Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá của nhân loại. Rừng giúp cân bằng hệ sinh thái, nhờ có rừng mà một số loài động vật, thực vật còn có thể tồn tại đến ngày nay. Rừng cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc phát triển ngành du lịch. Rừng có nhiều lợi ích như thế, nhưng.... hiện nay rừng như thế nào? Hiện nay, diện tích rừng ngày càng giảm do khai thác một cách bừa bãi. Không những thế lượng lâm sản ngày càng tăng, song một số loài cây lớn đã tuyệt chủng. Khi diện tích rừng giảm đồng nghĩa với việc đất bị trôi, bạc màu, đất giữ nước kém, đất thoái hóa trầm trọng. Vì thế chúng ta cần làm gì? Để khắc phục điều này chúng ta cần phải khôi phục rừng bằng nhiều biện pháo khác nhau: trồng rừng, hạn chế khai thác rừng một cách bừa bãi,...
Hậu quả của việc tàn phá rừng
+làm cho đất bị bạc màu, tăng khả năng xói mòn đất làm đất dễ bị rửa trôi.
+gây ô nhiễm môi trường, biến đổi khì hậu
+làm mất nơi cư trú của nhiều loài động vật.
vai trò hiện chưa kể hết được!
Rừng là vai trò quan trọng trong cuộc sống chúng ta ngày nay. Biết giữ gìn rừng là biết giữ gìn chính bản thân ta. Rừng là gì? Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước, là một bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với đời sống và sản xuất của xã hội. Nếu chúng ta tàn phá rừng, thì sẽ gây ra hậu quả cực kì nghiêm trọng. Chặt phá rừng thì bão cát sẽ tràn tới, luc lụt kéo đến, phá tan và cuốn trôi đi nhà cửa, con người, động vật, là do ai? Do chính tay con người tạo dựng. Nếu không có rừng chúng ta có lẽ đã chết vì không có khí O2 để hô hấp. Vì những lí do trên nên chúng ta cần phải xây dựng nền tảng rừng hợp lí. Trồng rừng đầu nguồn để chống những cơn lũ quét tràn xuống, tuần tra, bảo vệ rừng, trồng cây ở đường phố, khu dân cư giúp con người hô hấp đều đặn, trồng rừng ở ven biển sẽ ngăn chặn nước biển dâng, ngăn chặn ngập mặn. Tất cả đều phải phủ một màu xanh tươi của rừng. Giáo dục ý thức bảo vệ rừng. Rừng là lá phổi xanh của nhân loại.
Rừng là nguồn tài nguyên quý giá mà mẹ thiên nhiên đã ban tặng cho loài người chúng ta.Tuy nhiên,rừng cũng là một nguồn tài nguyên có hạn nên loài người phải biết khai thác một cách hợp lí.Như chúng ta đã biết,thành phần chính của rừng là cây xanh,mà cây xanh lại có tác dụng rất lớn đối với môi trường sống của con người.Không chỉ đơn thuần là tạo bóng mát,làm đẹp cho phố phường mà hơn hết cây xanh còn làm điều hòa khí hậu,giúp con người chống lại được những thiên tai,thảm họa.Không những thế rừng còn là nơi du lịch sinh thái vô cùng lí tưởng bởi vẻ đẹp hoang sơ,mộc mạc mà khó nơi nào có được.
Hiện nay,nhiều người chỉ vì lợi ích của bản thân mà không ngưng tay khai thác rừng một cách bừa bãi mặc dù hằng ngày,hằng giờ trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn luôn luôn tuyên truyền rộng rãi về ý thức bảo vệ môi trường để giúp môi trường xanh-sạch-đẹp.Họ chỉ biết khai thác mà không hề nghĩ đến việc mà họ làm đang khiên mẹ thiên nhiên đâu đớn và khổ sở biết nhường nào.Hằng ngày,mẹ luôn gào khóc và van xin sự giúp đỡ từ con người chúng ta trong vô vọng.Con người là nguyên nhân chính khiên môi trường từng ngày cành suy giảm như ngày hôm nay.Tại sao thay vào hành động vô ý thức kia không phải là hành động mà tất cả mọi người đều cảm thấy thán phục:đó chính là rồng rừng.trồng rừng để những tán cây xanh ngày càng vươn cao và to lớn hơn để bù đắp phần nào những mất mác và đau đớn mà "rừng"đang chịu.Còn riêng về phần chính bản thân mình-chúng ta-những học sinh hãy cố gắng hết sức để tuyên truyền cho mọi người dân địa phương mình cách khai thác rừng hợp lí,và cả cách để cùng chung tay với đồng bào cả nước bảo vệ lá phổi của Trái Đất.
Mk ms vừa nghĩ ra mong các bn hk chê.HÌ HÌ
![]()
Rừng là tài nguyên quý giá mà thiên nhiên ban lại cho con người. Tuy thế, rừng cũng là tài nguyên có hạn nên chúng ta phải biết cách khai thác rừng một cách hợp lí. Rừng có nhiều vai trò quan trọng đối với con người, cung cấp bóng mát, ôxi, là nơi giữ nước, phòng chống lũ lụt. Khi ta khai thác đi một cây rừng cũng là lúc ta phải lập tức trồng ngay vào đó một cây rừng mới để nó phát triển và phát huy vai trò của mình. Nếu không làm được như thế, con người ta cứ phá rừng thì chắc hẳn một ngày nào đó chúng ta sẽ phải trả giá đắt.
tài nguyên rừng của nước ta rất phong phú về số lượng và chủng loại. Hiện nay,ở nhiều nơi, rừng đang bị tàn phá nghiêm trọng.
1.
Chăn nuôi là ngành cổ xưa nhất của nhân loại, nó cung cấp cho con người thực phẩm có dinh dưỡng cao (thịt, sữa. trứng). Sản phẩm của ngành chăn nuôi còn là nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng (tơ tằm. lông cừu, da), cho công nghiệp thực phẩm (đồ hộp), dược phẩm và cho xuất khẩu. Ngành chăn nuôi còn cung cấp sức kéo và phân bón cho ngành trồng trọt, tận dụng phụ phẩm của ngành trồng trọt.
3.Vật nuôi đặc sản : lợn Móng Cái - Quảng Ninh
gà Đông Tảo - Hưng Yên
lợn Mường - Hòa Bình
dê núi Ninh Bình
bò tơ Củ Chi
..............
Khác với vật nuôi thường vì :
_ Vật nuôi đặc sản có chất lượng cao
_ Được sử dụng làm nguyên liêu chế biến món ăn đặc sản và được nhiều nhười ưa thích
_ Vật nuôi đặc sản có giá bán cao hơn nhiều lần so với vật nuôi thường
4.
Hậu quả : - Lớp đất màu mỡ bị rửa trôi.
- Khí hậu thay đổi.
- Thường xuyên có lũ lụt, hạn hán xảy ra.
- Đất bị xói mòn trở nên bạc màu.
- Động và thực vật quý hiếm giảm dần, một số loài đã tuyệt chủng và một số loài có nguy cơ tuyệt chủng
-Lũ lụt đến nhanh do không có gì ngăn cản
-Dễ bị ô nhiễm môi trương do không có cây xanh
-Cây xanh góp phần điều hòa khí hậu nên sẽ làm cho khí hậu bất th`
-Ô nhiễm nguồn nước và đất
-Làm nhiều động vật bị mất chỗ ở
-Mất thức ăn và ôxi cho động vật
Vai trò : _ Tuyên truyền
_ Trồng rừng mới
_ Tuần tra rừng
_ Ngăn chặn và bảo vệ được rừng
Hihi , tham khảo tạm nhé , câu 3 mink không biết làm
Tham khảo:
Trở về sau chuyến đi dài ngày. Hà Nội vẫn ồn ào xe cộ, vẫn những dãy nhà cao tầng mọc san sát nhau, vẫn hàng quán, đèn điện sáng trang hoàng. Bỗng nhớ Tây Bắc đến thế! Tôi đã đi rất nhiều nơi của tổ quốc nhưng lại chưa bao giờ có một chuyến đi nhiều cảm xúc đến vậy.
Khởi đầu hành trình, ai ai cũng mang trong mình niềm háo hức tới mất ngủ. Có biết bao những tiếng cười, những lời dặn dò và những cái bắt tay của mọi người chào chúc chúng tôi lên đường tìm về với những vẻ đẹp tiềm ẩn của miền Tây Bắc tổ quốc như tiếp thêm cho chúng tôi thêm nghị lực để khởi hành.
Đường lên Tây Bắc đẹp đến lạ kỳ: rất quanh co, trắc trở nhưng cũng đầy vẻ mênh mông thơ mộng. Tôi còn ngây ngất tưởng như không có nơi nào trên đất nước này đẹp hơn thế khi lái xe trải nghiệm vẻ đẹp nơi đây. Còn nhớ một bài hát nào đó về Tây Bắc miêu tả nơi đây với “núi vút cao trùng mây”, “suối sâu, đèo cao”.
Điều dễ nhận thấy khi đặt chân đến mảnh đất nơi đây đó chính là nhịp điệu cuộc sống đã đổi thay rất nhiều so với nơi phố thị. Trái ngược hẳn với dòng người hối hả, vội vã và những dòng xe chạy ồn ào náo nhiệt ở thành phố phồn hoa thì nơi đây, con người và cảnh vật đều rất giản đơn, bình dị, không có những dãy nhà cao tầng mà chỉ có núi và núi.
Núi thẳng đứng, núi trùng trùng điệp điệp, núi cao nối tiếp núi cao. Không những khác về quang cảnh mà cách sinh hoạt của con người nơi đây cũng rất khác. Họ giản đơn hòa mình vào thiên nhiên. Con người mưu sinh trên từng vách đá mà vẫn tươi tắn, hồn nhiên, đầy sức sống, chân thật và rất thân thiện. Tôi khó có thể quên được nụ cười ngây thơ, hồn nhiên của các em bé thơ khi chúng tôi đưa những thanh kẹo nhỏ làm quà cho chúng.
Tôi đi qua những dãy núi xanh ngắt, vẻ đẹp khiến cho tôi không còn sợ độ cao nữa. Những ngày sống giữa đại ngàn, tôi say sưa với cảnh vật và con người. Với Tây Bắc, tôi có tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và con người nơi đây một cách mãnh liệt. Trên hết, tôi hạnh phúc vì đã thực hiện được hy vọng, ước mơ ngày còn bé là được ngắm vẻ đẹp đất nước quê hương tôi.
5.Rừng đóng vai trò vô cùng quan trọng với môi trường sinh thái và đời sống con người
- Rừng đc ví như lá phổi xanh của Trái Đất. Cây từng quang hợp thu nhậm khí cacbonic và giải phóng khí oxi, lọc các khí độc hại giúp điều hòa không khí
-Rừng có tác dụng giữ nước, làm giảm dòng chảy bề mặt, khắc phục được xói mòn đất, tăng mực nước ngầm. Do vậy, rừng góp phần giảm nguy cơ lũ quét, sạt lỡ đất, hạn hán..
- Cây rừng liên tục tạo chất hữu cơ làm tăng độ phì nhiều cho đất.
- Rừng ven biển có vai trò chắn cát, chắn gió bảo, bảo vệ đê biển...
- Rừng cũng là nơi cư trú của nhiều loài động vật.
- Rừng cũng là nguồn cung cấp gỗ và nhiều loài lâm sản quan trọng khác cho đời sống và sản xuất như chế rác đồ thủ công mĩ nghệ làm nhạc, sản xuất giấy
- Rừng cung cấp nhiều dược liệu quan trọng và dự trữ nhiều vùng ven quý
- Rừn còn là nơi du lịch sinh thái, thăm quan thắng cảnh thiên nhiên.
* Với bản thân là học sinh cần làm những việc để bảo vệ môi trường là:
- Làm cỏ, chăm sóc rừng thường xuyên
- Ngăn chặn và cấm phá hoại tài nguyên rừng và đất rừng
- Phòng chống cháy rừng đốt rừng, phá rừng
- Tuyên truyền mọi người bảo vệ rừng...
Viết bài mô tả về đặc điểm và vai trò của rừng tại địa phương em
Đây là các ý thoi nha bạn, mình sắp đi học rồi, hiện tại chưa nghĩ ra văn.
*Đặc điểm của rừng:
Xanh tốt quanh năm.
Có nhiều loài sinh vật.
Nước ta có diện tích rừng ngập mặn đứng thứ hai thế giới sau Bazil.
có rừng tán cao và rừng tán thấp.
Rừng cung cấp gỗ, bảo vệ nguồn gen, chống hạn hán, xói mòn, sạc lỡ...
Có nhiều loại rừng dựa vào cách phân loại:
Dựa vào chức năng sử dụng : rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất.
Dựa vào trữ lượng: rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng kiệt.
Dựa vào tác động của con người: rừng tự nhiên, rừng nhân tạo.
Dựa vào nguồn gốc: rừng chồi, rừng hạt.
Dựa vào tuổi: rừng non, rừng sào, rừng trung niên, rừng già.
Dựa vào quan điểm sinh học: rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới, rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới, rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới, rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới, rừng thưa cây lá kim hơi khô á đới núi thấp,...... ( 12 loại rừng).
*Vai trò của rừng:
+ Rừng cung cấp ô xi, điều hòa khí hậu.
+ Là môi trường sống của tất cả các loài sinh vật trên Trái Đất.
+ Là nguồn nguyên vật liệu cung cấp cho sản xuất và xuất khẩu.
+ Rừng chống xói mòn đất, cản sức gió và ngăn cản tốc độ chảy của dòng nước.
+ Rừng còn là nơi vui chơi, giải trí, khu vực sinh thái.
+ Là nơi các nhà khoa học tìm hiểu và thám hiểm.
Chuk bạn học tốt
Rừng giữ không khí trong lành: Do chức năng quang hợp của cây xanh, rừng là một nhà máy sinh học tự nhiên thường xuyên thu nhận CO2 và cung cấp O2.. Đặc biệt ngày nay khi hiện tượng nóng dần lên của trái đất do hiệu ứng nhà kính, vai trò của rừng trong việc giảm lượng khí CO2 là rất quan trọng.
Rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn: Rừng có vai trò điều hòa nguồn nước giảm dòng chảy bề mặt chuyển nó vào lượng nước ngấm xuống đất và vào tầng nước ngầm. Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông, con suối (tăng lượng nước sông, nước suối vào mùa khô, giảm lượng nước sông suối vào mùa mưa).
Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất: ở vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì. Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ. Điều này thể hiện ở qui luật phổ biến: rừng tốt tạo ra đất tốt, và đất tốt nuôi lại rừng tốt.
Nếu rừng bị phá hủy, đất bị xói, quá trình đất mất mùn và thoái hóa dễ xảy ra rất nhanh chóng và mãnh liệt. Ước tính ở nơi rừng bị phá hoang trơ đất trống mỗi năm bị rửa trôi mất khoảng 10 tấn mùn/ ha. Đồng thời các quá trình feralitic, tích tụ sắt, nhôm, hình thành kết von, hóa đá ong, lại tăng cường lên, làm cho đất mất tính chất hóa lý, mất vi sinh vật, không giữ được nước, dễ bị khô hạn, thiếu chất dinh dưỡng, trở nên rất chua, kết cứng lại, đi đến cằn cỗi, trơ sỏi đá. Thể hiện một qui luật cũng khá phổ biến, đối lập hẳn hoi với qui luật trên, tức là rừng mất thì đất kiệt, và đất kiệt thì rừng cũng bị suy vong, chúng ta có thể tóm tắt như sau
Điều đó đã giải thích vì sao trong việc phá rừng khai hoang trước đây ở miền đồi núi, dù đất đang rất tốt cũng chỉ được một thời gian ngắn là hư hỏng.
Ngoài ra Rừng có vai trò rất lớn trong việc: chống cát di động ven biển, che chở cho vùng đất bên trong nội địa, rừng bảo vệ đê biển, cải hóa vùng chua phèn, cung cấp gỗ, lâm sản, Rừng nơi cư trú của rất nhiều các loài động vật:. Động vật rừng nguồn cung cấp thực phẩm, dược liệu, nguồn gen quý, da lông, sừng thú là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị.
Cảm ơn các bạn đã giúp đỡ mình
cảm ơn bạn
cảm ơn bạn
Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]
Địa hình khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến từ 1–2 m trên mực nước biển, thấp dần từ bắc xuống đông nam. Thái Bình có bờ biển dài 52 km.
Tỉnh này có 4 con sông chảy qua: phía bắc và đông bắc có sông Hóa dài 35 km, phía bắc và tây bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53 km, phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông dài 65 km. Các sông này tạo ra 4 cửa sông lớn: Diêm Điền (Thái Bình), Ba Lạt, Trà Lý, Lân. Do đặc điểm sát biển nên chúng đều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh với lưu lượng lớn và hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng giảm nhiều và lượng phù sa không đáng kể khiến nước mặn ảnh hưởng sâu vào đất liền từ 15–20 km.
Khí hậu - Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]
Thái Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9; mùa đông khô lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau; tháng 10 và tháng 4 là mùa thu và mùa xuân tuy không rõ rệt như các nước nằm phía trên vành đai nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình: 23,5 °C. Số giờ nắng trong năm: 1.600-1.800 giờ. Độ ẩm tương đối trung bình: 85-90%
Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm đón nhận một lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển
Sông ngòi[sửa | sửa mã nguồn]
Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng cận nhiệt đới ẩm, nên hàng năm đón nhận một lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển. Mặt khác, do quá trình sản xuất nông nghiệp, trải qua nhiều thế hệ,người ta đã tạo ra hệ thống sông ngòi dày đặc. Tổng chiều dài các con sông, ngòi của Thái Bình lên tới 8492 km, mật độ bình quân từ 5–6 km/km2. Hướng dòng chảy của các con sông đa số theo hướng tây bắc xuống đông nam. Phía bắc, đông bắc Thái Bình còn chịu ảnh hưởng của sông Thái Bình.
Hệ thống sông ngoài đê: Phía tây, tây nam và phía nam (đoạn ngã ba sông Luộc đến cửa Ba Lạt) có sông Hồng chảy uốn khúc, quanh co, là nguồn cung cấp nước và phù sa chính cho Thái Bình. Phía tây bắc là sông Luộc (một chỉ lưu của sông Hồng), đây là sông cung cấp nước cho các huyện Quỳnh Phụ, Hưng Hà. Phía đông bắc là sông Hóa chảy ra cửa sông Thái Bình. Sông Trà Lý (một chỉ lưu của sông Hồng) bắt nguồn từ sông Hồng chảy ra biển, chia đôi Thái Bình thành hai khu: Khu bắc và khu nam. Sông Diêm Hộ, chảy qua một phần huyện Đông Hưng và chia đôi huyện Thái Thụy (phần Thụy Anh, phần Thái Ninh cũ) và chảy ra biển thông qua cống Trà Linh
Hệ thống sông trong đê: Thái Bình còn có hệ thống sông ngòi trong đê chằng chịt chủ yếu phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng và sinh hoạt của người dân. Sau đây là một số sông nội bộ của tỉnh:
Sông Tiên Hưng: Vốn là con sông tự nhiên chạy uốn quanh các huyện Hưng Hà và Đông Hưng. Sông dài 51 km, rộng 50-100m, tưới tiêu cho các vùng đất ven sông và là đường giao thông thủy quan trọng của vùng này. Sông Sa Lung: Sông đào, khởi công từ năm 1896 đến năm 1900 thì, dài khoảng 40 km, chảy qua các phủ huyện Hưng Nhân, Duyên Hà (nay là Hưng Hà) Tiên Hưng, Đông Quan (nay là huyện Đông Hưng), Thái Ninh nay là huyện Thái Thụy. Sông Quỳnh Côi: Còn gọi là sông Yên Lộng hay sông Bến Hiệp. Đây là con sông đào xuyên qua một phần huyện Quỳnh Phụ, xuôi xuống Đông Hưng, có chiều dài khoảng 15 km, bắt đầu từ cống Bến Hiệp nối với sông Tiên Hưng ở xã Liên Giang. Sông Đại Nẫm: Cũng là con sông chạy qua huyện Quỳnh Phụ, dài 16 km, bắt nguồn từ cống Đại Nẫm nối với Diêm Hộ. Sông Diêm Hộ: Là con sông tiêu nước quan trọng nhất trong hệ thống thủy nông ở khu vực bắc Thái Bình. Hầu hết các con sông nội đồng trong khu vực đều đổ ra sông Diêm Hộ. Khi chưa có cống Trà Linh, sông Diêm Hộ trở thành con sông trong đê với chức năng chính là tiêu úng cho các huyện phía bắc Thái Bình. Sông Thuyền Quan: Là con sông đào, nối với sông Tiên Hưng ở ranh giới xã Đông Giang - Đông Kính, với sông Sa Lung ở xã Đông Vinh, với sông Trà Lý ở ranh giới xã Đông Lĩnh (Đông Hưng) - Thái Hà (Thái Thụy) dài 9 km. Sông Hệ: Nối sông Hóa với sông Diêm Hộ, dài 12 km, chạy qua mấy xã thuộc Quỳnh Phụ, Thái Bình.
Sông Cự Lâm: Chảy từ sông Trà Lý ở xã Xuân Hòa qua các xã Hiệp Hòa, Song Lãng, Minh Lãng, Minh Quang, nối với sông Vĩnh Trà ở Thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư. Đoạn sông này dài 14 km. Sông Búng: Chảy qua các xã Hiệp Hòa, Việt Hùng, Dũng Nghĩa, Tân Lập, nối sông Trà Lý với sông Hồng, dài khoảng 13 km. Sông Bạch: Chảy từ cống Nạng (sông Trà Lý) ở ranh giới xã Tân hòa, Phúc Thành uốn lượn qua Tân Phong, Tân Bình (Vũ Thư), phường Tiền Phong, xã Phú Xuân, nối với sông Vĩnh Trà ở phường Phú Khánh thành phố Thái Bình. Sông Kiến Giang: Là con sông đào gồm nhiều đoạn khác nhau. Dòng chính nối từ sông Vĩnh Trà ở Thành phố Thái Bình, qua một số xã ở huyện Vũ Thư rồi chảy qua huyện Kiến Xương, Tiền Hải, đổ vào Sông Lân, dài 30 km. Đây là con sông quan trọng cho việc tưới tiêu đồng ruộng phía nam Thái Bình và là đường vận tải thủy quan trọng trong khu vực. Có thể nói, nó là xương sống của hệ thống thủy lợi khu nam Thái Bình. Nó có hệ thống sông ngòi, mương máng nối với sông Hồng, sông Trà Lý thông qua các cống. Hầu hết các con sông khác trong khu vực đều có mối liên hệ với sông Kiến Giang, như sông Nguyệt lâm, Dực Dương... Sông Kiến Giang là con sông tương đối đẹp, một nơi có đôi bờ là điểm quần tụ dân cư đông đúc, trù phú, làng mạc xanh tươi. Sông Nguyệt Lâm: Là sông đào đi từ cống Nguyệt Lâm, lấy nước từ sông Hồng (xã Vũ Bình, huyện Vũ Thư), nối với sông Kiến Giang ở xã Hòa Bình, huyện Kiến Xương chiều dài 13 km. Sông Dực Dương: Cũng là sông đào đi từ cống Dực Dương, lấy nước sông Trà Lý, tại vị trí xã Trà Giang, nối sông Kiến Giang ở xã Bình Minh huyện Kiến Xương dài 13 km. Sông Hương: Nối sông Hồng với sông Kiến Giang, từ xã Bình Thanh huyện Kiến Xương đến đến xã Phương Công huyện Tiền Hải. Sông Lân: Trước kia là một nhánh của sông Hồng đổ ra biển. Hiện nay nó trở thành con sông trong đê, chạy từ ranh giới xã Hồng Tiến (huyện Kiến Xương) - Nam Hải (Tiền Hải) chảy ròng ra biển. Từ ngày đắp đê, xây dựng cống Lân, nó trở thành con sông nội đồng. Con sông này tưới tiêu nước cho huyện Kiến Xương và Tiền Hải. Cống Lân làm nhiệm vụ ngăn nước mặn và tiêu nước mỗi khi ngập úng nội đồng, đồng thời điều tiết tưới tiêu cho khu vực nam Thái Bình. Sông Long Hầu: Nối sông Trà Lý với sông Kiến Giang từ xã Đông Quý đến xã Đông Lâm (Tiền Hải). Quá trình hình thành các con sông lớn nhỏ của Thái Bình là sự kết hợp giữa sự phát triển tự nhiên và nhu cầu hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người. Các con sông tự nhiên được hình thành do quá trình vận động của các dòng chảy, bắt đầu từ thượng nguồn, về phía hạ lưu hướng dòng chảy luôn thay đổi do sông uốn khúc nhiều. Sông Hồng trước đây thường hay thay đổi dòng chảy. Từ khi hình thành hệ thống đê điều, dòng chảy của sông Hồng ổn định gần như diện mạo hôm nay. Hệ thống sông trong đê là kết quả quá trình chinh phục của con người, nhằm hạn chế tác hại của thiên tai, tận dụng các điều kiện tự nhiên để tưới tiêu trong nông nghiệp. Trải qua nhiều thập niên, người nông dân Thái Bình liên tục cải tạo, khơi sâu, nắn dòng các con sông nội đồng với mục đích tưới tiêu thuận lợi và một phần phục vu vận tải đường thủy.
Ao, hồ, đầm[sửa | sửa mã nguồn]
Trên địa bàn Thái Bình không có các hồ, đầm lớn, chủ yếu là các ao nhỏ, nằm xen kẽ với làng xóm hoặc ven đê, ven biển do lấy đất đắp đê hoặc do vỡ đê tạo thành các điểm trũng tích nước. Các ao hồ nhỏ nằm rải rác, xen kẽ các khu dân cư là kết quả của quá trình tạo lập đất ở. Xưa kia, đất được bồi đắp không bằng phẳng, chỗ cao chỗ thấp, người ta đào ao lấy đất đăp nền nhà, tạo thành vườn tược, và tận dụng nguồn nước từ ao hồ quanh nhà để lấy nước sinh hoạt. Vì vậy phần lớn làng xóm, cư dân của Thái Bình (nhà cửa, ruộng vườn) đều gần với ao đầm. Tổng diện tích ao hồ gần 6.575ha, chiếm 4,25% đất đai của tỉnh. Các ao hồ của Thái Bình thường có diện tích không lớn (khoảng 200-300m2). Những năm gần đây, diện tích một số ao hồ được cải tạo, có xu hướng tập trung thành quy mô trang trại để nuôi tôm cá theo quy trình bán công nghiệp. Bước đầu một số ao hồ nuôi tôm cá đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhất là các vùng nuôi tôm ở các ao đầm ven biển (tôm sú, tôm rảo..)
Biển[sửa | sửa mã nguồn]
Biển Thái Bình nằm trong vùng biển vịnh Bắc Bộ, là một phần của Biển Đông. Biển Đông là một biển lớn thông với Thái Bình Dương qua các eo biển rộng. Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía tây bắc biển Đông, thực ra là phần lục địa bị chìm dưới nước biển do đó biển nông, nơi sâu nhất không quá 200m. Nước ngầm
Thái Bình là bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng, thuộc trầm tích bờ rời Đệ...
ngồi 2 tiếng đấy
Cảm ơn bạn đã dành nhiều thời gian, quyết tâm giúp mình

Nguyễn Xuân Nhã Thi
tanconcodon
Không có gì ạ ^^
thông cảm nha