K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

15 tháng 5 2020

Vị trí địa lý

Quần thể di tích Cố đô Huế nằm dọc hai bên bờ sông Hương thuộc thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Thành phố Huế là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của tỉnh, là cố đô của Việt Nam thời phong kiến dưới triều nhà Nguyễn, từ 1802 đến 1945.

Lịch sử

Từ năm 1306, sau cuộc hôn phối giữa công chúa Huyền Trân (Nhà Trần) với vua Chàm là Chế Mân, vùng đất Châu Ô, Châu Lý (gồm Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và một phần của Bắc Quảng Nam ngày nay) được lấy tên là Thuận Hoá. Vào nửa cuối thế kỷ 15, thời vua Lê Thánh Tông, địa danh Huế lần đầu tiên xuất hiện (?). Năm 1636 phủ Chúa Nguyễn đặt ở Kim Long (Huế), tới năm 1687 dời về Phú Xuân - thành Nội Huế ngày nay. Vào những năm đầu của thế kỷ 18, Phú Xuân là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của xứ "Đàng Trong". Từ năm 1788 đến 1801, Phú Xuân trở thành kinh đô của triều đại Tây Sơn.

Từ 1802 đến 1945, Huế là kinh đô của nước Việt Nam thống nhất dưới sự trị vì của 13 đời vua nhà Nguyễn. Cũng vào thời gian này, tại đây đã hình thành các công trình kiến trúc lịch sử văn hoá có giá trị mà tiêu biểu là kinh thành Huế, đặc biệt là khu Đại Nội (có 253 công trình), 7 cụm lăng tẩm của 9 vị vua Nguyễn, đàn Nam Giao, Hổ Quyền, điện Hòn Chén.

Giá trị văn hóa

Bên bờ Bắc của con sông Hương, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền Nguyễn là ba tòa thành: Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành Huế, lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ tú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế - đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh...

Hoàng Thành giới hạn bởi một vòng tường thành gần vuông với mỗi chiều xấp xỉ 600m với 4 cổng ra vào mà độc đáo nhất thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô: Ngọ Môn, chính là khu vực hành chính tối cao của triều đình Nguyễn. Bên trong Hoàng thành, hơi dịch về phía sau, là Tử cấm thành - nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng gia.

Xuyên suốt cả ba tòa thành, con đường Thần đạo chạy từ bờ sông Hương mang trên mình những công trình kiến trúc quan yếu nhất của Kinh thành Huế: Nghinh Lương Ðình, Phu Văn Lâu, Kỳ Ðài, Ngọ Môn, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái, lầu Kiến Trung... Hai bên đường Thần đạo này là hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ bố trí cân đối đều đặn, đan xen cây cỏ, chập chờn khi ẩn khi hiện giữa những sắc màu thiên nhiên, luôn tạo cho con người một cảm giác nhẹ nhàng thanh thản.

Xa xa về phía Tây của Kinh thành, nằm hai bên bờ sông Hương, lăng tẩm của các vua Nguyễn được xem là những thành tựu của nền kiến trúc cảnh vật hóa. Kiến trúc lăng tẩm ở đây mang một phong thái hoàn toàn riêng biệt của Việt Nam.

Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ánh cuộc đời và tính cách của vị chủ nhân đang yên nghỉ: lăng Gia Long mộc mạc nhưng hoành tráng giữa núi rừng trùng điệp khiến người xem cảm nhận được hùng khí của một chiến tướng từng trải trăm trận; lăng Minh Mạng uy nghi bình chỉnh đăng đối giữa rừng núi hồ ao được tôn tạo khéo léo, hẳn có thể thấy được hùng tâm đại chí của một chính trị gia có tài và tính cách trang nghiêm của một nhà thơ quy củ; lăng Thiệu Trị thâm nghiêm, vừa thâm trầm u uẩn giữ chốn đồng không quạnh quẽ, cũng thể hiện phần nào tâm sự của một nhà thơ siêu việt trên văn đàn song không nối được chí tiền nhân trong chính sự; lăng Tự Ðức thơ mộng trữ tình được tạo nên chủ yếu bằng sự tinh tế của con người, phong cảnh nơi đây gợi cho du khách hình ảnh của một tao nhân mang nặng nỗi niềm trắc ẩn bởi tâm huyết của một nhà vua không thực hiện được qua tính cách yếu ớt của một nhà thơ...

Ngoài ra, những địa danh tô điểm thêm nét đẹp của quần thể di tích Cố đô Huế có thể kể đến là: Sông Hương, Núi Ngự, Chùa Thiên Mụ, Bạch Mã, Lăng Cô, Thuận An...

Tại phiên họp lần thứ 17 của Uỷ ban Di sản thế giới  Colombia từ ngày 6 đến 11/12/1993, UNESCO đã quyết định công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoá của nhân loại. Một sự kiện trọng đại trong lịch sử văn hoá Việt Nam, tài sản đầu tiên của Việt Nam được ghi tên vào danh mục Di sản thế giới, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của quần thể di tích Cố đô Huế.

Quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí số 4, đã hội đủ các yếu tố:

  • Tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật độc đáo, những kiệt tác do bàn tay con người tạo dựng.
  • Có giá trị to lớn về mặt kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật kiến trúc trong một kế hoạch phát triển đô thị hay một chương trình làm đẹp cảnh quan tại một khu vực văn hoá của thế giới;
  • Một quần thể kiến trúc tiêu biểu của một thời kỳ lịch sử quan trọng.
  • Kết hợp chặt chẽ với các sự kiện trọng đại, những tư tưởng hay tín ngưỡng có ảnh hưởng lớn, hay với các danh nhân lịch sử.
1 tháng 3 2022

Tham khảo:

Thành cổ Lạng Sơn (Đoàn Thành) là một di tích giá trị, phản ánh lịch sử quân sự, kiến trúc, xây dựng thời quân chủ phong kiến ở Lạng Sơn. Năm 1999, di tích được xếp hạng Di tích Quốc gia.

Thành cổ Lạng Sơn (Đoàn Thành) có thể được xây dựng khoảng từ cuối thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XIV. Thành xây bằng gạch và đá hình chữ nhật, có chu vi 270 trượng, cao 9 thước, có 4 cổng ở 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, xung quanh thành có tất cả 19 điếm canh. Thành cổ Lạng Sơn là di tích kiến trúc quân sự có vai trò quan trọng trong việc trấn giữ, phòng thủ nơi cửa ngõ biên cương của Tổ quốc. Cùng với những di tích khác trên địa bàn thành phố, Thành cổ thực sự là điểm di tích tiêu biểu giúp Nhân dân Lạng Sơn nói riêng và du khách gần xa nói chung hiểu thêm về lịch sử đất và người Xứ Lạng.

Thành được xây dựng đã trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Lạng Sơn thời phong kiến. Xưa kia, Thành được xây dựng với chu vi khoảng một km, xung quanh bốn mặt đều rộng thoáng, bằng phẳng rất thuận tiện cho việc triển khai tấn công và ứng cứu khi cần thiết; bên trong có nhiều binh lính, xung quanh là chợ và phố xá đông đúc, hoạt động buôn bán giao lưu với các thương nhân Trung Quốc diễn ra khá tấp nập.

Tường thành được xây bằng gạch vồ, cao 4 m. Trên đỉnh tường thành gạch được xây chìa ra hai bên, mỗi bên 0,1 m tạo thành mái bảo vệ tường thành bền vững. Móng và chân thành được xây bằng đá vôi màu xanh, các phiến đá được gọt vuông thành sắc cạnh. Tường thành phía Nam vẫn còn giữ được dáng cổ, cây cối mọc trùm lên. Cổng phía Tây đã được xây bít lại. Hiện nay tường thành bao bọc một số cơ quan như Tỉnh ủy, Bộ đội Biên phòng, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh.

Trải qua thăng trầm của thời gian, biến thiên của lịch sử, dấu tích Thành cổ Lạng Sơn hiện nay còn hai đoạn thành, hai cổng Nam và Tây, cổng Tây đã bị xây bít lại, chỉ còn cổng phía Nam vẫn qua lại được có đường Nguyễn Thái Học chạy qua. Tuy không còn nguyên vẹn nhưng giá trị lịch sử của thành cổ vẫn còn mãi trong đời sống, tâm thức của các thế hệ người Xứ Lạng.

Một đoạn của thành cổ phía Đông. Thành cổ Lạng Sơn đã được xếp hạng cấp quốc gia năm 1999. Theo Ban quản lý di tích tỉnh Lạng Sơn, đây là di tích lịch sử có vai trò quan trọng trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm ở Lạng Sơn, là công trình kiến trúc quân sự kiên cố, quy mô của các vương triều phong kiến Việt Nam.

Đến tham quan di tích Thành cổ Lạng Sơn, du khách sẽ được khám phá những nét độc đáo của kiến trúc Thành cổ xưa, tham quan và hành lễ tại các ngôi đền linh thiêng nằm ở xung quanh Thành.

  
1 tháng 3 2022

Cảm ơn bạn nhiều nhé

1. Mở bài: - Địa điểm di tích : Đền Bà Chúa Kho. Vị trí: thôn Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh- Mục đích: đề tìm hiểu về văn hóa, lịch sử dân tộc - Cảm xúc: háo hức mong chờ2. Thân bài:- Bắt đầu xuất phát : 8 giờ sáng, cả nhà em lên xe để di chuyển đến Đền- Trên đường đi: cả nhà nói chuyện vui vẻ, 8 giờ 15 phút đến nơi.- Trình tự các địa điểm đến...
Đọc tiếp

1. Mở bài:

- Địa điểm di tích : Đền Bà Chúa Kho. Vị trí: thôn Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

- Mục đích: đề tìm hiểu về văn hóa, lịch sử dân tộc

- Cảm xúc: háo hức mong chờ

2. Thân bài:

- Bắt đầu xuất phát : 8 giờ sáng, cả nhà em lên xe để di chuyển đến Đền

- Trên đường đi: cả nhà nói chuyện vui vẻ, 8 giờ 15 phút đến nơi.

- Trình tự các địa điểm đến thăm

+Từ bãi xe hai bên đường có rất nhiều hàng quán bán lễ vật: vàng mã, hoa, lễ sẵn, cây tài lộc,… đặc biệt trong dịp lễ tết.

+Cổng vào là cửa Tam quan to lớn, là cổng chính dẫn vào khu đền.

+Trên mái cổng có bức đại tự bằng chữ Hán: “Chúa Kho từ”, tức là “Đền Bà Chúa Kho”

+Trước cổng có hai trụ lớn, đôi câu đối Hán chữ vàng ca ngợi công lao của Bà Chúa Kho (Công chúa Thanh Bình) với nội dung “Càn long tốn thủy lưu thắng cảnh / Liệt nữ cao sơn hiển linh từ”

+Dưới cổng Tam môn là một sân đền rộng — không gian mở để người đến lễ tụ tập, chuẩn bị lễ, đợi vào đền

+ Sau sân là khu vực Tiền tế: dâng hương trước khi vào điện chính

+Ba cung / Hậu cung gồm: Tứ Phủ Công Đồng, Đệ Nhị Cung, Đệ Nhất Cung (Tam Toà Thánh Mẫu) và Cung Cấm của Bà Chúa Kho

- Ấn tượng về những nét nổi bật:

+Ý nghĩa tâm linh độc đáo – “Vay vốn Bà Chúa Kho:

  • Đền Bà Chúa Kho không chỉ là nơi cầu bình an, tài lộc như nhiều ngôi đền khác, mà còn nổi tiếng với nghi lễ “vay vốn đầu năm – trả lễ cuối năm”.
  • Người dân tin rằng Bà Chúa Kho là vị thần giữ kho lương của quốc gia, có thể phù hộ việc làm ăn, kinh doanh, buôn bán thuận lợi

+Không gian đền linh thiêng, cổ kính

  • Đền nằm trên lưng chừng núi Kho, có phong thủy tốt, cảnh quan thanh tịnh, hài hòa giữa núi – sông – đồng bằng.
  • Cổng tam quan uy nghi, kiến trúc đền mang đặc trưng đền Việt cổ: mái cong, họa tiết rồng phượng, chất liệu gỗ truyền thống.

+Không khí lễ hội nhộn nhịp đầu năm

  • Mỗi dịp Tết Nguyên đán và đặc biệt là rằm tháng Giêng, hàng vạn người từ khắp nơi đổ về làm lễ.
  • Hai bên đường vào đền nhộn nhịp quầy hàng bán lễ vật, sớ, vàng mã... tạo nên không khí lễ hội sôi động nhưng vẫn giữ được nét trang nghiêm.

Đền Bà Chúa Kho không chỉ là một di tích lịch sử – văn hóa, mà còn là nơi thể hiện rõ nét niềm tin dân gian của người Việt vào sự công bằng, trả vay, và đạo lý làm ăn chân chính.

3. Kết bài: em cảm thấy rất vui sau khi được tham quan đền Bà Chúa Kho. Sau khi đến thăm quan đền, em thêm hiểu về tín ngưỡng tâm linh của dân tộc,...



0
4 tháng 2 2018

Khi viết lại bố cục bài này, chọn các chi tiết tiêu biểu làm nổi bật giá trị lịch sử văn hóa của di tích, thắng cảnh:

  - Chi tiết về lịch sử hình thành hồ:

    + Là một đoạn cũ của dòng sông Hồng, hồ có đến vài nghìn tuổi.

    + Trước đó có tên là hồ Lục Thủy

    + Thế kỉ XV có tên Hoàn Kiếm, gắn với sự tích trả gươm thần.

    + Cuối cùng gọi tên hồ là Thủy Quân

  - Chi tiết về lịch sử hình thành đền Ngọc Sơn

    + Từng là Điếu Đài- nơi vua tới câu cá

    + Thời chúa Trịnh Giang lập cung Khánh Thụy ở đảo Ngọc làm nơi hóng gió.

    + Đền có ba nếp

  - Chi tiết về lịch sử hình thành Tháp Rùa:

    + Từ thờ Phật chuyển thành nơi thờ thánh Văn Xương và Đức Thánh Trần

    + Nguyễn Siêu sửa sang lại và tạc lên thân tháp chữ Tả Thanh Thiên

  - Cảnh hiện nay:

    + Bờ Hồ là nơi dạo chơi, hội họp, lễ Tết hằng năm.

22 tháng 3

Câu 1. vì di tích lịch sử lưu giữ giá trị văn hoá, lịch sử của dân tộc, giúp thế hệ sau hiểu về quá khứ, trân trọng truyền thống và giáo dục lòng yêu nước nên cần được bảo tồn

Câu 2. chuyến đi giúp học sinh được trải nghiệm thực tế, hiểu sâu hơn về giá trị di sản, nâng cao ý thức giữ gìn và góp phần tuyên truyền, phát huy các giá trị văn hoá

Câu 3. chuyến đi còn giúp bồi dưỡng tình yêu quê hương, ý thức trách nhiệm bảo vệ di sản và khuyến khích mỗi người tham gia gìn giữ, phát huy các giá trị văn hoá trong cuộc sống

11 tháng 10 2024

Hay

 

 

 

 

7 tháng 12 2016

Tớ 14-17/12

8 tháng 12 2016

haha