Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ
câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả
phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống
câu 3:
chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.
chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.
câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt.
Câu 1: Ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống.
- Giải thích “sự tử tế” là tấm lòng lương thiện, phẩm chất tốt đẹp của con người, luôn hướng đến mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, sẵn sàng sẻ chia với người khác.
- Ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống:
+ Khi giúp đỡ người khác bằng tấm lòng chân thành, ta sẽ thấy vui vẻ, thoải mái, hạnh phúc, được mọi người yêu quý, kính trọng.
+ Những người nhận được sự tử tế, quan tâm, sẻ chia cảm thấy có động lực để vững vàng, có niềm tin hơn vào cuộc đời.
+ Khi tất cả mọi người đều đối xử với nhau bằng sự tử tế, tốt bụng, xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
- Phản đề:
+ Phê phán những người sống vô cảm, xấu xa.
+ Không phải sự tử tế nào cũng chân thành, có những người làm việc tốt để đánh bóng tên tuổi bản thân -> lên án.
- Liên hệ bản thân.
Câu 2:
Bài làm của học sinh đảm bảo các ý sau:
1. Giới thiệu tác phẩm “Chinh phụ ngâm” và tác giả, dịch giả.
a. Tác giả Đặng Trần Côn (?):
- Sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII.
- Là người thông minh, tài hoa, hiếu học.
- Tính cách “đuyềnh đoàng ko buộc”- tự do, phóng túng nên ko đỗ đạt cao, chỉ đỗ Hương cống và giữ các chức quan thấp.
- Các tác phẩm: Chinh phụ ngâm, thơ và phú bằng chữ Hán.
b. Dịch giả:
- Đoàn Thị Điểm (1705- 1748):
+ Hiệu: Hồng Hà nữ sĩ.
+ Quê: Giai Phạm - Văn Giang - xứ Kinh Bắc.
+ Là người nổi tiếng tài sắc, tính cách khác thường.
+ 37 tuổi kết hôn với ông Nguyễn Kiều- một tiến sĩ góa vợ. Năm 1743, ông Nguyễn Kiều đi xứ Trung Quốc. Trong thời gian ông đi xứ, Đoàn Thị Điểm sống cuộc sống ko khác người chinh phụ là mấy " đồng cảm
c. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:
- Đầu đời vua Lê Hiển Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành.
- Triều đình cất quân đánh dẹp.
" Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”.
d. Đoạn trích
- Vị trí: từ câu 9 – câu 16 trong đoạn trích sách giáo khoa.
2. Cảm nhận tâm trạng người chinh phụ trong đoạn trích.
a. Cảm nhận ngoại cảnh (câu 9 – 16)
- Tiếng gà: “gà eo óc gáy sương năm trống”: “eo óc” từ láy tượng thanh diễn tả âm thanh nhức nhối, thê lương, vang lên, vọng từ xa đến cho thấy không gian tĩnh mịch, vắng vẻ.
-> Chinh phụ đã thao thức qua cả một đêm dài
- Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
-> Báo hiện đã hết một ngày dài: “phất phơ” là từ láy tượng hình, gợi nhịp điệu chậm rãi, tẻ nhạt.
-> tâm trạng con người buồn chán, ngao ngán.
=> Hai hình ảnh tương hỗ để diễn tả sự thao thức triền miên, khắc khoải của chinh phụ trong cô đơn, lê loi.
=> Đau khổ trong vô vọng
=> Từ nỗi cô đơn bủa vây, chinh phụ cảm nhận thấm thía nỗi cô đơn hơn bao giờ hết:
- Khắc giờ đằng đẵng như niên: thời gian trôi qua rất nặng nề, vô vị.
- Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa: nỗi buồn trải dài mênh mông đến không cùng.
-> Dùng biện pháp so sánh để diễn tả cụ thể tâm trạng của chinh phụ để thấy nỗi buồn mênh mông.
b. Thể hiện qua sự gắng gượng chạy trốn nỗi cô đơn (câu 13- câu 16)
- Gương đốt hương:
+ để tìm sự thanh thản trong mùi trầm thoang thoảng
+ tìm sự che chở ở thế giới siêu nhiên, thần bí.
-> Trái với mục đích hướng đến của chinh phụ, thực tế lại “hồn đà mê mải”, chinh phụ càng chìm đắm sâu hơn trong sầu muộn.
- Gượng soi gương: để tìm thú vui trong việc chỉnh trang nhan sắc.
-> Nhưng khi soi gương lại phải đối diện với hai điều:
+ Đối mặt với sự cô đơn, thấm thía tình cảnh bi đát của mình: chỉ một mình mình một bóng
+ Nhận thấy tuổi xuân đang dần tàn phai.
-> Nước mắt càng thêm chan chứa “lệ lại châu chan”, càng thấy buồn khổ hơn bao giờ hết.
=> Người chinh phụ thấm thía hơn tuổi xuân của mình tàn phai trong cô đơn, sầu muộn.
- Gượng đánh đàn: nhưng khi chạm đến đàn lại tự ý thức về tình cảnh của mình:
+ Thấy tủi thân trước những biểu tượng của đôi lứa ẩn chứa trong các nhạc cụ:
· Đàn sắt, đàn cầm: gảy hòa âm với nhau được ví cảnh vợ chồng hòa thuận.
· Dây uyên: dây đàn uyên ương – biểu tượng cho lứa đôi gắn bó, hòa hợp.
· Phím đàn loan phượng – biểu tượng của lứa đôi gắn bó.
=> Tất cả các nhạc cụ để có đôi có lứa, chỉ có mình mình cô đơn, lẻ bóng.
=> Càng cô đơn, tủi thân
-> Thậm chí thấy lo lắng, khi chơi đàn rất sợ:
+ Dây đàn bị đứt
+ Phím đàn bị chùng
-> Biểu hiện cho sự không may mắn của lứa đôi, là điềm gở.
=> Tìm đến những nhạc cụ nhưng cũng không chạy trốn được nỗi cô đơn.
=> Chinh phụ cố gắng tìm quên bằng cách tìm đến những thú vui của phụ nữ quý tộc xưa. Càng tìm quên lại càng đối diện với bi kịch của mình, càng thấm thía bi kịch của mình và càng đau khổ hơn bao giờ hết.
câu 1 :
Nhân dân ta có rất nhiều câu ca dao hay viết về cha mẹ như:
"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kinh́ cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con''.
Người mẹ là người cùng ta thực hiện mơ ước cuả ta mẹ luôn hy sinh bản thân minh̀ để cho con cómột cuộc sống tốt đẹp hơn
Câu 1
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vào bài bằng các tình càm cao quý trong cuộc sống của mỗi người: tình cảm gia đình, tình anh em, tình cảm bạn bè,..
- Nhấn mạnh tình mẫu tử là loại tình cảm có vị trí đặc biệt quan trọng
2. Thân bài:
* Khái quát chung thế nào là tình mẫu tử:
+ Đây là một tình cảm thiêng liêng giữa mẹ và con
+ Tình mẫu tử thể hiện sự gắn bó, yêu thương và chăm sóc
* Bình luận về tình mẫu tử:
+ Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng và có vai trò đặc biệt với mỗi con người:
- Từ khi con người sinh ra đã có mẹ ở bên, có sự yêu thương che chở của mẹ: mẹ mang thai, sinh chúng ta, chăm chúng ta,….
- Mẹ là người có tấm lòng cao cả, tha thứ mọi lội lầm dù lớn đến mức nào của chúng ta
- Tình mẫu tử cũng là truyền thống đạo lí của dân tộc ta từ xưa
+ Tình mẫu tử đối với mỗi người:
- Một người có tình mẫu tử sẽ có cuộc sống hạnh phúc, được yêu thương
- Ai không có tình mẫu tử thì rất bất hạnh và là một thiệt thòi
+ Vai trò của tình mẫu tử:
- Tình mẫu tử soi sáng đường cho chúng ta đi
- Giúp chúng ta thức tỉnh khi có chút vấp ngã trong cuộc sống
* Trách nhiệm của chúng ta trước tình mẫu tử:
+ Chúng ta cần giữ gìn và tôn trọng tình cảm thiêng liêng này
+ Không ngừng học tập và báo đáp công ơn mẹ cha
+ Không có những hành động thiếu tình mẫu tử
3. Kết bài
Đưa ra cảm nghĩ của bản thân về tình mẫu tử
- Đây là một tình cảm rất thiêng liêng
- Chúng ta phải tự hào vì được có tình mẫu tử
- Cố gắng học tập để báo hiếu cha mẹ
Câu 2:
1. Mở Bài
- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Du và đoạn trích “Trao duyên”.
- Nêu nội dung chính của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.
2. Thân Bài
a. Hai câu thơ đầu
- Thúy Kiều nhờ cậy Thúy Vân nối duyên với Kim Trọng.
- Lời nói, hành động trang trọng (từ “cậy”, “lạy”, “thưa”) nhưng cũng mang sắc thái nài ép Thúy Vân nhận lời giúp đỡ.
b. Sáu câu thơ tiếp theo
- Thúy Kiều giãi bày nguyên nhân dẫn đến việc nhờ cậy Thúy Vân giúp mình. Đó là sự dang dở trong tình yêu với Kim Trọng: “Giữa đường đứt gánh tương tư”.
- Hình ảnh ẩn dụ “gánh tương tư”: Chỉ tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng.
- Nàng chia sẻ với em gái về câu chuyện tình yêu của mình. Kể từ khi gặp Kim Trọng, hai người đã nảy sinh tình cảm cùng thề nguyền, đính ước nhưng bỗng nhiên sóng gió xảy ra với gia đình Kiều, nàng đành hi sinh chữ “tình” để làm tròn chữ “hiếu” với cha mẹ.
c. Bốn câu cuối
- Thúy Kiều thuyết phục Thúy Vân bằng những lí lẽ xác đáng. Nàng nhắc đến “ngày xuân”, tuổi trẻ của Thúy Vân vẫn còn dài và nhắc đến tình nghĩa chị em máu mủ khiến Thúy Vân không thể từ chối việc nàng cậy nhờ.
- Dù cho bản thân mình có “thịt nát xương mòn” thì Kiều vẫn vui vẻ, “ngậm cười” nơi chín suối. Nàng quả là người con gái sống tình nghĩa và có đức hi sinh.
-Thành ngữ “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối” được Nguyễn Du sử dụng tài tình và khéo léo.
- Giọng điệu xót xa, đau đớn.
3. Kết Bài
- Nêu cảm nhận riêng của bản thân về 12 câu thơ đầu.
- Khẳng định giá trị của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.
Caau1: Thể thơ được sử dụng trong đoạn trích: song thất lục bát.
Câu 2: Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là người chinh phụ/ người phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi xa/ người vợ có chồng đi chinh chiến nơi xa.
Câu 3: “Mẹ già, con thơ” trong đoạn trích được miêu tả qua những hình ảnh, từ ngữ;
Mẹ già phơ phất mái sương,/ Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Còn thơ măng sữa, / Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ: cô đơn, buồn tủi, nhớ thương chồng.
Câu 5: Nhân vật trữ tình hiện lên với những phẩm chất:
- Đảm đang, tần tảo.
- Giàu đức hi sinh.
Câu 6:
- Người phụ nữ trong xã hội xưa là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa, số phận bất hạnh nhưng sáng ngời phẩm chất tốt đẹp.
-> Tình cảm, suy nghĩ:
+ Xót thương, cảm thông với số phận bất hạnh, không được hạnh phúc.
+ Ngợi ca, trân trọng, cảm phục những phẩm chất tốt đẹp của họ.
Câu 1: Thể thơ: lục bát.
Câu 2: Những hình ảnh của thiên nhiên được miêu tả trong đoạn thơ: rừng phong, dặm hồng bụi cuốn, ngàn dâu, vầng trăng.
Câu 3:
- Điệp từ: người, kẻ.
- Tác dụng của phép điệp:
+ Diễn tả tình cảnh chia li và tâm trạng lưu luyến, nhớ nhung của Thúy Kiều và Thúc Sinh.
+ Giúp cho lời thơ nhịp nhàng, giàu giá trị biểu cảm.
Câu 4:
Tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều:
- Nỗi buồn li biệt và sự nhớ thương khôn nguôi dành cho Thúc Sinh.
- Sự cô đơn, trống trải khi vò võ nơi phòng vắng.
1. thể thơ lục bát
2.rừng phong, dặm hồng bụi
3 ko biết
4. buồn khi bị chia xa. (nhớ k mình nha
1. Thể thơ: Lục bát.
2. Những hình ảnh thiên nhiên được miên tả trong đoạn thơ: Rừng phong, vầng trăng
3. -Điệp từ: Người, kẻ.
- Tác dụng của phép điệp ngữ:
+ Diễn tả tình cảnh chia li và tâm trạng lưu luyến, nhớ nhung của Thúy Kiều và Thúc Sinh.
+ Giúp cho lời thơ nhịp nhàng, giàu giá trị biểu cảm.
4. Tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều:
- Nỗi buồn li biệt và sự nhớ nhung dành cho Thúc Sinh.
- Sự cô đơn, trống trải khi vò võ nơi phòng vắng.
Học hành có tầm quan trọng rất lớn đối với cuộc đời của mỗi con người. Người xưa đã nhắc nhở con cháu rằng: “Nếu còn trẻ mà không chịu học hành thì khi lớn lên sẽ chẳng thể làm được việc gì có ích”. Bên cạnh đó còn có những câu: “Có học thì như lúa như nếp, không học thì như rơm như cỏ”. Hoặc: “Bất học bất tri lý” (Không học thì không biết lí lẽ, lẽ phải).
Suốt lịch sử phát triển mấy ngàn năm, nhân loại đã tích lũy được một kho tàng tri thức khổng lồ về tự nhiên và xã hội. Những tri thức ấy được lưu truyền từ đời này sang đời khác qua hình thức truyền miệng và chữ viết (sách). Muốn tiếp thu tinh hoa trí tuệ, con người chỉ có một con đường duy nhất là học, học suốt đời.
Nói đến học là nói đến trí lực, một năng lực suy nghĩ, một trực quan nhạy bén, một tư duy hợp lý. Điều ấy hết sức cần thiết cho tất cả mọi người. Chính vì vậy, ngay từ lúc nhỏ, bất kì ai cũng phải được học hành.
Trong mười hai năm ở trường phổ thông, học sinh được cung cấp những kiến thức sơ đẳng của một số bộ môn cơ bản như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ… Tuy thế, học sinh phải chăm chỉ học hành thì mới hiểu và nắm vững kiến thức một cách có hệ thống. Nếu lơ là, chểnh mảng, thiếu nghiêm túc trong việc học hành thì rốt cuộc là tốn thời gian, tiền bạc mà kết quả thu được chẳng đáng là bao.
Thực tế cho thấy là có học có hơn. Mục đích của việc học là nhằm phục vụ cho mọi công việc đạt hiệu quả cao. Nếu ta đơn thuần làm việc theo thói quen hoặc kinh nghiệm có sẵn thì công việc sẽ tiến triển chậm và chất lượng không tốt. Cách làm như trên chỉ thích hợp với các công việc giản đơn, không cần nhiều đến trí tuệ. Còn đối với những công việc phức tạp liên quan đến khoa học kĩ thuật thì cung cách làm việc ấy là lạc hậu, lỗi thời. Muốn đạt hiệu quả tốt trong mọi lĩnh vực, chúng ta bắt buộc phải học, phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên ngành và trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng, bằng mọi hình thức khác nhau.
Gợi ý trả lời
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là: biểu cảm.
Câu 2: Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều sau: : tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết.
Câu 3:
Điệp cấu trúc “nếu là … con hãy (con phải) được lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành một người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu.
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản.
Câu 4:
Thông điệp:
Phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là: biểu cảm
Câu 2:
Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều: tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết
Câu 3:
Phép điệp cấu trúc: nếu là….con hãy.
Được lặp di lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành 1 người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản
Câu 4:
Theo em, thông điệp có ý nghĩa nhất là: phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. Vì khi chúng ta mở rộng tấm lòng, chia sẻ với người khác những niềm vui,nỗi buồn của mình, học cách lắng nghe, đồng cảm, sẻ chia với những buồn vui, khó khăn của người khác. Khi đó, ta sẽ thấy yêu đời và yêu người hơn, cuộc sống này ấm áp yêu thương và đáng sống biết bao.
Vì R1nối tiếp R2⇒UAB=U1+U2
Mà UAB=I.Rtđ
U1=I.R1 , U2=I.R2
⇒I.Rtđ=I.R1+I.R2
⇔Rtđ=R1+R2
Trong mạch nối tiếp ta có U = U1 + U2 = IR1 + IR2 = I(R1 + R2).
Mặt khác, U = IRtđ. Từ đó suy ra: Rtđ = R1 + R2.
~ nhớ k ~
꧁༺мιин❖đứ¢༻꧂

Câu 1: Trong cuộc sống, việc thấu hiểu chính mình có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Thấu hiểu bản thân là nhận ra điểm mạnh, điểm yếu, cảm xúc và mong muốn thật sự của mình. Khi hiểu rõ chính mình, ta sẽ biết mình cần gì, muốn gì và nên đi theo hướng nào, từ đó tránh được những lựa chọn sai lầm hoặc chạy theo người khác một cách mù quáng. Không ít người sống mà luôn cố gắng làm hài lòng người khác, nhưng lại không biết bản thân thực sự mong muốn điều gì, dẫn đến cảm giác mệt mỏi, mất phương hướng. Ngược lại, khi thấu hiểu chính mình, ta sẽ tự tin hơn trong quyết định, biết cách phát huy thế mạnh và cải thiện hạn chế. Tuy nhiên, hành trình này không hề dễ dàng, đòi hỏi mỗi người phải biết lắng nghe bản thân, dám đối diện với sự thật và không ngừng trải nghiệm. Là học sinh, chúng ta cần rèn luyện khả năng tự nhận thức, xác định mục tiêu rõ ràng để phát triển bản thân một cách toàn diện. Thấu hiểu chính mình chính là chìa khóa để sống đúng với giá trị của bản thân và đạt được thành công bền vững.
Câu 2: Trước hết, bài thơ khắc họa những gian khổ, nhọc nhằn của người mẹ trong quá trình sinh nở. Những hình ảnh như “chống gậy mà đi”, “bị bỏ lại giữa đèo Tây Bắc”, “đứa trai đầu ra đời trên lưng” gợi lên một hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt. Người mẹ phải đối mặt với thiên nhiên hiểm trở, thiếu thốn đủ bề nhưng vẫn kiên cường vượt qua để sinh con. Qua đó, ta cảm nhận được sự hi sinh lớn lao và tình yêu thương con vô điều kiện của mẹ.Không chỉ dừng lại ở đó, bài thơ còn thể hiện hành trình nuôi con đầy vất vả. Người mẹ lam lũ, tảo tần, dành trọn cuộc đời cho con. Đứa con lớn lên, được ăn học,trưởng thành và bước ra thế giới rộng lớn. Tuy nhiên, nghịch lí đau lòng xuất hiện khi đứa con dần trở nên xa cách, quên đi những hi sinh của mẹ. Trong khi đó, người mẹ vẫn luôn âm thầm dõi theo, yêu thương và chờ đợi con trở về. Điều này làm nổi bật vẻ đẹp của tình mẫu tử: lặng lẽ, bao dung và không đòi hỏi sự đáp trả.Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi giọng điệu kể chuyện tự nhiên, chân thực như lời tâm sự. Tác giả sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi, mang tính hiện thực cao, giúp người đọc dễ dàng hình dung và xúc động. Biện pháp điệp cấu trúc “mẹ kể” được lặp lại nhiều lần không chỉ tạo nhịp điệu mà còn nhấn mạnh dòng hồi ức, làm nổi bật câu chuyện đời mẹ. Ngoài ra, sự tương phản giữa quá khứ gian khổ của mẹ và hiện tại vô tâm của con càng làm tăng giá trị biểu cảm cho bài thơ.
Tóm lại, “Chuyện của mẹ” không chỉ là câu chuyện riêng của một người mẹ mà còn là tiếng lòng chung của biết bao bà mẹ Việt Nam.Tác phẩm nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết trân trọng, yêu thương và biết ơn mẹ – người đã hi sinh cả cuộc đời vì con.Bài thơ “Chuyện của mẹ” của Nguyễn Ba là một tác phẩm giàu cảm xúc, thể hiện sâu sắc tình mẹ thiêng liêng, bền bỉ và đầy hi sinh. Qua lời kể giản dị mà chân thực, tác giả đã tái hiện hành trình đầy gian khó của người mẹ từ khi sinh con cho đến lúc con trưởng thành.
Bài 2:
Trong dòng chảy của thi ca Việt Nam, đề tài về người mẹ luôn là nguồn cảm hứng bất tận. Nếu như các nhà thơ khác thường ca ngợi vẻ đẹp tảo tần, sương gió, thì Nguyễn Ba trong bài thơ "Chuyện của mẹ" lại chọn một góc nhìn đầy đau thương nhưng vô cùng oai hùng: hình tượng người mẹ Việt Nam Anh hùng gắn liền với những mất mát sau chiến tranh. Bài thơ là một bản tráng ca buồn, tôn vinh sự hy sinh vô bờ bến của người mẹ dành cho non sông. Trước hết, về mặt nội dung, bài thơ đã tái hiện cuộc đời của mẹ như một cuốn nhật ký ghi lại những vết thương của dân tộc. Mẹ đã trải qua "năm lần chia ly" – một con số cụ thể nhưng sức gợi lại mênh mông. Đó là năm lần mẹ tiễn những người thân yêu nhất lên đường mà không có ngày trở lại: "chồng mẹ ra đi / rồi hóa thành ngàn lau" "đứa trai đầu / đã thành con sóng nát trên dòng Thạch Hãn" Những địa danh như Tây Bắc, Thạch Hãn, Trường Sơn, Xuân Lộc, Vị Xuyên xuất hiện liên tiếp, vẽ nên một bản đồ máu và nước mắt. Mỗi người thân của mẹ ngã xuống ở một phương trời, thịt xương họ đã hòa vào đất đai, sông núi để nuôi dưỡng sự sống. Nỗi đau của mẹ không chỉ dừng lại ở sự mất mát người thân, mà còn là nỗi đau thể xác khi bản thân mẹ cũng chịu thương tật, "đôi mắt bị loà". Thế nhưng, vượt lên trên tất cả, mẹ vẫn lo lắng cho con, cho "ai người nước nồi, cơm cháo" khi mẹ mất đi. Tấm lòng ấy đã nâng tầm người mẹ từ một cá nhân trở thành "mẹ của non sông đất nước", là hiện thân của tinh thần đùm bọc, yêu thương đã giúp dân tộc Việt Nam tồn tại qua hàng ngàn năm. Về mặt nghệ thuật, Nguyễn Ba đã sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu chậm rãi, như một lời tâm tình, kể lể nhưng lại có sức công phá mạnh mẽ vào cảm xúc người đọc. Cách sử dụng các hình ảnh ẩn dụ như "ngàn lau", "con sóng nát", "cây mốc sống" không chỉ làm giảm nhẹ sự khốc liệt của cái chết mà còn bất tử hóa sự hy sinh của các anh hùng. Đặc biệt, biện pháp tu từ liệt kê các địa danh chiến trường khốc liệt kết hợp với giọng điệu vừa xót xa, vừa thành kính đã tạo nên một không gian nghệ thuật đầy tính sử thi. Những câu thơ cuối bài: "móm mém mẹ cười / khoe mắt loà khẽ sáng mấy giọt sương..." là một hình ảnh đẹp đến ám ảnh. Ánh sáng từ đôi mắt loà ấy chính là ánh sáng của niềm tin, của sự mãn nguyện khi nhìn thấy "anh em của con tấp nập mọi miền". Tóm lại, bài thơ "Chuyện của mẹ" là một tác phẩm giàu giá trị nhân văn. Bằng ngôn từ giản dị nhưng giàu sức gợi, Nguyễn Ba không chỉ khắc họa thành công bức chân dung người mẹ Việt Nam chịu đựng, hy sinh mà còn nhắc nhở thế hệ hôm nay về cái giá của hòa bình. Mẹ chính là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh để đất nước trường tồn.
Bài 1:
Thấu hiểu chính mình là hành trình quan trọng nhất của mỗi con người. Đó không chỉ đơn thuần là việc biết mình thích gì, ghét gì mà là sự can đảm nhìn sâu vào tâm hồn để thừa nhận cả những ưu điểm lẫn những khiếm khuyết vẹn nguyên. Như câu chuyện về 'đèn và trăng', nếu không thấu hiểu giới hạn của bản thân, con người dễ rơi vào kiêu ngạo hoặc tự ti. Khi hiểu rõ 'ngón dài ngón ngắn' của chính mình, ta sẽ ngừng so sánh bản thân với người khác và bắt đầu tập trung vào việc tự hoàn thiện. Thấu hiểu chính mình giúp ta chọn đúng nghề nghiệp, xây dựng những mối quan hệ chân thành và sống một cuộc đời bình yên, chủ động. Ngược lại, kẻ không hiểu mình sẽ giống như con thuyền mất lái giữa đại dương. Vì vậy, hãy học cách lắng nghe tiếng nói nội tâm để có thể 'sửa mình' và phát triển bền vững giữa thế giới đầy biến động.
## Câu 1: Đoạn văn về việc thấu hiểu chính mình Thấu hiểu chính mình là hành trình quan trọng nhất để mỗi cá nhân tìm thấy hạnh phúc và giá trị thực sự trong cuộc sống. Đó không chỉ đơn thuần là biết mình thích gì, ghét gì, mà là quá trình nhìn sâu vào nội tâm để nhận diện rõ những ưu điểm, khuyết điểm, những nỗi sợ hãi và cả những khát vọng thầm kín. Khi thấu hiểu bản thân, chúng ta giống như người cầm lái có bản đồ trong tay; ta biết mình đang đứng ở đâu và cần đi về đâu, từ đó đưa ra những lựa chọn đúng đắn, tránh bị cuốn theo những giá trị ảo hay kỳ vọng của người khác. Ngược lại, thiếu đi sự tự nhận thức, con người dễ rơi vào trạng thái mông lung, tự ti hoặc ảo tưởng về năng lực của mình. Tuy nhiên, thấu hiểu chính mình không phải là một đích đến mà là một quá trình rèn luyện bền bỉ thông qua việc lắng nghe tiếng nói nội tâm và can đảm đối diện với những mặt tối của bản thân. Hãy nhớ rằng, chỉ khi làm chủ được chính mình, ta mới có thể bao dung và thấu hiểu thế giới xung quanh. "Biết người là thông thái, biết mình là bậc thánh", hiểu rõ bản thân chính là chìa khóa vàng để mở ra cánh cửa của sự tự do và thành công bền vững. ## Câu 2: Phân tích bài thơ "Chuyện của mẹ" (Nguyễn Ba) Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, hình tượng người mẹ luôn là đề tài bất tận, nhưng với "Chuyện của mẹ" của Nguyễn Ba, người đọc lại được chứng kiến một tượng đài về sự hy sinh cao cả gắn liền với những đau thương mất mát của dân tộc. Bài thơ là lời tự sự đẫm nước mắt nhưng cũng đầy tự hào về một người mẹ Việt Nam Anh hùng – người đã hiến dâng cả gia đình cho độc lập, tự do. **Về nội dung**, bài thơ tái hiện cuộc đời đầy bi kịch của mẹ qua "năm lần chia li". Những người thân yêu nhất của mẹ lần lượt ra đi và không bao giờ trở về. Người chồng hóa thân thành "ngàn lau" nơi biên cương Tây Bắc; đứa con trai cả tan vào "con sóng nát" trên dòng Thạch Hãn; đứa con thứ hai nằm lại chiến trường sát Sài Gòn, thịt xương "nuôi mối vườn cao su". Ngay cả người chị gái cũng dâng hiến tuổi thanh xuân trên những cung đường hỏa tuyến. Những địa danh như Tây Bắc, Thạch Hãn, Trường Sơn, Xuân Lộc không chỉ là bản đồ chiến tranh mà còn là bản đồ nỗi đau của mẹ. Nhân vật "tôi" – người con may mắn trở về nhưng với hình hài không nguyên vẹn ("đi về bằng đôi mông đích thực", "đôi mắt bị loà") – chính là nhân chứng sống cho nỗi đau bền bỉ ấy. Mẹ không chỉ đau cái đau của người mất con, mà còn lo lắng cho tương lai của đứa con tàn tật khi mẹ khuất núi. Kết thúc bài thơ, hình ảnh mẹ không còn là mẹ của riêng gia đình nữa, mà trở thành "mẹ của non sông đất nước", là biểu tượng cho sức sống và sự trường tồn của dân tộc nhờ vào tình yêu thương và sự đùm bọc. **Về nghệ thuật**, Nguyễn Ba đã sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu chậm rãi như lời kể lể, tâm tình. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi hình, gợi cảm. Tác giả sử dụng những hình ảnh ẩn dụ đầy xót xa: "hóa thành ngàn lau", "con sóng nát", "thịt xương nuôi mối"... để nói về cái chết, giúp giảm bớt sự thô ráp nhưng lại tăng thêm sức nặng cho nỗi đau. Thủ pháp liệt kê các cuộc chia li kết hợp với các địa danh trải dài từ Bắc chí Nam đã khái quát hóa nỗi đau riêng của mẹ thành nỗi đau chung của cả một thế hệ, một dân tộc. Đặc biệt, chi tiết "khoé mắt loà khẽ sáng mấy giọt sương" ở cuối bài là một hình ảnh giàu tính nhân văn, thể hiện niềm tin và sự ấm lòng của mẹ khi thấy đất nước hồi sinh, con cháu quây quần. Tóm lại, "Chuyện của mẹ" là một bài ca cảm động về sự hy sinh thầm lặng. Qua ngòi bút tài hoa và tấm lòng tri ân sâu sắc, Nguyễn Ba đã khắc họa thành công chân dung người mẹ Việt Nam: đau thương mà kiên cường, giản dị mà vĩ đại. Bài thơ nhắc nhở thế hệ hôm nay về cái giá của hòa bình và trách nhiệm sống sao cho xứng đáng với những hy sinh vô bờ bến ấy.
Thấu hiểu chính mình là chìa khóa quan trọng nhất để mở cánh cửa hạnh phúc và thành công.Thấu hiểu chính mình là khả năng nhận thức rõ ràng về điểm mạnh, điểm yếu, sở thích, đam mê và những giá trị cốt lõi mà bản thân theo đuổiGiúp ta đưa ra những quyết định đúng đắn trong cuộc sống, chọn được hướng đi phù hợp với năng lực.Tạo nên sự tự tin và bản lĩnh, không bị tác động tiêu cực bởi ý kiến bên ngoài hay những định kiến xã hội.Giúp ta dễ dàng bao dung với bản thân, từ đó biết cách cảm thông và kết nối tốt hơn với người khác.Nhiều người mải chạy theo những tiêu chuẩn của người khác mà quên mất bản thân, dẫn đến sự trống rỗng và lạc lõng Bài học nhận thức và hành động: Hãy dành thời gian để lắng nghe tiếng nói bên trong, vì "Biết người là trí, biết mình là sáng".
Câu 2
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, đề tài về người mẹ và chiến tranh luôn là những nốt nhạc trầm hùng, lay động lòng người. Bài thơ "Chuyện của mẹ" của tác giả Nguyễn Ba là một tác phẩm như thế. Qua những lời thơ mộc mạc nhưng giàu sức gợi, tác giả đã khắc họa một bức chân dung bi tráng về người mẹ Việt Nam anh hùng – người đã hiến dâng những gì quý giá nhất của đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Trước hết, về mặt nội dung, bài thơ là thước phim quay chậm về những mất mát đau thương mà người mẹ phải gánh chịu. Ngay từ câu mở đầu, con số “năm lần chia li” đã dự báo về một cuộc đời đầy giông bão. Sự hy sinh của những người thân yêu nhất lần lượt hiện ra qua từng khổ thơ. Người chồng ra đi mãi mãi, hóa thân vào thiên nhiên "thành ngàn lau" nơi biên cương Tây Bắc xa xôi. Đứa con trai đầu ngã xuống khi tuổi đời còn xanh, máu hòa vào dòng Thạch Hãn để trở thành "con sóng nát". Đau đớn hơn cả là đứa con trai thứ hai, người đã băng qua hết dãy Trường Sơn dạn dày sương gió nhưng lại ngã xuống ngay sát cửa ngõ Sài Gòn khi ngày hòa bình đã cận kề. Không chỉ có những người đàn ông, người chị – con gái mẹ – cũng gửi lại tuổi thanh xuân nơi tuyến đầu dân công hỏa tuyến. Hình ảnh người mẹ trong bài thơ không xuất hiện trực tiếp với những lời than vãn, nhưng đằng sau mỗi cái tên, mỗi địa danh là một nỗi đau thắt lòng được kìm nén vào bên trong để làm điểm tựa cho các con, cho Tổ quốc. Bên cạnh giá trị nội dung sâu sắc, thành công của tác phẩm còn đến từ những đặc sắc về nghệ thuật. Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, nhịp điệu lúc trầm lắng như lời kể, lúc dồn dập như tiếng súng trận, tạo nên một dòng cảm xúc tự nhiên và chân thực. Nguyễn Ba đã sử dụng những hình ảnh biểu tượng đầy sức ám ảnh: "ngàn lau", "sóng nát", "hoàng hôn táp đỏ trời". Đặc biệt, hình ảnh "thịt xương nuôi mối vườn cao su Xuân Lộc" và "tuổi thanh xuân... xanh vào vời vợi trong xanh" là những cách nói giảm nói tránh tài tình, vừa xoa dịu nỗi đau, vừa khẳng định sự bất tử của những người anh hùng. Việc liệt kê các địa danh lịch sử trải dài từ Bắc chí Nam không chỉ cho thấy quy mô của cuộc chiến mà còn khẳng định sự hiện diện của mẹ trên mọi nẻo đường đất nước."Chuyện của mẹ" là một bài ca về lòng yêu nước và đức hy sinh. Bằng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình tượng, Nguyễn Ba đã tạc dựng một tượng đài bất tử về người mẹ Việt Nam: đau thương nhưng vô cùng oanh liệt. Bài thơ không chỉ nhắc nhở chúng ta về cái giá của hòa bình mà còn khơi dậy lòng biết ơn sâu sắc đối với thế hệ cha anh đã ngã xuống.
## Câu 1: Đoạn văn về việc thấu hiểu chính mình (Cách tiếp cận: Góc nhìn thực tế và hành động) Hành trình chinh phục thế giới sẽ trở nên vô nghĩa nếu chúng ta thất bại trong việc thấu hiểu chính mình. Thấu hiểu bản thân không phải là một trạng thái tĩnh lặng, mà là một cuộc đối thoại liên tục giữa cái tôi hiện tại và những khát vọng bên trong. Điều này đòi hỏi chúng ta phải có sự trung thực tuyệt đối để thừa nhận những giới hạn của bản thân thay vì cố gắng tô vẽ một vỏ bọc hoàn hảo. Khi hiểu rõ "tần số" của chính mình, chúng ta sẽ không còn bị lung lay bởi những định kiến của xã hội hay những trào lưu nhất thời. Nó giống như việc cắm rễ thật sâu vào lòng đất; rễ càng sâu, cây càng đứng vững trước giông bão. Sự thấu hiểu này còn giúp ta biết cách yêu thương bản thân đúng nghĩa, từ đó biết cách đối xử tử tế với mọi người xung quanh. Trong một thế giới đầy rẫy những thanh âm náo nhiệt, việc dành một khoảng lặng để "lắng nghe" chính mình chính là bước đi đầu tiên để xây dựng một cuộc đời tự do và có mục đích. Đừng đợi đến khi lạc lối mới tìm bản đồ, hãy thấu hiểu chính mình để mỗi bước đi đều là một sự khẳng định giá trị cá nhân. ## Câu 2: Bài văn nghị luận phân tích bài thơ "Chuyện của mẹ" (Cách tiếp cận: Phân tích sâu vào hình tượng "Người mẹ hòa bình") **Bài làm** Nếu có ai hỏi về hình hài của đất nước sau chiến tranh, bài thơ "Chuyện của mẹ" của Nguyễn Ba chính là câu trả lời đầy ám ảnh và nhân văn nhất. Tác phẩm không chỉ là một bài thơ về sự mất mát, mà còn là một bản trường ca về sự hồi sinh và lòng bao dung vô hạn của người mẹ Việt Nam qua những năm tháng thăng trầm. Mở đầu bài thơ, tác giả không ngần ngại trực diện vào nỗi đau: *"mẹ có năm lần chia li"*. Con số "năm" không chỉ là số lượng, đó là năm lần khúc ruột của mẹ bị cắt rời. Nguyễn Ba đã vẽ nên một bản đồ tang tóc trải dài khắp chiều dọc đất nước. Người chồng ra đi hóa thân vào thiên nhiên Tây Bắc, đứa con cả hòa vào sóng nước Thạch Hãn, đứa con thứ hai nằm lại đất đỏ Xuân Lộc. Những hình ảnh như *"con sóng nát"*, *"thịt xương nuôi mối"* mang sức nặng ghê gớm, lột tả sự khốc liệt của chiến tranh đến tận cùng xương tủy. Mẹ đã hiến dâng tất cả những gì quý giá nhất của một người phụ nữ cho độc lập dân tộc. Tuy nhiên, sức sống của bài thơ nằm ở phần sau, khi nhân vật "tôi" trở về. Người con trở về không lành lặn, mang theo nỗi đau thể xác và cả nỗi ưu tư của người lính thời bình. Hình ảnh người mẹ dù đôi mắt bị loà vì khóc con, nhưng vẫn thức trắng đêm để *"lén tôi mẹ khóc"* cho thấy tình yêu thương bao la và sự nhạy cảm của người mẹ. Mẹ lo cho đứa con không có bàn tay chăm sóc của phụ nữ, lo cho căn nhà tình nghĩa khi mẹ khuất núi. Nỗi lo của mẹ vượt lên trên cái chết, nó là sự lo toan cho sự sống tiếp nối. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng những hình ảnh đối lập rất đắt giá. Đó là sự đối lập giữa cái chết bi tráng của những người con với nụ cười *"móm mém"* của mẹ ở cuối bài. Đó là sự chuyển mình từ nỗi đau cá nhân sang tầm vóc vĩ đại: *"mẹ đã là mẹ của non sông đất nước"*. Ngôn ngữ thơ giàu chất tự sự, nhịp điệu linh hoạt đã biến những dòng chữ thành một thước phim chậm về cuộc đời mẹ. Kết thúc bài thơ bằng hình ảnh *"khoé mắt loà khẽ sáng mấy giọt sương"*, Nguyễn Ba đã để lại một dư âm ấm áp. Giọt sương ấy là nước mắt của khổ đau, nhưng cũng là giọt ngọc của niềm tự hào. Bài thơ đã tạc dựng một tượng đài bằng thơ về người mẹ Việt Nam: người không cầm súng nhưng nỗi đau của mẹ chính là một phần xương máu làm nên hình hài Tổ quốc. Qua đó, tác phẩm khơi dậy trong lòng mỗi người đọc lòng biết ơn và sự trân trọng những giá trị hòa bình đang có hôm nay.