Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Bài thơ Những cánh buồm của Hoàng Trung Thông đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc. Qua hình ảnh cánh buồm trắng trên biển khơi, tác giả đã gợi lên ước mơ, khát vọng vươn tới chân trời mới của tuổi thơ. Cánh buồm không chỉ là kỉ niệm gắn với người cha lam lũ, mà còn là biểu tượng của niềm tin và hi vọng mà cha muốn gửi gắm cho con. Đọc bài thơ, em cảm nhận được tình phụ tử thiêng liêng, giản dị mà vô cùng ấm áp. Đồng thời, em cũng thấy được ước mơ lớn lao của thế hệ trẻ: muốn đi xa, muốn khám phá, muốn cống hiến. Bài thơ giúp em thêm yêu cha mẹ, biết trân trọng những tình cảm thân thương và nuôi dưỡng cho mình những khát vọng tươi đẹp trong cuộc sống.
Tham khảo nhé: Mẫu 1: Bài thơ "Những cánh buồm" của Hoàng Trung Thông đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc. Tác phẩm không chỉ khắc họa hình ảnh những cánh buồm căng gió trên biển cả mà còn gợi lên những ước mơ, khát vọng vươn ra khơi xa của con người. Qua từng câu thơ, em cảm nhận được sự mạnh mẽ, tự do và khát khao chinh phục những chân trời mới. Hình ảnh những cánh buồm như biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, cho tinh thần dũng cảm và ý chí không ngừng vươn lên. Bài thơ đã truyền tải một thông điệp tích cực về cuộc sống, khuyến khích mỗi người hãy luôn theo đuổi ước mơ của mình, bất chấp những khó khăn, thử thách. Em cảm thấy rất tự hào khi được học và cảm nhận vẻ đẹp của tác phẩm này. Mẫu 2: Bài thơ "Những cánh buồm" của Hoàng Trung Thông đã gửi gắm nhiều thông điệp giá trị về tình cảm cha con. Mở đầu, tác giả đã vẽ nên một bức tranh rất đẹp đẽ. Trong tranh, cha đang dắt con đi dạo trên bãi biển. Ánh mặt trời chiếu xuống, phản chiếu bóng của cha và con. Bóng cha dài lênh khênh còn bóng con lại tròn chắc nịch. Hình ảnh này gợi ra sự khác biệt giữa hai thế hệ. Người cha mang dáng vẻ trưởng thành, còn đứa con thì nhỏ bé. Cha và con bước đi trong một khung cảnh thiên nhiên đầy thơ mộng. Bãi cát trải dài mịn màng, nước biển thì trong xanh. Ánh nắng của buổi sớm mai mang sắc hồng rực rỡ. Lắng nghe tiếng bước chân của con, lòng cha cảm thấy vui vẻ, sung sướng. Thế rồi, đứa con bỗng chỉ về phía xa và hỏi người cha. Câu hỏi chứa đựng sự tò mò của trẻ thơ, khao khát được chinh phục, khám phá thế giới. Tiếng “Cha ơi!” vang lên có chút trìu mến, thân thương. Cha mong rằng con có được khám phá thế giới rộng lớn ngoài kia. Đến những câu thơ cuối, hình ảnh người cha dắt con đi được lặp lại. Người cha dường như bắt gặp bản thân ở trong đứa con. Và người cha gửi gắm mong muốn đó vào đứa con thân yêu của mình. Hoàng Trung Thông đã sử dụng hình ảnh gần gũi, giản dị cùng với giọng điệu hồn nhiên, trong sáng. “Những cánh buồm” là một bài thơ có thông điệp giá trị về tình cảm cha con. Tôi rất yêu thích bài thơ Những cánh buồm.
Tham khảo
Đây là hai câu thơ đẹp, Tế Hanh đã viết bằng cả tấm tình mến yêu tha thiết làng quê mình. Nhà thơ đã sử dụng, nghệ thuật so sánh, cánh buồm trên con thuyền ra khơi với mảnh hồn làng.
Cánh buồm là vật thể hữu hình, được so sánh với hồn làng, hồn vía của làng chài: cái vô hình, vô ảnh; cái cụ thể với cái trừu tượng, cái vật chất với cái tinh thần, cái bình dị với cái thiêng liêng. Nhà thơ đã linh hồn hóa cánh buồm, thể hiện sự cảm nhận tinh tế, chính xác về hồn quê hương, gợi rất đúng hồn quê thân thuộc.
“Chiếc buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”.
Quê hương - Tế Hanh.
Hai câu thơ trên đã vẽ lên một hình ảnh tuyệt đẹp: cánh buồm trắng no căng gió đưa con thuyền vượt lên phía trước. Tế Hanh đã có một so sánh rất lạ: "Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”. Phép so sánh thường lấy đối tượng trừu tượng so sánh với đối tượng cụ thể để người đọc, người nghe hình dung rõ về đối tượng trừu tượng đó. Trong phép so sánh của Tế Hanh, nhà thơ lại lấy một hình ảnh cụ thể “cánh buồm” để so sánh với một hình ảnh trừu tượng” mảnh hồn làng”. Viết như vậy thật độc đáo! "Mảnh hồn làng” gợi đến truyền thống chăm chỉ, cần cù và bao đức tính quí báu của người dân vùng biển. So sánh “cánh buồm ” với “mảnh hồn làng” khiến hình ảnh cánh buồm trở nên thiêng liêng, xúc động biết bao. Không chỉ vậy, cánh buồm “rướn thân trắng bao la thâu góp gió”. Động từ “rướn “ rất mạnh mẽ và hình ảnh "rướn thân trắng” cũng vô cùng gợi cảm, nó gợi đến sự trong sáng, vẻ thuần khiết của “cánh buồm” và cũng là của “mảnh hồn làng”. Không chỉ vậy, cánh buồm “rướn thân trắng” để “bao la thấu góp gió” của đại đương và biển cả còn thể hiện khao khát chinh phục tự nhiên và vũ trụ của con người. Qua hình ảnh cánh buồm tuyệt đẹp, Tế Hanh đã thể hiện tâm hồn khoáng đạt của người dân làng chài “quê hương”.
1, Thơ cũ giam mình trong lốt hổ, nhà thơ tả hổ sa cơ bằng bút pháp và kích cỡ vung ngang, chém dọc rất tự nhiên, ngẫu hứng, sắc bén bằng tố chất mới lạ của Thơ Mới?
Nếu trước đó, nhà thơ miền Nam Đông Hồ đã ví thơ cũ như "Chiếc áo năm xưa đã cũ rồi", cũ về màu sắc đặt định, cũ cả về kích thước của cảm xúc… thì giờ đây Thế Lữ không muốn chỉ ra hết tất thảy nhược điểm của thơ cũ. Trái lại, chừng như ông nhìn thấy hồn thơ cũ vẫn còn âm vang trong Thơ Mới, có điều nó được diễn đạt thoải mái hơn, tự do hơn. Con hổ bị giam nhưng vẫn cố ánh lên thứ khí phách phi thường bằng đặc chất của chủ nghĩa lãng mạn qua những ngôn từ cực mạnh của của "gió rừng", của "giọng nguồn hét núi", của những động từ dữ dội: "thét, dõng dạc, cuộn, quắc…":
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể muôn của loài
Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.
"Đâu… đâu… đâu…?" điệp động liên hồi về một quyền năng chỉ còn trong hoài niệm của hổ. Sự khuôn định, niêm luật khắt khe chưa hẳn là thế mạnh của thơ cũ, ngược lại nó gò bó thơ cũ. Nhưng tính súc tích, cô đọng về ngôn từ của thơ cũ vẫn có thể vận dụng để làm giàu đẹp cho Thơ Mới. Yêu tự do, muốn vượt mọi khuôn định, nhưng sự dài dòng, khuynh hướng viết "thoải mái", "tràng giang" nhất địng không thể là thế mạnh của Thơ Mới, mà nó đã vấp phải trong giai đoạn sơ khai.
Phải chăng ngoài sự thắng lợi của Thơ Mới, vị chủ tướng Thế Lữ vẫn còn rất trân trọng với thơ cũ về năng lực đậm đặc và súc tích của nó? Nếu như vậy, "Nhớ rừng" của Thế Lữ đã mở ra triển vọng cho Thơ Mới về cả hai cực: tiến tới sự phóng khoáng của ngày mai trong sự kế thừa, chắt lọc bao tinh túy của cái hôm qua?
2.
Một trong những cây bút vàng trong làng văn học Việt về thơ ca là nhà thơ Tế Hanh . Nổi bật nhất trong số những bài thơ ông sáng tác là bài " Quê hương"/ Bài thơ với những vần thơ bình dị mà gợi cảm, thể hiện nỗi niềm thương nhớ da diết của tác giả đối với quê nhà. Cả bài thơ như một bức tranh sinh động, vẽ nên một miền quê chài lưới bình dị, yên ả mà rất đỗi nên thơ. Cùng đó, tác giả còn cho thấy sự khỏe khoắn, đầy sức sống của những con người nơi đây. Qua khổ thơ cuối của bài thơ, là những tình cảm giản dị hiện lên tha thiết, tuy sâu lắng mà lại da diết khôn nguôi. Là kỉ niệm sâu đậm thời niên thiếu, là tác phẩm mở đầu cho nguồn cảm hứng về quê hương trong thơ Tế Hanh, bài thơ đã được viết bằng tất cả tấm lòng yêu mến thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng, yêu mến những con người lao động cần cù.
Câu 1 : Khi trời trong gió nhẹ nắng mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồn giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.
Câu 2 : Biện pháp tu từ được sử dụng trong 2 câu cuối là : so sánh và nhân hóa .
`-` Tác dụng : Tạo nên một khung cảnh thiên tươi sáng, làm cho câu văn hay hơn, thêm sinh động hình ảnh cánh buồm.
Câu 3 : Tham khảo:
Trong bài thơ Quê hương, khổ thơ thứ hai đã thể hiện được khung cảnh ra khơi của đoàn thuyền, người dân làng chài và tình yêu quê hương của tác giả. Thật vậy, khổ thơ mở đầu với hình ảnh "Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng" là một khung cảnh bình minh tươi đẹp bao phủ lên toàn bộ làng chài. Đó cũng là lúc mà người dân chèo thuyền ra khơi "Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá". Hình ảnh so sánh đầu tiên "Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã". Chiếc thuyền ra khơi được so sánh với hình ảnh của một con ngựa khỏe mạnh, đã khẳng định được khí thế phăng phăng, lao động hăng say của người dân trên chiếc thuyền ấy. Động từ "phăng" được đảo lên đầu câu thơ, kết hợp từ "vượt" và hình ảnh "trường giang" đã khẳng định được sự khỏe mạnh của những người dân chèo thuyền ra khơi. Họ mang theo sức mạnh, của cải của mình để đưa chiếc thuyền ra khơi, vượt qua bao sóng gió trên sông dài biển rộng. Ôi, đặc biệt hơn hình ảnh thơ tuyệt đẹp "Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng! Rướn thân trắng bao la thâu góp gió" là một hình ảnh so sánh, ẩn dụ, nhân hóa tuyệt đẹp. Cánh buồm trắng ra khơi no gió như linh hồn của toàn bộ ngôi làng chài, vì nó chở theo những ước mơ, khát vọng của người dân về một cuộc sống ấm no, đủ đầy. Phải chăng cánh buồm ấy in hằn vào sâu trong tâm trí của mỗi người dân, vì nó là tình yêu, là cả cuộc sống của họ? Từ "rướn, thâu góp" là những từ ngữ chọn lọc một cách tuyệt vời của tác giả. Cánh buồm trắng trở nên sinh động, có hơn, như một cơ thể sống mang theo linh hồn, ước mơ và khát vọng của toàn thể những người dân làng chài. Tóm lại, khổ thơ thứ hai đã miêu tả sinh động và chân thực khung cảnh ra khơi của người dân làng chài với khí thế hào hùng và mong ước ấm no của họ.
`-` Câu nghi vấn : in đậm