Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: Ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống.
- Giải thích “sự tử tế” là tấm lòng lương thiện, phẩm chất tốt đẹp của con người, luôn hướng đến mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, sẵn sàng sẻ chia với người khác.
- Ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống:
+ Khi giúp đỡ người khác bằng tấm lòng chân thành, ta sẽ thấy vui vẻ, thoải mái, hạnh phúc, được mọi người yêu quý, kính trọng.
+ Những người nhận được sự tử tế, quan tâm, sẻ chia cảm thấy có động lực để vững vàng, có niềm tin hơn vào cuộc đời.
+ Khi tất cả mọi người đều đối xử với nhau bằng sự tử tế, tốt bụng, xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
- Phản đề:
+ Phê phán những người sống vô cảm, xấu xa.
+ Không phải sự tử tế nào cũng chân thành, có những người làm việc tốt để đánh bóng tên tuổi bản thân -> lên án.
- Liên hệ bản thân.
Câu 2:
Bài làm của học sinh đảm bảo các ý sau:
1. Giới thiệu tác phẩm “Chinh phụ ngâm” và tác giả, dịch giả.
a. Tác giả Đặng Trần Côn (?):
- Sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII.
- Là người thông minh, tài hoa, hiếu học.
- Tính cách “đuyềnh đoàng ko buộc”- tự do, phóng túng nên ko đỗ đạt cao, chỉ đỗ Hương cống và giữ các chức quan thấp.
- Các tác phẩm: Chinh phụ ngâm, thơ và phú bằng chữ Hán.
b. Dịch giả:
- Đoàn Thị Điểm (1705- 1748):
+ Hiệu: Hồng Hà nữ sĩ.
+ Quê: Giai Phạm - Văn Giang - xứ Kinh Bắc.
+ Là người nổi tiếng tài sắc, tính cách khác thường.
+ 37 tuổi kết hôn với ông Nguyễn Kiều- một tiến sĩ góa vợ. Năm 1743, ông Nguyễn Kiều đi xứ Trung Quốc. Trong thời gian ông đi xứ, Đoàn Thị Điểm sống cuộc sống ko khác người chinh phụ là mấy " đồng cảm
c. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:
- Đầu đời vua Lê Hiển Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành.
- Triều đình cất quân đánh dẹp.
" Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”.
d. Đoạn trích
- Vị trí: từ câu 9 – câu 16 trong đoạn trích sách giáo khoa.
2. Cảm nhận tâm trạng người chinh phụ trong đoạn trích.
a. Cảm nhận ngoại cảnh (câu 9 – 16)
- Tiếng gà: “gà eo óc gáy sương năm trống”: “eo óc” từ láy tượng thanh diễn tả âm thanh nhức nhối, thê lương, vang lên, vọng từ xa đến cho thấy không gian tĩnh mịch, vắng vẻ.
-> Chinh phụ đã thao thức qua cả một đêm dài
- Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
-> Báo hiện đã hết một ngày dài: “phất phơ” là từ láy tượng hình, gợi nhịp điệu chậm rãi, tẻ nhạt.
-> tâm trạng con người buồn chán, ngao ngán.
=> Hai hình ảnh tương hỗ để diễn tả sự thao thức triền miên, khắc khoải của chinh phụ trong cô đơn, lê loi.
=> Đau khổ trong vô vọng
=> Từ nỗi cô đơn bủa vây, chinh phụ cảm nhận thấm thía nỗi cô đơn hơn bao giờ hết:
- Khắc giờ đằng đẵng như niên: thời gian trôi qua rất nặng nề, vô vị.
- Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa: nỗi buồn trải dài mênh mông đến không cùng.
-> Dùng biện pháp so sánh để diễn tả cụ thể tâm trạng của chinh phụ để thấy nỗi buồn mênh mông.
b. Thể hiện qua sự gắng gượng chạy trốn nỗi cô đơn (câu 13- câu 16)
- Gương đốt hương:
+ để tìm sự thanh thản trong mùi trầm thoang thoảng
+ tìm sự che chở ở thế giới siêu nhiên, thần bí.
-> Trái với mục đích hướng đến của chinh phụ, thực tế lại “hồn đà mê mải”, chinh phụ càng chìm đắm sâu hơn trong sầu muộn.
- Gượng soi gương: để tìm thú vui trong việc chỉnh trang nhan sắc.
-> Nhưng khi soi gương lại phải đối diện với hai điều:
+ Đối mặt với sự cô đơn, thấm thía tình cảnh bi đát của mình: chỉ một mình mình một bóng
+ Nhận thấy tuổi xuân đang dần tàn phai.
-> Nước mắt càng thêm chan chứa “lệ lại châu chan”, càng thấy buồn khổ hơn bao giờ hết.
=> Người chinh phụ thấm thía hơn tuổi xuân của mình tàn phai trong cô đơn, sầu muộn.
- Gượng đánh đàn: nhưng khi chạm đến đàn lại tự ý thức về tình cảnh của mình:
+ Thấy tủi thân trước những biểu tượng của đôi lứa ẩn chứa trong các nhạc cụ:
· Đàn sắt, đàn cầm: gảy hòa âm với nhau được ví cảnh vợ chồng hòa thuận.
· Dây uyên: dây đàn uyên ương – biểu tượng cho lứa đôi gắn bó, hòa hợp.
· Phím đàn loan phượng – biểu tượng của lứa đôi gắn bó.
=> Tất cả các nhạc cụ để có đôi có lứa, chỉ có mình mình cô đơn, lẻ bóng.
=> Càng cô đơn, tủi thân
-> Thậm chí thấy lo lắng, khi chơi đàn rất sợ:
+ Dây đàn bị đứt
+ Phím đàn bị chùng
-> Biểu hiện cho sự không may mắn của lứa đôi, là điềm gở.
=> Tìm đến những nhạc cụ nhưng cũng không chạy trốn được nỗi cô đơn.
=> Chinh phụ cố gắng tìm quên bằng cách tìm đến những thú vui của phụ nữ quý tộc xưa. Càng tìm quên lại càng đối diện với bi kịch của mình, càng thấm thía bi kịch của mình và càng đau khổ hơn bao giờ hết.
câu 1 :
Nhân dân ta có rất nhiều câu ca dao hay viết về cha mẹ như:
"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kinh́ cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con''.
Người mẹ là người cùng ta thực hiện mơ ước cuả ta mẹ luôn hy sinh bản thân minh̀ để cho con cómột cuộc sống tốt đẹp hơn
Câu 1
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vào bài bằng các tình càm cao quý trong cuộc sống của mỗi người: tình cảm gia đình, tình anh em, tình cảm bạn bè,..
- Nhấn mạnh tình mẫu tử là loại tình cảm có vị trí đặc biệt quan trọng
2. Thân bài:
* Khái quát chung thế nào là tình mẫu tử:
+ Đây là một tình cảm thiêng liêng giữa mẹ và con
+ Tình mẫu tử thể hiện sự gắn bó, yêu thương và chăm sóc
* Bình luận về tình mẫu tử:
+ Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng và có vai trò đặc biệt với mỗi con người:
- Từ khi con người sinh ra đã có mẹ ở bên, có sự yêu thương che chở của mẹ: mẹ mang thai, sinh chúng ta, chăm chúng ta,….
- Mẹ là người có tấm lòng cao cả, tha thứ mọi lội lầm dù lớn đến mức nào của chúng ta
- Tình mẫu tử cũng là truyền thống đạo lí của dân tộc ta từ xưa
+ Tình mẫu tử đối với mỗi người:
- Một người có tình mẫu tử sẽ có cuộc sống hạnh phúc, được yêu thương
- Ai không có tình mẫu tử thì rất bất hạnh và là một thiệt thòi
+ Vai trò của tình mẫu tử:
- Tình mẫu tử soi sáng đường cho chúng ta đi
- Giúp chúng ta thức tỉnh khi có chút vấp ngã trong cuộc sống
* Trách nhiệm của chúng ta trước tình mẫu tử:
+ Chúng ta cần giữ gìn và tôn trọng tình cảm thiêng liêng này
+ Không ngừng học tập và báo đáp công ơn mẹ cha
+ Không có những hành động thiếu tình mẫu tử
3. Kết bài
Đưa ra cảm nghĩ của bản thân về tình mẫu tử
- Đây là một tình cảm rất thiêng liêng
- Chúng ta phải tự hào vì được có tình mẫu tử
- Cố gắng học tập để báo hiếu cha mẹ
Câu 2:
1. Mở Bài
- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Du và đoạn trích “Trao duyên”.
- Nêu nội dung chính của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.
2. Thân Bài
a. Hai câu thơ đầu
- Thúy Kiều nhờ cậy Thúy Vân nối duyên với Kim Trọng.
- Lời nói, hành động trang trọng (từ “cậy”, “lạy”, “thưa”) nhưng cũng mang sắc thái nài ép Thúy Vân nhận lời giúp đỡ.
b. Sáu câu thơ tiếp theo
- Thúy Kiều giãi bày nguyên nhân dẫn đến việc nhờ cậy Thúy Vân giúp mình. Đó là sự dang dở trong tình yêu với Kim Trọng: “Giữa đường đứt gánh tương tư”.
- Hình ảnh ẩn dụ “gánh tương tư”: Chỉ tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng.
- Nàng chia sẻ với em gái về câu chuyện tình yêu của mình. Kể từ khi gặp Kim Trọng, hai người đã nảy sinh tình cảm cùng thề nguyền, đính ước nhưng bỗng nhiên sóng gió xảy ra với gia đình Kiều, nàng đành hi sinh chữ “tình” để làm tròn chữ “hiếu” với cha mẹ.
c. Bốn câu cuối
- Thúy Kiều thuyết phục Thúy Vân bằng những lí lẽ xác đáng. Nàng nhắc đến “ngày xuân”, tuổi trẻ của Thúy Vân vẫn còn dài và nhắc đến tình nghĩa chị em máu mủ khiến Thúy Vân không thể từ chối việc nàng cậy nhờ.
- Dù cho bản thân mình có “thịt nát xương mòn” thì Kiều vẫn vui vẻ, “ngậm cười” nơi chín suối. Nàng quả là người con gái sống tình nghĩa và có đức hi sinh.
-Thành ngữ “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối” được Nguyễn Du sử dụng tài tình và khéo léo.
- Giọng điệu xót xa, đau đớn.
3. Kết Bài
- Nêu cảm nhận riêng của bản thân về 12 câu thơ đầu.
- Khẳng định giá trị của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.
Caau1: Thể thơ được sử dụng trong đoạn trích: song thất lục bát.
Câu 2: Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là người chinh phụ/ người phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi xa/ người vợ có chồng đi chinh chiến nơi xa.
Câu 3: “Mẹ già, con thơ” trong đoạn trích được miêu tả qua những hình ảnh, từ ngữ;
Mẹ già phơ phất mái sương,/ Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Còn thơ măng sữa, / Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ: cô đơn, buồn tủi, nhớ thương chồng.
Câu 5: Nhân vật trữ tình hiện lên với những phẩm chất:
- Đảm đang, tần tảo.
- Giàu đức hi sinh.
Câu 6:
- Người phụ nữ trong xã hội xưa là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa, số phận bất hạnh nhưng sáng ngời phẩm chất tốt đẹp.
-> Tình cảm, suy nghĩ:
+ Xót thương, cảm thông với số phận bất hạnh, không được hạnh phúc.
+ Ngợi ca, trân trọng, cảm phục những phẩm chất tốt đẹp của họ.
câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ
câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả
phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống
câu 3:
chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.
chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.
câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt.
1.Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là: biểu cảm.
2.- "Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị
Tiếng đàn kêu tính tịch tình tang..." (Truyện cổ tích "Thạch Sanh")
-"Có cô Tấm náu mình trong quả thị" (Truyện cổ tích "Tấm Cám")
-"Có người em may túi đúng ba gang."(Truyện cổ tích "Cây khế")
-"...Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi." (Truyện cổ tích "Sự tích trầu cau")
3.Biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ là: điệp cấu trúc "Quê hương tôi có..."
Tác dụng:
-Nghệ thuật: Làm cho lời thơ hài hòa cân đối,giàu giá trị gợi hình gợi cảm cho đoạn thơ, gây hứng thú cho bạn đọc.
-Nội dung:
+Tác giả làm nổi bật lên giá trị của những câu chuyện cổ, những câu ca dao tục ngữ,đồng thời khẳng định vai trò và ý nghĩa của văn học dân gian nước nhà, ca ngợi truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta: yêu công lí,chuộng hòa bình chính nghĩa;tình nghĩa thủy chung; nghĩa tình.
+Bên cạnh đó chúng ta cần tự hào và giữ gìn những truyền thống quý báu đó,học tập để trau dồi kiến thức và nhân cách.
4. Văn học dân gian đối vs mỗi nhà văn, nhà thơ... là nguồn mạch cảm xúc, là sản phẩm tinh hoa của dân tộc Việt được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật, đc chọn lọc từ những từ ngữ trau chuốt, đc gọt dũa cẩn thận từ bao đời nay.Song ai cũng có thể tham gia được,ai cũng được sửa chữa để tác phẩm được hay hơn,đầy đủ, phong phú hơn.Văn học dân gian là kho tí thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc, có giá trị giáo dục sâu sắc đạo lí làm người,có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo bản sắc riêng cho nền văn hóa dân tộc.Đoạn thơ trên là vậy, nó mang đến cho tác giả tình cảm tự hào, yêu mến, trân trọng; đồng thời cũng là niềm tự hào trước những giá trị văn hóa tinh thần, trước những truyền thống tốt đẹp của cội nguồn.Bản thân mỗi chúng ta ai cũng tự hào, yêu mến những giá trị văn hóa đó, và cần giữ gìn nó vì đó là biểu hiện của lòng yêu nước ở mỗi người.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là: biểu cảm.
Câu 2: Những câu ca dao, tục ngữ hoặc truyện cổ được gợi nhớ trong đoạn trích là: Thạch Sanh, Tấm Cám, Cây khế, Sự tích Trầu Cau, Tay bưng chén muối đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau…
Câu 3: Biện pháp điệp cấu trúc “Một … cũng…” Tác dụng: - Khẳng định giá trị nội dung của những câu truyện cổ, những câu ca dao tục ngữ. - Làm nổi bật vẻ đẹp truyền thống của dân tộc: thủy chung, nghĩa tình.
Câu 4: Đoạn thơ là tình cảm tự hào, yêu mến, trân trọng của nhà thơ về những tác phẩm văn học dân gian. Đó cũng là niềm tự hào trước những giá trị trị văn hóa tinh thần, trước những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Văn học dân gian là nguồn mạch, tinh hoa của văn hóa dân tộc, là tâm hồn Việt Nam được hun đúc bao đời. Tự hào, yêu mến những giá trị văn hóa, những truyền thống tốt đẹp đó cũng là tự hào về nguồn cội, là biểu hiện của lòng yêu nước trong mỗi con người.
Học hành có tầm quan trọng rất lớn đối với cuộc đời của mỗi con người. Người xưa đã nhắc nhở con cháu rằng: “Nếu còn trẻ mà không chịu học hành thì khi lớn lên sẽ chẳng thể làm được việc gì có ích”. Bên cạnh đó còn có những câu: “Có học thì như lúa như nếp, không học thì như rơm như cỏ”. Hoặc: “Bất học bất tri lý” (Không học thì không biết lí lẽ, lẽ phải).
Suốt lịch sử phát triển mấy ngàn năm, nhân loại đã tích lũy được một kho tàng tri thức khổng lồ về tự nhiên và xã hội. Những tri thức ấy được lưu truyền từ đời này sang đời khác qua hình thức truyền miệng và chữ viết (sách). Muốn tiếp thu tinh hoa trí tuệ, con người chỉ có một con đường duy nhất là học, học suốt đời.
Nói đến học là nói đến trí lực, một năng lực suy nghĩ, một trực quan nhạy bén, một tư duy hợp lý. Điều ấy hết sức cần thiết cho tất cả mọi người. Chính vì vậy, ngay từ lúc nhỏ, bất kì ai cũng phải được học hành.
Trong mười hai năm ở trường phổ thông, học sinh được cung cấp những kiến thức sơ đẳng của một số bộ môn cơ bản như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ… Tuy thế, học sinh phải chăm chỉ học hành thì mới hiểu và nắm vững kiến thức một cách có hệ thống. Nếu lơ là, chểnh mảng, thiếu nghiêm túc trong việc học hành thì rốt cuộc là tốn thời gian, tiền bạc mà kết quả thu được chẳng đáng là bao.
Thực tế cho thấy là có học có hơn. Mục đích của việc học là nhằm phục vụ cho mọi công việc đạt hiệu quả cao. Nếu ta đơn thuần làm việc theo thói quen hoặc kinh nghiệm có sẵn thì công việc sẽ tiến triển chậm và chất lượng không tốt. Cách làm như trên chỉ thích hợp với các công việc giản đơn, không cần nhiều đến trí tuệ. Còn đối với những công việc phức tạp liên quan đến khoa học kĩ thuật thì cung cách làm việc ấy là lạc hậu, lỗi thời. Muốn đạt hiệu quả tốt trong mọi lĩnh vực, chúng ta bắt buộc phải học, phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên ngành và trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng, bằng mọi hình thức khác nhau.
Tham khảo :
Dân tộc Việt Nam ta từ bao đời nay luôn có một truyền thống tốt đẹp đó là lòng nồng nàn yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc sâu sắc. Điều ấy không chỉ thể hiện mạnh mẽ và rõ ràng thông qua các cuộc chống giặc ngoại xâm giữ nước kể từ thời các vua Hùng cho đến tận ngày hôm nay, mà tinh thần yêu nước của dân tộc ta còn được gửi gắm một cách sâu sắc và khéo léo vào nhiều các tác phẩm văn chương đặc sắc, với ngòi bút tài hoa của nhiều tác giả. Đặc biệt với Nguyễn Trãi một nhà chính trị, nhà quân sự tài ba, kiệt xuất, một danh nhân văn hóa thế giới thì tư tưởng yêu nước của người gửi gắm trong tác phẩm lại càng có nhiều điểm đáng quý, đáng trân trọng tôn sùng hơn cả. Bình Ngô đại cáo, tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi, được muôn đời sau ca ngợi là áng thiên cổ hùng văn, là áng văn chính luận mẫu mực nhất đồng thời là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta, không chỉ mang trong mình giá trị lịch sử, vai trò chính trị quan trọng trong công cuộc chống quân Minh xâm lược mà còn chứa đựng trong mình cả tinh thần của một dân tộc - tinh thần yêu nước đã trở thành truyền thống ngàn đời và ngày một sâu nặng trong máu thịt văn hóa của nhân dân ta . Ngày nay, với xu thế phát triển của thế giới vượt bậc, trước mọi kẻ thù lâm le. Cuộc chiến hiện nay không bằng gươm giáo nữa, mà là chính trị và kinh tế. Vậy mỗi người con dân đất Việt phải có tinh thần như thế nào, và phải làm gì cho đất nước chúng ta. Làm gì để không hổ thẹn khi đọc những áng văn bất hủ, mà đầy tính yêu nước thương dân, tự hào nền văn hiến dân tộc, tinh thần nhân đạo nói chung và của trái tim mỗi người. Người viết cũng rất háo hức với tinh thần chung đó và nhân đây xin trình bày những điều tâm đắc của người viết khi đọc qua tác phẩm này.
Em chưa học đến bài này, nhưng vì muốn giúp chị thế nên em vẫn làm có gì không hay chị thông cảm cho em . Lần đầu viết văn lớp 10.
Tác phẩm "Bình ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải ký hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền độc lập tự chủ, hòa bình.Tác phẩm là áng văn chính luận mẫu mực và xuất sắc của Nguyễn Trãi, không chỉ mang trong mình giá trị lịch sử, vai trò chính trị quan trọng trong công cuộc chống quân Minh xâm lược mà còn chứa đựng trong mình cả tinh thần của một dân tộc. Tác giả đã lên án dành cho cả tổ tiên quân xâm lược. Ngày nay, thế giới ngày càng phát triển hơn, đã không còn những việc chiến tranh bằng gươm giáo nữa mà là bằng chính trị và kinh tế. Vậy chúng ta phải làm một việc gì đó để thể hiện tinh thần trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước, để không hổ thẹn với những gì mà những người đi trước đã tạo nên, đã trả bằng xương máu để cho chúng ta có một cuộc sống như bây giờ. Trong mỗi người dân Việt Nam, tinh thần trách nhiệm của con người vẫn luôn là phẩm chất đạo đức mà mọi người ai cũng cần có. Thật vậy, dù trong cuộc sống hòa bình hay trong những tình cảnh khó khăn dịch bệnh như hiện nay thì tinh thần trách nhiệm chính là thứ mà góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Đối với tôi, để thể hiện tinh thần trách nhiệm thì tôi vẫn luôn ra sức học hỏi để góp phần xây dựng tổ quốc ngày càng một tốt đẹp hơn. Luôn đứng lên từ cái sai lầm của mình và không bao giờ dựa dẫm qúa nhiều vào người khác. Có như vậy em mới không bao giờ hổ thẹn với các áng văn bất hủ, không bao giờ hổ thẹn với cái lớp đi trước.
Câu 1. Câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay.
Câu 2 Tác giả cho rằng “cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha” vì ở thời đại công nghệ số, con người chỉ cần gõ bàn phím máy tính hoặc điện thoại di động đã có thể tiếp cận thông tin ở nhiều phương diện của đời sống, tại bất cứ nơi đâu, trong bất kì thời gian nào, nên việc đọc sách đã dần trở nên phôi pha.
Câu 3
theo em, em không đồng tình với ý kiến đó. Bởi vì sách có những tác dụng rất to lớn. Những cuốn sách cung cấp cho ta kiến thức, bồi dưỡng tâm hồn ta, rèn luyện tư duy và khả năng con người. Muốn hoàn thiện nhân cách tốt, cần phải năng đọc sách. Và đọc sách là một việc làm không thể thiếu đối với quá trình hoàn thiện nhân cách con người, nhất là với lứa tuổi thanh thiếu niên học sinh trong guồng quay cuộc sống đầy hối hả, vội vã của cuộc sống hiện đại. Nhận định rằng Internet cũng có những lợi ích nhất đinhj đối với con người, song ta không thể nào phủ nhận được vai trò của sách. Có những điều, những trải nghiêm chỉ có những ai đọc sách, yêu sách mới hiểu; dĩ nhiên Internet không thể nào đem lại cho ta những điều như vậy....
–Câu 4
Sách tốt là loại sách mở ra cho ta chân trời mới, giúp ta mở mang kiến thức về nhiều mặt: cuộc sống, con người, trong nước, thế giới, đời xưa, đời nay, thậm chí cả những dự định tương lai, khoa học viễn tưởng.
– Bạn hiền đó là người bạn có thể giúp ta chia sẻ những nỗi niềm trong cuộc sống, giúp ta vươn lên trong học tập, cuộc sống.
→ Do tác dụng tốt đẹp như nhau mà có nhận định ví von Một quyển sách tốt là một người bạn hiền.
– Sách cung cấp cho ta những tri thức, kinh nghiệm quý báu về mọi lĩnh vực trong cuộc sống để ta giải quyết được những nhiệm vụ của cuộc sống.
– Sách tốt là người bạn hiển kể cho ta bao điều yêu thương, bao kiếp người điêu linh đói khổ mà vẫn giữ trọn vẹn nghĩa tình.
– Sách cho ta hiểu và cảm thông với bao kiếp người, với những mảnh đời ở những nơi xa xôi, giúp ta vươn tới chân trời của ước mơ, ước mơ một xã hội tốt đẹp.
– Sách giúp ta chia sẻ, an ủi những lúc buồn chán.
=> Sách giúp ta nâng cao hiểu biết và hoàn thiện nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn.
Ý kiến là một chân lí rút ra từ thực tiễn học tập và giao tiếp của con người, có tác dụng định hướng con người tiếp cận tri thức trong cuộc sống.
– Trong xã hội có sách tốt và sách xấu, bạn tốt và bạn xấu do đó cần chọn bạn mà chơi cũng như chọn sách mà đọc.
– Phê phán những người lười đọc sách.

Câu 1
Nghệ thuật lập luận trong bản "Chiếu cầu hiền tài" đạt đến trình độ bậc thầy, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa lý lẽ sắc bén và tình cảm chân thành. Bố cục chặt chẽ: Đầu tiên, tác giả đưa ra tiên đề về mối quan hệ giữa người hiền và thiên tử: người hiền phải do thiên tử sử dụng, như sao sáng chầu về Bắc Thần. Đây là chân lý khách quan, tạo điểm tựa vững chắc cho toàn bộ bài chiếu. Cách đặt vấn đề khéo léo: Thay vì ra lệnh cứng nhắc, tác giả dùng lối nói khiêm nhường, thấu hiểu tâm lý sĩ phu thời bấy giờ (những người còn e ngại, ẩn dật). Việc thẳng thắn thừa nhận những thiếu sót của triều đại mới và sự cần thiết của nhân tài giúp xóa bỏ khoảng cách quân thần. Hệ thống câu hỏi tu từ: Những câu hỏi liên tiếp như "Hay là thời đại đang ở trong buổi ban đầu...?" đã tác động mạnh mẽ vào lòng tự trọng và trách nhiệm của kẻ sĩ đối với đất nước.Chính sách cụ thể, rộng mở: Cuối bài, việc đưa ra các con đường tiến cử đa dạng, không phân biệt thứ bậc đã minh chứng cho thái độ cầu thị thực chất.
Kết luận: Với ngôn ngữ trang trọng nhưng tha thiết, lập luận của bài chiếu không chỉ thuyết phục bằng lý trí mà còn thu phục bằng nhân tâm, biến việc ra giúp nước thành một nghĩa vụ vẻ vang và tự nhiên của người hiền.
Câu 2:
Bài làm.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, "chất xám" đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, quyết định sự hưng thịnh của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay đang đứng trước một nghịch lý đau lòng: chúng ta nỗ lực đào tạo nhân tài nhưng lại chưa giữ chân được họ, dẫn đến hiện tượng "chảy máu chất xám" ngày càng trầm trọng.
"Chảy máu chất xám" không đơn thuần là việc một cá nhân đi định cư, mà là sự thất thoát nguồn lực trí tuệ ưu tú nhất của dân tộc. Nhìn vào thực tế, phần lớn các quán quân của những cuộc thi tri thức danh giá hay các du học sinh xuất sắc sau khi tốt nghiệp tại Úc, Mỹ, hay Châu Âu đều chọn ở lại làm việc thay vì trở về. Tại sao họ lại ra đi? Câu trả lời không chỉ nằm ở mức lương nghìn đô, mà còn ở một môi trường làm việc chuyên nghiệp, nơi trí tuệ được tôn trọng tuyệt đối và không bị kìm kẹp bởi những cơ chế cũ kỹ. Hậu quả của hiện tượng này là vô cùng lớn. Khi những bộ óc thông minh nhất ra đi, đất nước sẽ thiếu đi những đầu tàu dẫn dắt các ngành công nghệ mũi nhọn, khiến nền kinh tế dễ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Chúng ta mất đi "vốn liếng" quý nhất để hiện đại hóa quê hương. Để giải quyết vấn đề này, không thể chỉ kêu gọi bằng lòng yêu nước viển vông. Chính phủ và các doanh nghiệp cần có những "cú hích" mạnh mẽ về chính sách: tạo ra môi trường nghiên cứu tự do, công bằng và chế độ đãi ngộ xứng đáng. Chúng ta cần hiểu rằng, nhân tài không cần sự ưu ái, họ cần sự công nhận và không gian để tỏa sáng
Tóm lại, hiền tài là nguyên khí quốc gia. Để nguyên khí ấy không bị "chảy" đi mất, chúng ta cần biến Việt Nam thành một mảnh đất đủ màu mỡ để những hạt giống trí tuệ có thể bám rễ và xanh tươi. Bản thân mỗi người trẻ cũng cần ý thức được rằng, đỉnh cao của sự thành đạt chính là dùng tài năng để phụng sự cho nơi mình đã sinh ra.
Câu 1 : Trong văn bản Chiếu cầu hiền, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc bén và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả mở đầu bằng cách nêu lên quy luật tất yếu: hiền tài là nguyên khí của quốc gia, từ đó khẳng định vai trò quan trọng của người tài đối với sự hưng thịnh của đất nước. Cách lập luận này tạo nền tảng lí lẽ vững chắc, mang tính khái quát cao. Tiếp đó, ông phân tích thực trạng: nhân tài còn bị bỏ sót, chưa được trọng dụng đúng mức. Việc đưa ra thực trạng vừa cụ thể vừa khách quan giúp tăng tính xác thực cho lập luận. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trãi còn sử dụng lí lẽ kết hợp với cảm xúc, thể hiện tấm lòng chân thành của người đứng đầu đất nước, mong mỏi người hiền ra giúp dân, giúp nước. Cuối cùng, lời chiếu mang tính kêu gọi, khích lệ, vừa mềm mỏng vừa tha thiết, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa lí và tình, lập luận của Nguyễn Trãi trở nên thuyết phục, thể hiện tư tưởng tiến bộ và tầm nhìn xa rộng. Câu 2 : Hiện nay, hiện tượng “chảy máu chất xám” đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm tại Việt Nam. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng lựa chọn ra nước ngoài học tập, làm việc và sinh sống lâu dài, thay vì cống hiến cho đất nước. Hiện tượng này không chỉ phản ánh xu hướng toàn cầu hóa mà còn đặt ra nhiều suy nghĩ về môi trường phát triển trong nước. Trước hết, cần hiểu rằng “chảy máu chất xám” là sự dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc du học hay làm việc ở nước ngoài là điều bình thường. Tuy nhiên, khi số lượng người tài không quay trở về ngày càng tăng, điều đó trở thành vấn đề đáng lo ngại. Thực tế cho thấy nhiều học sinh, sinh viên giỏi sau khi du học đã chọn ở lại nước ngoài vì điều kiện làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và môi trường phát triển thuận lợi hơn. Nguyên nhân của hiện tượng này đến từ nhiều phía. Trước hết là do môi trường làm việc trong nước còn hạn chế, chưa thực sự tạo điều kiện để người tài phát huy hết năng lực. Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng cũng khiến nhiều người chưa yên tâm cống hiến. Ngoài ra, cơ sở vật chất, điều kiện nghiên cứu ở một số lĩnh vực còn thiếu thốn, chưa theo kịp các nước phát triển. Về phía cá nhân, không ít người mong muốn được trải nghiệm môi trường quốc tế, phát triển bản thân và có cuộc sống tốt hơn. Hệ quả của “chảy máu chất xám” là rất lớn. Khi nguồn nhân lực chất lượng cao rời đi, đất nước sẽ thiếu hụt lực lượng nòng cốt cho phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Điều này có thể làm chậm quá trình đổi mới và hội nhập. Đồng thời, việc đào tạo một nhân tài tốn nhiều thời gian, công sức, nếu họ không quay về cống hiến thì đó cũng là sự lãng phí nguồn lực quốc gia. Tuy nhiên, cần nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện. Không phải ai ra nước ngoài cũng là “mất đi”, bởi nếu có chính sách phù hợp, họ vẫn có thể đóng góp cho quê hương bằng nhiều cách khác nhau như hợp tác nghiên cứu, đầu tư hay chuyển giao công nghệ. Vì vậy, điều quan trọng là tạo ra môi trường trong nước đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân nhân tài. Để hạn chế tình trạng này, Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ hợp lí, tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho người tài. Đồng thời, cần đầu tư mạnh vào giáo dục, khoa học – công nghệ và cải thiện môi trường sáng tạo. Về phía bản thân mỗi người trẻ, cần có ý thức trách nhiệm với đất nước, biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. “Chảy máu chất xám” chính là một thách thức nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam nhìn nhận lại và hoàn thiện môi trường phát triển. Khi biết tận dụng và có chính sách phù hợp, nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ trở thành động lực quan trọng giúp đất nước tiến xa hơn trong tương lai.
Câu 1 (khoảng 200 chữ): Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu luận điểm rõ ràng: việc trị nước trước hết phải trọng dụng hiền tài. Luận điểm ấy được triển khai bằng cách lập luận theo trình tự hợp lí: từ lí lẽ chung đến dẫn chứng cụ thể. Ông nhắc lại thực tế lịch sử các triều đại thịnh trị như Hán, Đường nhờ biết dùng người hiền, qua đó khẳng định vai trò quyết định của nhân tài đối với sự hưng suy của đất nước. Bên cạnh đó, cách đưa dẫn chứng tiêu biểu, cụ thể (Tiêu Hà, Hàn Tín,…) giúp tăng tính xác thực. Đặc biệt, tác giả kết hợp giữa lí và tình: vừa phân tích, vừa bày tỏ nỗi lo lắng, trăn trở của nhà vua khi chưa tìm được người tài, tạo nên sức lay động. Giọng điệu khiêm nhường nhưng tha thiết cũng làm nổi bật tinh thần cầu hiền chân thành. Nhờ đó, bài chiếu không chỉ có tính chính luận mà còn giàu cảm xúc, dễ thuyết phục người đọc, người nghe. Câu 2 (khoảng 600 chữ): “Chảy máu chất xám” là hiện tượng những người có trình độ cao, tài năng rời bỏ đất nước để học tập, làm việc lâu dài ở nước ngoài. Đây đang là vấn đề đáng quan tâm ở Việt Nam hiện nay, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển lâu dài của quốc gia. Trước hết, cần hiểu rằng nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt trong thời đại tri thức. Khi những người giỏi ra đi, đất nước sẽ thiếu hụt lực lượng sáng tạo, nghiên cứu và lãnh đạo. Điều này có thể làm chậm quá trình phát triển khoa học – công nghệ, giảm sức cạnh tranh quốc gia. Trong khi đó, nhiều quốc gia phát triển lại thu hút nhân tài bằng điều kiện làm việc tốt, môi trường chuyên nghiệp và mức đãi ngộ cao, khiến việc “chảy máu chất xám” càng trở nên rõ rệt. Nguyên nhân của hiện tượng này đến từ nhiều phía. Một mặt, trong nước vẫn còn hạn chế về cơ hội phát triển, môi trường nghiên cứu, cơ sở vật chất hay chế độ đãi ngộ. Nhiều người trẻ tài năng chưa được trọng dụng đúng mức, dẫn đến tâm lí muốn tìm cơ hội tốt hơn ở nước ngoài. Mặt khác, xu thế hội nhập toàn cầu cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và làm việc quốc tế, khiến việc di chuyển nhân lực trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, không thể nhìn nhận vấn đề một chiều. Việc người Việt ra nước ngoài học tập, làm việc cũng mang lại mặt tích cực nếu họ quay trở về cống hiến hoặc đóng góp tri thức, kinh nghiệm cho quê hương. Vì vậy, điều quan trọng không phải là ngăn cản, mà là tìm cách “giữ chân” và “thu hút” nhân tài. Để hạn chế tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ. Nhà nước cần cải thiện môi trường làm việc, đầu tư mạnh cho giáo dục và khoa học – công nghệ, đồng thời có chính sách đãi ngộ xứng đáng với người tài. Bên cạnh đó, cần tạo cơ hội công bằng để mỗi cá nhân được phát huy năng lực. Về phía mỗi người trẻ, cần có ý thức trách nhiệm với đất nước, biết cân nhắc giữa lợi ích cá nhân và sự cống hiến lâu dài. Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một thách thức lớn nhưng không phải không thể giải quyết. Khi đất nước tạo được môi trường tốt và mỗi cá nhân có ý thức đóng góp, nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ trở thành động lực mạnh mẽ đưa Việt Nam phát triển bền vững trong tương lai.
Câu 1
Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu luận điểm rõ ràng: việc trọng dụng hiền tài là điều quan trọng hàng đầu để xây dựng đất nước. Để làm sáng tỏ, ông sử dụng hệ thống dẫn chứng tiêu biểu từ lịch sử Trung Hoa như chuyện Mao Toại tự tiến cử hay Ninh Thích được trọng dụng, qua đó khẳng định người hiền tài có thể xuất hiện ở nhiều hoàn cảnh khác nhau. Bên cạnh đó, tác giả còn kết hợp lí lẽ với thực tiễn, chỉ ra các con đường tiến cử nhân tài như qua quan lại giới thiệu, qua thi cử hay tự tiến cử. Cách lập luận vừa logic vừa linh hoạt, dẫn dắt từ quá khứ đến hiện tại, từ lí thuyết đến thực hành. Ngôn ngữ trang trọng, giàu sức thuyết phục, thể hiện tầm nhìn sâu rộng và tư tưởng tiến bộ của tác giả. Nhờ đó, văn bản không chỉ có giá trị chính trị mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Câu 2
Hiện tượng “chảy máu chất xám” đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm ở Việt Nam hiện nay. Đây là tình trạng những người có trình độ cao, tài năng rời bỏ đất nước để học tập, làm việc và định cư ở nước ngoài. Điều này không chỉ gây tổn thất về nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của quốc gia.
Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ nhiều phía. Trước hết, môi trường làm việc trong nước đôi khi chưa thực sự tạo điều kiện để người tài phát huy năng lực. Cơ chế đãi ngộ, cơ hội thăng tiến, điều kiện nghiên cứu còn hạn chế khiến nhiều người lựa chọn ra nước ngoài – nơi có môi trường chuyên nghiệp, hiện đại hơn. Bên cạnh đó, một số cá nhân cũng có tâm lí sính ngoại, mong muốn được trải nghiệm và khẳng định bản thân ở những quốc gia phát triển. Ngoài ra, chính sách thu hút và giữ chân nhân tài ở nước ta vẫn chưa đủ mạnh và đồng bộ.
Hệ quả của “chảy máu chất xám” là rất lớn. Khi người tài rời đi, đất nước mất đi lực lượng quan trọng trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục… Điều này làm chậm quá trình đổi mới và giảm sức cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, việc đào tạo một người tài tốn rất nhiều thời gian và chi phí, nên khi họ ra đi, đó cũng là một sự lãng phí nguồn lực.
Tuy nhiên, không thể nhìn nhận vấn đề một cách hoàn toàn tiêu cực. Trong bối cảnh hội nhập, việc học tập và làm việc ở nước ngoài cũng giúp người Việt tiếp cận tri thức tiên tiến. Vấn đề quan trọng là làm sao để thu hút họ quay trở về đóng góp cho quê hương.
Để hạn chế tình trạng này, cần có những giải pháp thiết thực. Nhà nước cần hoàn thiện chính sách đãi ngộ, tạo môi trường làm việc minh bạch, công bằng, khuyến khích sáng tạo. Các cơ quan, tổ chức cần trọng dụng nhân tài đúng cách, tránh tình trạng lãng phí chất xám. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nâng cao ý thức trách nhiệm với đất nước, không ngừng học hỏi nhưng cũng sẵn sàng cống hiến khi có cơ hội.
Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một thách thức nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam nhìn nhận lại chính sách phát triển nhân lực. Nếu có hướng đi đúng đắn, chúng ta hoàn toàn có thể biến “chảy máu chất xám” thành “tuần hoàn chất xám”, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển.
Bài 2
Câu 1
Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ và thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu luận điểm rõ ràng: muốn đất nước thịnh trị thì phải trọng dụng hiền tài. Từ đó, ông triển khai lập luận theo trình tự hợp lí: đi từ lí lẽ chung đến thực tiễn cụ thể. Nguyễn Trãi sử dụng hàng loạt dẫn chứng lịch sử tiêu biểu như việc các bậc hiền thần thời Hán, Đường tiến cử người tài, nhằm chứng minh vai trò quan trọng của việc dùng người. Các dẫn chứng được liệt kê ngắn gọn nhưng giàu sức gợi, tạo độ tin cậy cao. Bên cạnh đó, ông còn kết hợp lí lẽ với cảm xúc khi bày tỏ nỗi lo lắng của nhà vua trước tình trạng thiếu nhân tài, từ đó khơi dậy trách nhiệm của quần thần. Đặc biệt, cách lập luận linh hoạt, vừa nêu gương xưa, vừa đề ra chính sách cụ thể như thưởng phạt, cho phép tự tiến cử,… đã làm cho bài chiếu không chỉ có tính lí luận mà còn mang tính thực tiễn sâu sắc. Nhờ vậy, lời kêu gọi trở nên chân thành, thuyết phục và có sức lan tỏa mạnh mẽ.
Câu 2
Hiện nay, hiện tượng “chảy máu chất xám” đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm ở Việt Nam. Đây là tình trạng người có trình độ cao, tài năng, đặc biệt là trí thức trẻ, lựa chọn làm việc và sinh sống ở nước ngoài thay vì cống hiến cho đất nước. Hiện tượng này không chỉ ảnh hưởng đến nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn tác động lâu dài đến sự phát triển của quốc gia.
Trước hết, cần hiểu rằng “chảy máu chất xám” là hệ quả của nhiều nguyên nhân khác nhau. Một trong những nguyên nhân chính là môi trường làm việc trong nước chưa thực sự hấp dẫn. Nhiều người tài chưa được tạo điều kiện phát huy năng lực, thiếu cơ hội thăng tiến hoặc đãi ngộ chưa tương xứng. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, điều kiện nghiên cứu khoa học ở một số lĩnh vực còn hạn chế, khiến họ tìm đến những quốc gia có môi trường phát triển tốt hơn. Ngoài ra, tâm lí sính ngoại và mong muốn có cuộc sống ổn định, thu nhập cao cũng góp phần thúc đẩy hiện tượng này.
Hậu quả của “chảy máu chất xám” là vô cùng nghiêm trọng. Trước hết, đất nước mất đi nguồn nhân lực chất lượng cao – lực lượng nòng cốt trong việc đổi mới và sáng tạo. Điều này làm chậm quá trình phát triển kinh tế, khoa học – công nghệ. Không những vậy, nó còn gây lãng phí nguồn lực đào tạo khi nhà nước và gia đình đã đầu tư rất nhiều cho việc học tập của họ. Về lâu dài, nếu tình trạng này không được cải thiện, Việt Nam có thể tụt hậu so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên, không thể chỉ nhìn nhận vấn đề theo hướng tiêu cực. Việc người Việt Nam ra nước ngoài học tập và làm việc cũng có thể mang lại những lợi ích nhất định nếu họ quay trở về đóng góp cho quê hương. Vì vậy, điều quan trọng là cần có những chính sách phù hợp để thu hút và giữ chân nhân tài. Nhà nước cần cải thiện môi trường làm việc, nâng cao chế độ đãi ngộ, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu và sáng tạo. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế công bằng, minh bạch trong tuyển dụng và sử dụng nhân lực. Về phía mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nâng cao ý thức trách nhiệm đối với đất nước, không chỉ tìm kiếm lợi ích cá nhân mà còn hướng đến sự phát triển chung.
Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự chung tay giải quyết từ cả nhà nước và mỗi cá nhân. Khi có chính sách hợp lí và ý thức cống hiến được nâng cao, nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ trở thành động lực mạnh mẽ giúp Việt Nam phát triển bền vững trong tương lai.
Câu 1 : " Chiều cầu hiến tài" là tác phẩm thể hiện năng lực lập luận bậc thầy của Nguyễn trãi . Mở đầu, ông nêu chân lý trị nước:" được thịnh trị tất ở việc cử hiển" đệ khẳng định vai trò then chốt của hiền và tài tạo tiền đề bền vững cho toàn bộ tác phẩm. Nối tiếp , ông sử dụng phép lập luận quy nạp, dẫn hàng loạt dẫn chứng tiêu biểu từ sách trung hoa như: tiêu hà tào tham, địch nhân kiệt,... cách nêu này dẫn chứng một cách cụ thể, xác thực khiến lí lẽ trở nên đáng tin ,đồng thời đề cao truyền thống tiến cử , vừa gợi mở cho quan lại đương thời noi theo.Từ xưa đến nay, ông quay về "nay trâm", dùng lỗi lập luận diễn dịch để ban hành chủ trương: quan tam phẩm trở lên phải tiến cử, người tài được tự tiến. Đặc biệt, giọng văn khiêm nhường "như gần vực sâu", kết hợp biện pháp so sảnh, điển tích Mao Toại, Ninh Thích đã xóa bỏ tâm lý e ngại “bán rao ngọc", khuyến khích người tài mạnh dạn ra giúp nước. Lập luận chặt chẽ, giàu sức lay động, vừa có lý vừa có
Câu 2
Hiền tài là nguyên khí quốc gia,Được đất nước hết sức coi trọng và nâng đỡ. thế nhưng một thực trạng đáng lo ngại đang diễn ra là chảy máu chất xám
Chảy máu chất xám tức những người tài giỏi,trí thức trẻ được đất nước và quê nhà hết mình nâng đỡ nhưng lại lựa chọn ở lại nước ngoài làm việc thay vì cống huyến những gì học được từ bên ngoài cho đất nước.
Có hai nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng này. Trước tiên là khách quan, các nước phát triển có môi trường làm việc , học tập ,cùng với đó trình độ cao, nhờ đó người trẻ dễ dàng nhìn thấy được những lộ trình thăng tiến rõ ràng, đại ngộ tốt và được tôn trọng giá trị của bản thân cao hơn.so sánh với trong nước, nhiều cơ quan vẫn có những thủ tục rườm rà, mức lương thấp không đáp ứng nhu cầu sống ở các thành phố lớn. Nhìn thấy những điều hấp dẫn như vậy từ nước ngoài người trẻ sinh ra tâm lý muốn hưởng thụ thành quả bản thân làm ra, muốn có người trình độ đủ cao để hiểu những gì họ làm đồng thời tạo điều kiện tốt hơn cho gia đình, đây là nguyên nhân chủ quan của người tài tức tâm lý của người tài.
Hậu quả của việc chảy máu chất xám thể hiện rất rõ.Thứ nhất, Quốc gia mất nguồn nhân lực chất lượng cao mà nhà nước đã đầu tư hàng chục năm đào tạo , cùng với đó, các ngày hot như công nghệ, y học,.... Thiếu chuyên gia đầu ngành, đất nước đi mãi sau cuộc đuổi đua đổi mới sáng tạo. Và cuối cùng, nó tạo cho thế hệ trẻ tâm lý học giỏi để đi ra ngoài kiếm tiền tốt hơn, làm giảm động lực cống hiến.
Tuy nhiên, ta không nên nhìn nhận vấn đề này một cách cực đoan. Nhiều trí thức ở nước ngoài vẫn đang đóng góp bằng cách chuyển giao công nghệ, đầu tư công nghệ về nước và đào tạo từ xa phổ cập kiến thức cho tài năng trẻ trong nước.Giải pháp để tránh chảy máu chất xám diễn ra, đất nước cần cải thiện môi trường xanh nước, đổi mới cơ chế tuyển dụng, trả lương theo năng lực sản phẩm tức những người làm ra sản phẩm tốt hơn có quyền được thêm hoa hồng, vừa công bằng lại vừa nêu lên những giá trị của người tài.
Chảy máu chất xám là thách thức , nhưng cũng là phép thử cho năng lực của quốc gia. Khi người tài thấy tài năng của mình được trọng dụng được công nhận họ sẽ trở về.