Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Gợi ý trả lời
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là: biểu cảm.
Câu 2: Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều sau: : tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết.
Câu 3:
Điệp cấu trúc “nếu là … con hãy (con phải) được lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành một người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu.
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản.
Câu 4:
Thông điệp:
Phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là: biểu cảm
Câu 2:
Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều: tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết
Câu 3:
Phép điệp cấu trúc: nếu là….con hãy.
Được lặp di lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành 1 người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản
Câu 4:
Theo em, thông điệp có ý nghĩa nhất là: phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. Vì khi chúng ta mở rộng tấm lòng, chia sẻ với người khác những niềm vui,nỗi buồn của mình, học cách lắng nghe, đồng cảm, sẻ chia với những buồn vui, khó khăn của người khác. Khi đó, ta sẽ thấy yêu đời và yêu người hơn, cuộc sống này ấm áp yêu thương và đáng sống biết bao.
5,
Biện pháp điệp từ được sử dụng trong câu thơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” nhằm tạo nên sự đối ứng trong một câu thơ:
- Gợi lên sự khắc nghiệt, nguy hiểm của chiến tranh (hình ảnh súng sẵn sàng chiến đấu).
- Thể hiện sự chung sức, cùng nhau đoàn kết, chiến đấu.
6,
Từ “tri kỉ” có nghĩa: thấu hiểu mình, hiểu bạn như hiểu bản thân mình.
Câu thơ trong bài Ánh trăng của Nguyễn Duy có chứa từ tri kỉ:
“Vầng trăng thành tri kỉ”
Từ tri kỉ trong bài Đồng chí diễn tả sự thấu hiểu giữa 2 người lính cùng chiến tuyến, cùng lý tưởng chiến đấu, cùng hoàn cảnh chiến đấu.
Từ tri kỉ trong bài Ánh trăng diễn tả sự đồng điệu thấu hiểu của trăng với con người, của con người với chính quá khứ của mình.
Tri kỉ trong bài "Đồng chí" tuy hai nhưng một.
7,
Câu “Đồng chí!” là câu đặc biệt, sâu lắng chỉ với hai chữ “đồng chí” và dấu chấm cảm, tạo thành nét điểm tựa và điểm chốt, như câu thơ bản lề nối hai phần của bài thơ.
Nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, một tiếng gọi trầm, xúc động từ trong tim, lắng đọng trong lòng người về 2 tiếng mới mẻ, thiêng liêng đó.
→ Câu thơ giống như một ngôi sao sáng làm nổi bật và sáng bừng cả bài thơ, là kết tinh của 1 tình cảm cách mạng.
8,
- Âm hưởng của bài thơ tươi vui, khỏe khoắn, khẩn trương khiến cho khung cảnh lao động trở nên nhộn nhịp, náo nức tới kì lạ.
- Cách gieo vần, nhịp kết hợp với thể thơ bảy chữ tạo tiết tấu, âm hưởng rộn rã.
- Lời thơ dõng dạc giọng điệu như khúc hát mê say hào hứng, cách gieo vần biến hóa linh hoạt.
- Vần trắc xen lẫn vẫn bằng, vần liền xen lẫn vần cách. Vần trắc tạo nên sức dội, sức mạnh. Tạo nên sự bay bổng làm nên âm hưởng sôi nổi, phơi phới, giàu sức sống.
9,
- Hoàn cảnh sáng tác: giữa năm 1958, Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ của Huy Cận mới thực sự nảy nở và dồi dào trở lại khi có nguồn cảm hứng về thiên nhiên đất nước, lao động cũng như cuộc sống mới.
- Mạch cảm xúc của bài thơ được trình bày theo trình tự thời gian, không gian chuyến ra khơi của đoàn thuyền cho tới khi đoàn thuyền trở về, tất cả đều mang âm hưởng của niềm vui, niềm hạnh phúc trong lao động, đổi mới.
10,
Hai câu thơ:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
- Biện pháp so sánh, nhân hóa đặc sắc.
- Huy Cận miêu tả chân thực sự chuyển động của thời khắc giữa ngày và đêm khiến cảnh biển đêm trở nên đẹp và kì vĩ, tráng lệ như trong thần thoại.
+ Gợi lên sự gần gũi của ngôi nhà thiên nhiên đang chuyển mình đi vào nghỉ ngơi, còn con người bắt đầu hoạt động lao động của mình, tạo sự bình yên với những người ngư dân ra khơi.
11,
Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá.
- Khổ thơ 1: Cảnh ra khơi trong buổi chiều hoàng hôn huy hoàng, tráng lệ và giàu sức sống.
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
+ Điểm nhìn của nhà thơ: giữa biển khơi bao la.
+ Tác giả cảm nhận độc đáo về hình ảnh mặt trời qua biện pháp nhân hóa, so sánh đặc sắc khiến cảnh biển vào đêm đẹp, kì vĩ, tráng lệ như thần thoại, nhưng gần gũi, thân quen.
+ Câu thơ khiến ta hình dung cả đoàn thuyền chứ không phải con thuyền đơn độc ra khơi.
+ Từ “lại” diễn tả công việc lao động thường ngày, nhịp lao động trở nên tuần hoàn.
+ “Câu hát căng buồm với gió khơi”: khí thế lao động phơi phới, mạnh mẽ của đoàn thuyền cũng như sức mạnh lao động làm chủ cuộc đời và biển khơi.
- Phân tích khổ thơ thứ 2:
+ Gợi sự giàu có của biển cả: cá bạc, đoàn thoi.
+ Những hình ảnh so sánh đẹp đẽ, nên thơ.
+ Hình ảnh nhân hóa “dệt” thể hiện sự giàu có.
+ Từ “ta” đầy hào hứng, tự hào không còn cái “tôi” nhỏ bé đơn độc, u buồn nữa.
→ Sự giàu có trù phú của biển cả hứa hẹn ngày ra khơi nhiều thành quả.
Hình ảnh nói quá “Thuyền ta lái gió với buồm trăng/ Lướt giữa mây cao với biển bằng”.
+ Con thuyền lúc này có gió là người cầm lái, trăng là cánh buồm → gợi sự nhịp nhàng, hòa quyện.
+ Gợi sự khéo léo như nghệ sĩ của người dân chài.
( Tự viết thành đoạn nhé)
+ Từ việc phân tích các chi tiết quan trọng trong câu chuyện mà xác định ý nghĩa truyện ( chú ý không sa đà vào phân tích truyện).
+ Trình bày những suy nghĩ về câu chuyện mà bản thân đã xác định được. Có thể lấy dẫn chứng trong văn chương và thực tế để làm rõ ý kiến của mình.
- Trong câu chuyện đã dẫn, hoàn cảnh và tâm trạng người mẹ khi về nhà, thái độ khi nghe đứa con lớn mách tội em, nỗi xúc động của người mẹ khi hiểu ra tình cảm của đứa con út cũng như dòng chữ con viết là những điều cho ta hiểu ý nghĩa truyện. Nên phân tích những chi tiết ấy.
- Một câu chuyện có thể mang đến cho người đọc nhiều suy nghĩ khác nhau. Câu chuyện trên, có thể gợi cho ta một số suy nghĩ như:
+ Nỗi tức giận dễ làm con người có thể mắc sai lầm.Vì thế, không nên nóng vội, phải hiểu rõ bản chất sự việc trước khi tỏ thái độ.
+ Con trẻ bộc lộ tình yêu thương một cách hồn nhiên, chân thành. Tình yêu thương của con mang đến cho người mẹ niềm vui và sức mạnh vượt qua khó khăn vất vả…
câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ
câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả
phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống
câu 3:
chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.
chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.
câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt.
- Trong phần trích trên, nhà văn Nguyên Ngọc nói về quá trình ông suy nghĩ, lên ý tưởng để chuẩn bị cho việc sáng tác truyện “Rừng xà nu”.
- Bài học cho quá trình hình thành ý tưởng:
+ Hình thành ý tưởng: nhà văn muốn xây dựng câu chuyện trên một nguyên mẫu có thật là cuộc khởi nghĩa của anh Đề.
+ Nhân vật chính: tên của nhân vật sẽ là Tnú để mang đậm “không khí” của núi rừng Tây Nguyên.
+ Hệ thống nhân vật: Dít, Mai, cụ Mết, bé Heng
+ Dự kiến cốt truyện: Bắt đầu và kết thúc bằng hình ảnh cây xà nu.
+ Tình huống, chi tiết truyện nổi bật: Mỗi nhân vật “phải có một nỗi đau riêng bức bách dữ dội, bật ra từ nỗi đau chung của xóm làng, dân tộc”.
+ Chi tiết đặc biệt tạo điểm nhấn: Nỗi đau đớn nhất của Tnú là phải chứng kiến cảnh đứa con bị đánh một cách tàn bạo, còn người vợ thì gục xuống ngay trước mặt anh.

1. Tóm tắt câu chuyện và điều tác giả nhận ra:Một đứa bé giúp tác giả sắp xếp đồ đạc trong phòng. Khi thấy các đồ vật đặt không đúng vị trí, nó chỉnh lại vì nghĩ rằng như vậy các đồ vật sẽ “khó chịu”. Qua câu chuyện đó, tác giả nhận ra rằng phải biết đặt mình vào vị trí của sự vật để cảm nhận cái đẹp và đó chính là tâm hồn đồng cảm của người nghệ sĩ.
2. Theo tác giả, người nghệ sĩ có sự đồng cảm khác với người thường ở chỗ:Người bình thường chỉ đồng cảm với con người hoặc động vật, còn người nghệ sĩ có thể đồng cảm với mọi sự vật xung quanh, kể cả những vật vô tri.
3. Tác dụng của việc đặt vấn đề bằng cách kể một câu chuyện:Cách mở đầu bằng câu chuyện giúp bài viết sinh động, dễ hiểu, thu hút người đọc và làm nổi bật vấn đề nghị luận mà tác giả muốn nói đến.
Câu 1:
Câu chuyện tác giả kể rằng có 1 đứa bé vào phòng tác giả sắp xếp đồ đạc ngăn gọn bởi vì cô bé thấy bứt rứt không yên.
Từ đó tác giả nhận ra điều từ câu chuyện là để tâm đến vị trí của các đồ vật đặt sao cho chúng được dễ chịu thì ta mới được thư thái và nhận ra tâm cảnh của những cái đẹp và những điều đó được phát triển ra từ sự đồng cảm.
Câu 2:
Theo em người nghệ sĩ có sự đồng cảm khác với người thường như. người thường chỉ đồng cảm với đồng loại hoặc cùng lắm với động vật mà thôi. Còn nghệ sĩ có lòng đồng cảm bao la quảng đại như tấm lòng trời đất, trải khắp vạn vật có tình cũng như không có tình
Câu 3:
Tạo sự hấp dẫn lôi cuốn người đọc và người nghe từ đầu đồng thời giúp vấn đề nghị luận trở nên gần gũi dễ hiểu và thêm sinh động hơn
Câu 1 nếu hoạ sĩ không có sự đồng cảm thì cũng chỉ là thợ vẽ mà thôi
Câu 1
Câu chuyện kể về một đứa bé vào phòng tác giả giúp sắp xếp đồ đạc. Đứa bé đã tự ý lật lại chiếc đồng hồ bị úp, chuyển chén trà từ sau quai ấm ra phía trước vòi, xếp lại đôi giày cho ngay ngắn và giấu sợi dây treo tranh bị lộ vào trong. Khi tác giả khen đứa bé chăm chỉ dọn dẹp giúp mình, đứa bé trả lời rằng nó làm Thường chỉ nhìn sự vật ở bề ngoài, mang tính sử dụng hoặc bỏ qua những chi tiết nhỏ nếu nó không ảnh hưởng trực tiếp đến công việc.
vậy chỉ vì thấy đồ vật để không thuận mắt thì cảm thấy bứt rứt không yên.
Câu 2.
Thường chỉ nhìn sự vật ở bề ngoài, mang tính sử dụng hoặc bỏ qua những chi tiết nhỏ nếu nó không ảnh hưởng trực tiếp đến công việc.
Câu 3
Tăng sức hấp dẫn: Làm cho vấn đề nghị luận (vốn khô khan) trở nên sinh động, gần gũi và thu hút người đọc ngay từ đầu. Tạo dẫn chứng thực tế: Câu chuyện đóng vai trò là một bằng chứng sống động, giúp người đọc dễ dàng hình dung và thấu hiểu thông điệp mà tác giả muốn truyền tải. Dẫn dắt tự nhiên: Từ một tình huống cụ thể, tác giả có thể khéo léo dẫn dắt sang những nhận định, lý lẽ mang tính khái quát cao hơn một cách thuyết phục và tự nhiên nhất.
Câu 1: Tóm tắt: Câu chuyện kể về một đứa bé vào phòng tác giả và giúp sắp xếp lại các đồ vật: lật lại chiếc đồng hồ quả quýt, dời chén trà, chỉnh lại đôi giày và giấu dây treo tranh vào trong. Khi được cảm ơn, đứa bé chia sẻ rằng em làm vậy vì cảm thấy "bứt rứt" khi thấy đồ vật ở trạng thái không hợp lý (như đồng hồ bị úp mặt, chén trà bị che khuất...). Đứa bé nhìn nhận đồ vật như những sinh thể có cảm xúc và đời sống riêng.
Điều tác giả nhận ra: Tác giả nhận ra giá trị của tấm lòng đồng cảm phong phú. Đó không chỉ là sự thấu hiểu giữa người với người, mà còn là khả năng "thổi hồn" vào vạn vật, nhìn thấy tâm tư của cả những vật vô tri vô giác.
Câu 2: Người thường: Thường chỉ đồng cảm với những gì gần gũi, hữu hình hoặc giữa con người với nhau.
Người nghệ sĩ: Có tâm hồn nhạy cảm đặc biệt, họ có thể đồng cảm với cả thế giới đồ vật, cỏ cây. Họ không nhìn đồ vật như công cụ mà nhìn chúng như những thực thể có linh hồn, có câu chuyện và cảm xúc riêng (như cách đứa bé thấy "đồng hồ bực bội" hay "đôi giày muốn nói chuyện với nhau").
Câu 3: Gây ấn tượng và thu hút: Câu chuyện về đứa bé hồn nhiên giúp người đọc dễ tiếp nhận vấn đề vốn khô khan của lý luận văn học/nghệ thuật một cách tự nhiên, gần gũi.
Tạo tính thuyết phục: Câu chuyện đóng vai trò là một minh chứng thực tế, sinh động (dẫn chứng), giúp các luận điểm sau đó trở nên cụ thể và có sức nặng hơn.
Khơi gợi cảm xúc: Cách đặt vấn đề này giúp người đọc không chỉ hiểu bằng tư duy mà còn cảm nhận bằng trái tim, từ đó dễ dàng đồng điệu với quan điểm của tác giả.
câu1
Tóm tắt: Câu chuyện kể về một đứa trẻ vào phòng tác giả và giúp ông sắp xếp lại đồ đạc. Đứa bé không chỉ dọn dẹp mà còn chú ý chỉnh lại từng chi tiết nhỏ: lật lại chiếc đồng hồ úp mặt, dời chén trà ra trước vòi ấm, đảo lại đôi giày cho ngay ngắn và giấu dây treo tranh vào trong. Khi được khen là chăm chỉ, đứa bé trả lời rằng nó làm vậy vì cảm thấy "bứt rứt" khi thấy đồ vật bị đặt sai chỗ. Điều tác giả nhận ra: Tác giả nhận ra rằng trẻ em có một tấm lòng đồng cảm vô hồn. Chúng không chỉ coi trọng con người mà còn đặt mình vào vị trí của những vật vô tri vô giác (cái đồng hồ, chén trà, đôi giày...) để cảm nhận niềm vui, nỗi buồn hay sự "khó chịu" của chúng. Đây chính là bản chất của lòng đồng cảm thực sự mà người nghệ sĩ cần có.
câu2
Theo tác giả, sự khác biệt nằm ở phạm vi và mức độ của sự đồng cảm: -Người thường: Thường chỉ đồng cảm với đồng loại (con người với con người), hoặc cùng lắm là với các loài động vật có cảm xúc. -Người nghệ sĩ: Có lòng đồng cảm bao la, vượt ra ngoài ranh giới giữa con người và vật thể. Họ có khả năng "vạn vật hữu linh", biết đặt mình vào vị trí của hoa cỏ, chim muông, hay thậm chí là bàn ghế, đồ vật để cảm nhận thế giới. Nhờ sự đồng cảm này, người nghệ sĩ mới có thể sáng tạo ra những tác phẩm có hồn và tràn đầy sức sống.
câu 3
Việc mở đầu bài văn nghị luận bằng một câu chuyện (phương thức tự sự kết hợp nghị luận) có những tác dụng sau: Gần gũi và hấp dẫn: Giúp người đọc dễ dàng tiếp nhận vấn đề vốn mang tính lý luận, triết học một cách tự nhiên, không bị khô khan. Tạo dẫn chứng sinh động: Câu chuyện thực tế về đứa trẻ là minh chứng thuyết phục nhất cho khái niệm "lòng đồng cảm", giúp người đọc hình dung rõ ràng về luận điểm mà tác giả sắp trình bày. Gợi mở suy ngẫm: Từ một tình huống cụ thể, tác giả dẫn dắt người đọc đến những vấn đề rộng lớn hơn về nghệ thuật và nhân sinh, tạo sự kết nối cảm xúc giữa người viết và người đọc.
Câu 1
-Tóm tắt:
Một đứa bé giúp tác giả sắp xếp đồ đạc, nó chỉnh từng vật (đồng hồ, chén trà,đôi giầy, bức tranh) vì thấy chúng không ngọn gàng, ngăn nắp.Khi được khen, nó nói rằng khi thấy mọi thứ như thế nó không chịu được.
-Điều tác giả nhận ra:
Từ góc nhìn của đứa bé, tác giả nhận ra tầm quan trọng của sự đồng cảm khi biết đặt mình vào vị trí của sự vật để sắp xếp, nhìn nhận cho hợp lý, từ đó tạo nên cái đẹp và sự hài hòa.