảo lộn mọi giá trị đạo đức. Con người bị bần cùng hóa đến mức mất niềm tin vào công lý và sự tử tế, chỉ còn thấy sự hiện hữu tàn nhẫn của vật chất.
Câu 4:
-Chị cả Thuận là hiện thân của người phụ nữ tảo tần, giàu đức hy sinh và lòng hiếu thảo.
- Chi tiết:
+ Dù nhà hết sạch tiền, chị vẫn định mang chiếc chậu thau (chút tài sản cuối cùng) sang nhà bác phó để bán/đổi lấy vài hào mua bát cháo và dầu cho bố chồng.
+Chị lo lắng cho sức khỏe của bố ("Thầy bảo cồn ruột chắc chỉ vì đói quá").
+Trong cơn bĩ cực, chị vẫn nỗ lực xoay xở để duy trì sự sống cho gia đình và chăm sóc ông cụ lúc ốm đau, ngã quỵ.
Câu 5:
Sức ép của "cơm áo gạo tiền" trong một xã hội bế tắc có thể đẩy con người đến sự tha hóa hoặc cái chết bi kịch. Khi cái đói và nợ nần bủa vây, con người dễ rơi vào trạng thái hoài nghi mọi giá trị đạo đức (như anh cả Thuận) hoặc chọn cái chết để giải thoát (như ông lão mù). Tuy nhiên, bi kịch này cũng làm nổi bật những tâm hồn dù trong bóng tối của nghèo khổ vẫn cố gắng giữ gìn chút tình thương cuối cùng. Qua đó, tác giả gián tiếp lên án xã hội bất công đã tước đi quyền sống và quyền làm người lương thiện của những người dân nghèo.
h
Câu 1: Mối quan hệ của nhân vật Thông Xạ Nhân vật Thông Xạ là chủ cho thuê nhà nơi gia đình ông lão mù đang sinh sống. Mối quan hệ giữa Thông Xạ và gia đình ông lão mù là mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ. Lão Thông Xạ hiện lên là một kẻ tàn nhẫn, luôn thúc ép, đòi nợ và đe dọa đuổi gia đình họ ra đường nếu không trả đủ tiền thuê nhà. Câu 2: Xung đột cơ bản của văn bản Xung đột cơ bản trong "Không một tiếng vang" là sự đối đầu gay gắt giữa khát vọng sống lương thiện, giữ gìn nhân phẩm với thực tại nghiệt ngã của cái nghèo và sự thống trị tàn bạo của đồng tiền trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Câu 3: Quan điểm của nhân vật anh cả Thuận về đồng tiền
Câu 4: Phẩm chất của nhân vật chị cả Thuận
Câu 5: Suy nghĩ về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm (5 – 7 dòng) Bi kịch của gia đình ông lão mù cho thấy sức ép của "cơm áo gạo tiền" là vô cùng tàn khốc, nó có thể mài mòn và bóp nghẹt nhân phẩm con người. Khi bị đẩy vào đường cùng của sự đói khát, con người dễ rơi vào trạng thái hoài nghi, thậm chí phủ nhận các giá trị đạo đức như nhân vật anh cả Thuận. Tuy nhiên, qua hình ảnh ông lão mù hay chị cả Thuận, ta thấy rằng dù trong nghịch cảnh, việc nỗ lực giữ gìn thiên tính và lòng tự trọng vẫn là điều cốt yếu để con người không bị biến thành "công cụ" của đồng tiền. Nghèo đói có thể lấy đi vật chất, nhưng không thể khuất phục được những tâm hồn thực sự muốn sống tử tế.
Câu 1: Nhân vật Thông Xạ có mối quan hệ gì với gia đình ông lão mù? Trả lời: Thông Xạ là chủ nhà (người cho thuê nhà). Mối quan hệ giữa hắn và gia đình ông lão mù là quan hệ giữa chủ nợ và con nợ. Hắn thường xuyên đến đòi tiền thuê nhà, đe dọa đuổi họ ra đường nếu không trả đủ tiền. Câu 2: Chỉ ra xung đột cơ bản của văn bản "Không một tiếng vang". Trả lời: Xung đột cơ bản là xung đột giữa con người và hoàn cảnh sống khốn cùng. Cụ thể là bi kịch của những người dân nghèo lương thiện (gia đình ông lão mù) bị đẩy vào đường cùng bởi cái đói, cái nghèo và sự tàn nhẫn của xã hội cũ (đại diện là lão Thông Xạ và sự thờ ơ của luật pháp, tiền bạc). Câu 3: Nhân vật anh cả Thuận có suy nghĩ, quan điểm gì về đồng tiền? Quan điểm đó phản ánh vấn đề gì của xã hội? Trả lời: * Quan điểm: Anh cả Thuận tôn thờ đồng tiền một cách cực đoan vì quá tuyệt vọng. Anh cho rằng: "Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật", đồng tiền có sức mạnh sai khiến mọi người, thậm chí lương tâm, luật pháp hay thần thánh cũng đều "kém đồng tiền". Vấn đề xã hội: Phản ánh một xã hội băng hoại đạo đức, nơi giá trị con người bị rẻ rúng và mọi chuẩn mực đạo lý đều bị sụp đổ trước sức mạnh của đồng tiền. Đó là hiện thực tàn khốc của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Câu 4: Nhân vật chị cả Thuận được khắc họa với những phẩm chất nào đáng quý? Chỉ ra những chi tiết giúp em nhận thấy phẩm chất đó. Trả lời: Phẩm chất: Chị cả Thuận là người phụ nữ hiếu thảo, đảm đang, giàu đức hy sinh và lòng nhân hậu. Chi tiết: Lo lắng cho bố chồng: Định mang chiếc chậu thau đi bán để lấy vài hào mua bát cháo và lọ dầu cho ông vì ông đang đói và ốm. Chịu thương chịu khó: Đi bán bánh trên tàu để kiếm tiền nuôi gia đình. Tình nghĩa: Khi anh cả Thuận tuyệt vọng đòi đi làm liều, chị vẫn cố gắng ngăn cản và tìm cách xoay xở cứu vãn tình thế. Sự tận tụy: Khi thấy bố ngã, chị cuống cuồng chăm sóc, dìu bố vào chỗ nằm dù tay run lẩy bẩy. Câu 5: Qua bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản, em có suy nghĩ gì về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm con người? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng) Trả lời: Sức ép của "cơm áo gạo tiền" trong một xã hội bất công là vô cùng khủng khiếp, nó có thể đẩy con người đến bước đường cùng và làm biến dạng nhân phẩm. Khi cái đói và nợ nần bủa vây, con người dễ rơi vào trạng thái mất phương hướng, hoài nghi mọi giá trị đạo đức như nhân vật anh cả Thuận. Tuy nhiên, bi kịch của gia đình ông lão mù còn cho thấy, dù trong hoàn cảnh khốn cùng nhất, những tia sáng của tình thân và sự hy sinh (như ông lão tự vẫn để bớt gánh nặng, chị cả lo cho bố) vẫn tồn tại. Điều đó chứng minh rằng nhân phẩm không mất đi, nhưng nó bị giày xéo đau đớn bởi một xã hội quá coi trọng vật chất mà thiếu đi lòng nhân ái.
Nhân vật Thông Xạ có mối quan hệ là con rể của gia đình ông lão mù (chồng của nhân vật cô con gái). Câu 2
Xung đột cơ bản của văn bản là mâu thuẫn giữa nhân tính (tình cảm gia đình, đạo lý làm người) và vật chất (sức ép của cái đói, cái nghèo, tiền bạc). Trong đó, cái đói nghèo đã lấn át và làm xói mòn tình cảm thiêng liêng giữa những người ruột thịt. Câu 3
- Anh coi đồng tiền là gánh nặng và là nỗi lo sợ lớn nhất. Mọi sự kiện (ngay cả cái chết của cha) đều được anh đặt lên bàn cân tính toán về tài chính.
- Phản ánh sự tha hóa của con người trong xã hội cũ dưới áp lực của cái nghèo. Đồng tiền trở thành thước đo, chi phối và làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống.
Câu 4- Chị cả Thuận là người phụ nữ đảm đang, chịu khó và vẫn còn sự quan tâm, lo lắng cho người thân
- Chị là người trực tiếp trông nom, chăm sóc khi ông cụ bị lả đi. Dù lời nói có phần gắt gỏng vì áp lực cuộc sống, nhưng hành động của chị vẫn thể hiện trách nhiệm và lòng trắc ẩn của một người con dâu đối với cha chồng.
Câu 5 "Cơm áo gạo tiền" không chỉ là nhu cầu sinh tồn mà còn là một áp lực khủng khiếp có thể bẻ cong nhân cách con người. Khi rơi vào bước đường cùng của sự đói khát, con người dễ rơi vào bi kịch: sự ích kỷ lấn át lòng vị tha, sự tính toán lạnh lùng thay thế cho tình thương. Qua đó, tác phẩm gióng lên hồi chuông cảnh báo về việc bảo vệ phẩm giá con người trước sự tàn khốc của hoàn cảnh và sự cần thiết của một xã hội nhân đạo hơn.Câu 1.
Nhân vật Thông Xạ là chủ nợ của gia đình ông lão mù.
Câu 2.
Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống
Câu 3.
- Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:
+ "Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật"
+ "Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!"
- Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:
+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.
+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp
Câu 4.
-Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận:
+Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương:
Giữa cảnh khó khăn , chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha
+ Chị là người kiên cường , không cam chịu, không buông xuôi trước số phận .
Câu5:
-suy nghĩ của em về “cơm áo gạo tiền” đối với nhân phẩm con người là
+ Từ bi kịch của gia đình ông lão ta có thể thấy sự tàn phá khủng khiếp của “cơm áo gạo tiền” dù là quá khứ hay hiện tại
+ Khi bị dồn đến mức đường cùng con người dễ bị tha hoá , lạc hướng giữa cái thiện và cái ác
Câu 1.
Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.
Câu 2.
Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.
Câu 3.
Câu 4.
Chị cả Thuận được khắc họa với những phẩm chất đáng quý:
→ Chi tiết tiêu biểu: cách chị ứng xử trước hoàn cảnh khó khăn, thái độ đau xót nhưng vẫn giữ đạo đức, không chấp nhận đánh đổi nhân phẩm vì tiền.
Câu 5.
Bi kịch của gia đình ông lão mù cho thấy sức ép ghê gớm của “cơm áo gạo tiền” đối với con người. Khi rơi vào cảnh nghèo đói, con người dễ bị dồn đến bước đường cùng, thậm chí đánh mất những giá trị đạo đức tốt đẹp. Đồng tiền không xấu, nhưng khi bị tuyệt đối hóa, nó có thể làm con người tha hóa, lạnh lùng và ích kỉ. Tuy vậy, trong hoàn cảnh ấy vẫn có những người giữ được nhân phẩm và lòng nhân ái. Điều đó nhắc nhở mỗi người cần biết cân bằng giữa vật chất và tinh thần. Không nên để cái nghèo làm mất đi phẩm giá con người.
Dựa trên văn bản trích từ vở kịch "Không một tiếng vang" của Vũ Trọng Phụng trong các hình ảnh bạn cung cấp, dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi:
Câu 1: Nhân vật Thông Xạ có mối quan hệ gì với gia đình ông lão mù?
Thông Xạ là chủ nhà trọ (lão chủ nhà) mà gia đình ông lão mù đang thuê để ở. Mối quan hệ này hoàn toàn dựa trên tiền bạc và nợ nần; ông ta liên tục đến đòi tiền thuê nhà, đe dọa đuổi gia đình họ ra đường và kiên quyết không cho khất nợ thêm nữa.
Câu 2: Chỉ ra xung đột cơ bản của văn bản "Không một tiếng vang".
Xung đột cơ bản là xung đột giữa con người nhỏ bé, lương thiện với cái nghèo đói cùng cực và sự tàn nhẫn của xã hội cũ.
Câu 3: Suy nghĩ, quan điểm của nhân vật anh cả Thuận về đồng tiền và vấn đề xã hội phản ánh qua đó.
Câu 4: Phẩm chất quý giá của nhân vật chị cả Thuận và chi tiết minh chứng.
Câu 5: Suy nghĩ về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm con người (5–7 dòng).
Sức ép của "cơm áo gạo tiền" trong văn bản là một gánh nặng tàn khốc, có thể đẩy con người đến chân tường và làm biến dạng nhân phẩm. Khi cái đói và sự túng quẫn bủa vây, con người dễ rơi vào trạng thái phẫn uất, mất đi niềm tin vào những giá trị đạo đức tốt đẹp, như cách anh Thuận phủ nhận lương tâm hay đi ăn trộm. Bi kịch của gia đình ông lão mù cho thấy trong một xã hội thiếu đi sự che chở, nghèo đói không chỉ tàn phá thể xác mà còn hủy hoại cả tinh thần, buộc những con người vốn hiền lành phải lựa chọn giữa sự tha hóa hoặc cái chết để giải thoát.
Lưu ý: Vở kịch này phản ánh hiện thực khốc liệt của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, nơi cái nghèo bị đẩy lên thành bi kịch không lối thoát.
Câu 1: Mối quan hệ của nhân vật Thông Xạ với gia đình ông lão mù Nhân vật Thông Xạ là chủ nhà của gia đình ông lão mù. Mối quan hệ này mang tính chất bóc lột và áp bức: gia đình ông lão phải thuê nhà của lão Thông Xạ để ở, và vì thiếu tiền thuê nhà, họ trở thành "con nợ" bị lão rình rập, đòi nợ năm lần bảy lượt và liên tục đe dọa đuổi ra khỏi nhà. Câu 2: Xung đột cơ bản của văn bản Xung đột cơ bản trong đoạn trích là xung đột giữa sự sống và cái chết, giữa con người lương thiện và hoàn cảnh xã hội tàn nhẫn. Cụ thể là áp lực từ nợ nần, đói khát và sự bế tắc không lối thoát của gia đình ông lão mù đối với sự tàn nhẫn, lạnh lùng của chủ nợ (Thông Xạ) và cái xã hội coi trọng đồng tiền hơn nhân cách. Câu 3: Suy nghĩ của anh cả Thuận về đồng tiền và vấn đề xã hội Quan điểm của anh cả Thuận: Anh có cái nhìn cực đoan và cay độc về đồng tiền. Đối với anh, trong cái xã hội đó, đồng tiền là "Giời", là "Phật", có sức mạnh vạn năng át cả lương tâm, luật pháp và tôn giáo. Anh cho rằng lương tâm và đạo đức đều "thua đồng tiền". Vấn đề xã hội phản ánh: Quan điểm này phản ánh một thực trạng xã hội thực dân nửa phong kiến thối nát, nơi giá trị con người bị băng hoại, đồng tiền trở thành thước đo duy nhất và là công cụ để kẻ ác thống trị, dồn ép người nghèo vào đường cùng. Câu 4: Phẩm chất của nhân vật chị cả Thuận Nhân vật chị cả Thuận được khắc họa là một người phụ nữ giàu đức hy sinh, hiếu thảo và đảm đang. Chi tiết minh chứng: Dù túng quẫn, chị vẫn lo lắng cho sức khỏe của bố chồng ("đem sang lấy vài hào về mua bát cháo với lọ dầu cho thầy"). Chị tìm cách xoay xở, định bán món đồ cuối cùng (chiếc chậu thau) để lo cho gia đình. Hành động chăm sóc bố tận tụy khi chồng bỏ đi ("tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố", "ngồi đắp chiếu cho bố"). Câu 5: Suy nghĩ về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm (5 – 7 dòng) Sức ép của "cơm áo gạo tiền" trong bi kịch của gia đình ông lão mù là một gánh nặng tàn khốc, có khả năng tha hóa và đẩy con người vào đường cùng. Khi cái đói và nợ nần bủa vây, nó không chỉ bào mòn sức khỏe mà còn thử thách nghiệt ngã nhân phẩm. Anh con trai vì quẫn bách mà làm liều (đi ăn trộm), ông lão mù vì không muốn làm gánh nặng mà tự vẫn. Điều này cho thấy trong một xã hội thiếu tình người, sự nghèo đói tột cùng có thể tước đi quyền làm người lương thiện, biến cuộc sống thành một tấn bi kịch đau đớn mà ở đó, con người phải đánh đổi cả mạng sống để bảo toàn lòng tự trọng hoặc giải thoát khỏi bế tắc.
.
Câu 1. (0,5 điểm)
Văn bản "Chén thuộc độc" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2. (0,5 điểm)
Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).
Câu 3. (1,0 điểm)
- Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:
+ "Bóp trán nghĩ ngợi"
+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.".
+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy."
+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.".
+...
- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:
+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thế của nhân vật.
+ Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại
Câu 1. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người ở lại tiễn đưa người ra đi. Câu 2. Không gian: cuộc chia tay diễn ra trên con đường nhỏ, không phải ở bến sông. Thời gian: buổi chiều và buổi sáng hôm sau, trong không khí buồn chia biệt. Câu 3. Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là: “tiếng sóng ở trong lòng” “hoàng hôn trong mắt trong” Tác dụng: giúp diễn tả cảm xúc xao động, buồn đau, lưu luyến của người tiễn đưa; làm cho tâm trạng trở nên giàu hình ảnh, gợi cảm và giàu chất thơ. Câu 4. Hình ảnh “tiếng sóng” mang ý nghĩa tượng trưng cho sự dâng trào của cảm xúc trong lòng người ở lại: nỗi buồn, sự lưu luyến, xao xuyến trước cuộc chia tay. “Tiếng sóng” tuy không có thật ở ngoài không gian nhưng lại vang lên trong tâm hồn, thể hiện trạng thái xúc động sâu sắc của nhân vật trữ tình. Câu 5. Thông điệp em thấy ý nghĩa nhất là: hãy biết trân trọng tình cảm gia đình và những người thân yêu. Bởi trong những cuộc chia ly, điều khiến con người day dứt nhất chính là tình yêu thương, sự gắn bó và nỗi nhớ dành cho nhau.
Câu 1.
Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.
Câu 2.
Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.
Câu 3.
- Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:
+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật").
+ Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!").
- Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:
+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.
+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng.
Câu 4.
Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận:
- Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha già mù loà.
+ Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói.
+ Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố".
- Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng.
+ Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: " chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?"
+ Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình
Câu 5.
buộc người ta phải đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã: Giữ lấy lương tâm mà chết đói hay làm liều để tồn tại.
Câu 1. (0,5 điểm)
Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.
Câu 2. (0,5 điểm)
Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.
Câu 3. (1,0 điểm)
- Quan điếm của anh cả Thuận về đồng tiền:
+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thân thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật").
+ Đông tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!").
- Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:
+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đông tiền.
+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà
a
Câu 1. (0,5 điểm)
Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.
Câu 2. (0,5 điểm)
Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.
Câu 3. (1,0 điểm)
- Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:
+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật").
+ Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!").
- Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:
+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.
+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng.
Câu 4. (1,0 điểm)
Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận:
- Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha già mù loà.
+ Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói.
+ Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố".
- Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng.
+ Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: "... chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?".
+ Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình.
Câu 1. (0,5 điểm)
Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.
Câu 2. (0,5 điểm)
Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.
Câu 3. (1,0 điểm)
- Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:
+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật").
+ Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!").
- Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:
+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.
+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng.
Câu 4. (1,0 điểm)
Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận:
- Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khỏẻ và cảm giác của người cha già mù loà.
+ Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói.
+ Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố".
- Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng.
+ Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: "... chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?".
+ Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình.
Câu 1. (0,5 điễm)
Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.
Câu 2. (0,5 điểm)
Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.
Câu 3. (1,0 điễm)
- Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:
+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật").
+ Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!").
- Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:
+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.
+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng.
Câu 4. (1,0 điểm)
Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận:
- Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương:
Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha già mù loà
a
Câu 1: Nhân vật Thông Xạ có mối quan hệ thân thiết với gia đình ông lão mù. Ông là người quen biết và thường lui tới giúp đỡ gia đình ông lão trong hoàn cảnh khó khăn. Câu 2: Xung đột cơ bản của văn bản “Không một tiếng vang” là xung đột giữa tình người, đạo đức với sức ép khắc nghiệt của “cơm áo gạo tiền”. Chính nghèo đói đã khiến con người dần thay đổi và đánh mất những giá trị tốt đẹp. Câu 3: Anh cả Thuận cho rằng đồng tiền là thứ quan trọng nhất, có thể quyết định cuộc sống của con người. Quan điểm ấy phản ánh thực trạng xã hội khi nhiều người bị áp lực mưu sinh làm cho trở nên thực dụng, coi trọng vật chất hơn tình cảm và đạo đức. Câu 4: Chị cả Thuận được khắc họa là người giàu tình thương, biết hi sinh và sống nhân hậu. Điều đó thể hiện qua việc chị luôn quan tâm đến cha mẹ, lo lắng cho gia đình và đau khổ trước cảnh gia đình rơi vào bi kịch. Dù khó khăn, chị vẫn giữ được lòng yêu thương và phẩm chất tốt đẹp. Câu 5: Qua bi kịch của gia đình ông lão mù, em nhận thấy sức ép của “cơm áo gạo tiền” có thể khiến con người trở nên mệt mỏi, đau khổ và dần thay đổi nhân cách. Nghèo đói không chỉ làm cuộc sống thiếu thốn mà còn dễ làm tình cảm gia đình rạn nứt. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn, con người càng cần giữ gìn lòng nhân ái và đạo đức. Đồng tiền rất quan trọng nhưng không thể thay thế tình thân và giá trị con người.