Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Anh đã trả lời rồi nhé.
https://hoc24.vn/cau-hoi/khong-co-gi-tu-den-dau-con-1-khong-co-gi-tu-den-dau-conqua-muon-ngot-phai-thang-ngay-tich-nhuahoa-se-thom-khi-trai-qua-nang-luamua-boi-thu-phai-mot-nang-hai-suong-2-khong-co-gi-tu-den-d.9456420218232
Câu 1 (0,5 đ): Thể thơ: thơ tám chữ (mỗi dòng có 8 chữ).
Câu 2 (0,5 đ): Để có quả ngọt, hoa thơm, mùa bội thu phải trải qua thời gian tích tụ (tháng ngày tích nhựa), chịu đựng vất vả, thử thách (trải qua nắng lửa) và lao động cần cù, chịu khó (một nắng hai sương).
Trong tất cả những bài thơ tự do nổi tiếng như “Sóng” – Xuân Quỳnh; “Những cánh buồm” – Hoàng Trung Thông; “Đất nước” (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) – Nguyễn Khoa Điềm; “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải; “Ánh trăng” – Nguyễn Duy thì bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu lắng. Qua thể thơ tự do giản dị, nhà thơ đã khắc họa hình ảnh cây tre xanh quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tre hiện lên không chỉ là loài cây mọc thẳng, dẻo dai, gắn bó với đồng ruộng, với mái nhà tranh mà còn là biểu tượng cho phẩm chất con người Việt Nam: cần cù, đoàn kết, kiên cường, cần cù, chịu thương chịu khó, lối sống ngay thẳng, chính trực. Đọc những câu thơ ấy, em cảm thấy như nghe tiếng nói chân thành của nhà thơ về dân tộc mình, vừa tự hào, vừa yêu thương. Đất nước ta đã phải trải qua 1000 năm Bắc thuộc và phải đi trên con đường cách mạng - đường mà dân tộc ta phải đi trong lịch sử, tre như là lũy thành, hàng rào kiên cố bảo vệ con đường cách mạng chi đất nước ta. Tre cùng dân ta trải qua bao gian khổ, cùng ra trận, giữ làng, giữ nước, như bức tường thành kiên cố - một chứng minh của lịch sử và còn là người bạn đồng hành trung thành của ông cha ta nói chung và Việt Nam nói riêng. Hình ảnh tre trong bài thơ gợi cho em tình yêu sâu sắc với quê hương, đất nước, và nhắc nhở em phải cố gắng học tập để mai sau này xây dựng cho quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh hơn.
Thiên nhiên tạo hóa đã ưu ái ban tặng cho con người nhiều loại trái cây thơm ngon. Biết bao loại cây, mỗi loại lại có một dáng vẻ, một công dụng khác nhau. Chuối là một loài cây đã vô cùng quen thuộc, gần gũi với làng quê. Đi khắp đất nước Việt Nam, đâu đâu ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh những cây chuối, bụi chuối xanh tốt vươn lên từ bờ ao, bờ sông.
Chuối là loại cây có quả được ăn rộng rãi nhất. Nguồn gốc của cây chuối là từ vùng nhiệt đới ở Đông Nam Á và Úc. Ngày nay, nó đã được trồng khắp vùng nhiệt đới. Chuối có mặt ở ít nhất 107 quốc gia. Quả của những cây chuối dại có nhiều hột lớn và cứng. Nhưng hầu hết loại chuối để ăn đều thiếu hột vì đã được thuần hóa lâu đời.
Chuối thường được trồng nhiều ở nông thôn và miền núi. Vì là loài ưa nước nên nó thường mọc ở bên bờ sông, bờ suối. Thân chuối thẳng, nhẵn bóng như cái cột nhà. Thân chuối do nhiều bẹ chuối ôm lấy nhau tạo thành. Bẹ ở ngoài thường có màu đậm hơn, bẹ nằm chính giữa thì có màu trắng. Thân chính này là một thân giả của chuối. Nõn chuối màu xanh non, có hình dạng giống cuốn thư thời xưa. Cây chuối có rất nhiều tàu lá, lá chuối to như tấm phản, gân lá to chạy dọc phiến lá. Lúc lá chuối còn tươi thì có màu xanh nhạt, lúc già thì rũ xuống thân cây, chuyển thành màu nâu. Hoa chuối lúc mới ra thì hướng thẳng lên trời, sau quay sang ngang rồi đâm xuống đất. Sau khi hoa chuối già, bẹ ở ngoài rụng hết thì bắt đầu phát triển thành quả. Một buồng chuối có nhiều nải chuối, thường là 10 nải. Những buồng chuối có khi dài từ đỉnh xuống tận gốc, trĩu nặng cả thân cây. Quả chuối màu xanh lúc còn non, khi chín chuyển thành vàng, trông như vầng trăng lưỡi liềm.
Chuối có rất nhiều công dụng, hầu như bộ phận nào của cây cũng không cần bỏ đi. Quả chuối chín thơm ngon, bổ dưỡng được nhiều người ưa chuộng. Ăn chuối còn có tác dụng làm đẹp cho da. Quả chuối xanh ăn kèm với thịt luộc và thường được nấu kèm với cá, ốc, trai..., vừa khử tanh vừa làm cho món ăn thêm đa dạng. Lá chuối tươi dùng để gói quà, gói bánh. Lá chuối khô có thể làm chất đốt hoặc dây buộc. Củ chuối, hoa chuối thì nấu canh hoặc làm món nộm, salad. Thân chuối xái nhỏ làm thức ăn cho gia súc, gia cầm. Hạt chuối có thể làm một vị thuốc tốt trong Đông y. Chuối có một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt. Vào ngày Tết, trên mâm ngũ quả của mỗi gia đình không thể thiếu một nải chuối để cúng tổ tiên. Chuối vốn dĩ chỉ trồng để ăn quả nhưng hiện nay nó còn được dùng để trang trí trong nhà. Tàu lá rộng, xanh mướt của chuối tạo cảnh quan đẹp mắt, mang lại cảm giác tươi mới, êm đềm, tin cậy tượng trưng cho tình yêu của mẹ thiên nhiên. Những năm tháng chiến tranh đói ăn, đói mặt, chuối là nguồn thực phẩm dồi dào đã cứu sống không biết bao nhiêu mạng người.
Chuối cũng khá phong phú, đa dạng về chủng loại. Một số loại chuối tiêu biểu như: chuối ta quả dài như lưỡi liềm, chuối tây quả tròn và ngắn hơn, chuối hột, chuối mật, chuối trứng cuốc. Chuối ngự quả ngắn nhưng ruột vàng và có vị rất thơm ngon. Khi xưa, chuối ngự là món ăn hoàng gia, chỉ có vua chúa mới được thưởng thức. Chuối ngự chính lá đặc sản của cùng Hòa Hậu, Lí Nhân, Hà Nam
Cây chuối mọc thành từng bụi và được trồng bằng cách tách rời thân non đem trồng thành bụi mới. Ta nên trồng chuối ở nơi gần nguồn nước như ao, hồ để tiện tưới tắm. Chuối là loại cây dễ trông và phát triển khá nhanh nên không cần tốn công chăm sóc.
Nguyễn Trãi đã từng làm bốn câu thơ về cây chuối, gọi là “Ba tiêu” :
“Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu gượng mở xem”
Trải qua bao nhiêu năm nữa, chuối vẫn sẽ có một ý nghĩa đặc biệt trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Việt Nam.
Nguồn : Thuyết minh về cây chuối lớp 9 hay nhất - Dàn ý, văn mẫu cây chuối tiêu, tây
Vào dịp đầu năm học lớp 6, em đã tham gia một hoạt động xã hội ý nghĩa cùng các bạn trong chi đội – đó là buổi trồng cây xanh tại khuôn viên trường.
Buổi sáng hôm ấy, tuy thời tiết hơi nắng nhưng ai cũng có mặt đầy đủ và háo hức. Các thầy cô đã chuẩn bị sẵn cây giống, cuốc, xẻng và phân bón. Chúng em được chia thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm phụ trách trồng một cây. Nhóm em gồm 5 bạn, cùng nhau đào đất, đặt cây vào hố, vun gốc và tưới nước. Tuy công việc khá vất vả, ai cũng mồ hôi nhễ nhại, nhưng tiếng cười nói rộn ràng vang khắp sân trường.
Sau khi hoàn thành việc trồng cây, chúng em cùng nhau dọn rác, nhặt lá khô và lau các bảng thông báo xung quanh trường. Không chỉ giúp sân trường thêm xanh sạch đẹp, hoạt động này còn giúp chúng em thêm gắn bó, đoàn kết với nhau hơn.
Tham gia buổi trồng cây, em cảm thấy rất vui và tự hào vì đã góp một phần nhỏ vào việc bảo vệ môi trường. Em cũng hiểu rằng, mỗi người đều có thể đóng góp cho xã hội bằng những việc làm thiết thực, dù nhỏ nhưng đầy ý nghĩa. Sau này, nếu có cơ hội, em sẽ tiếp tục tham gia nhiều hoạt động như thế để giúp đỡ cộng đồng và làm cho cuộc sống thêm tươi đẹp.
Mỗi chuyến đi, dù ngắn hay dài, đều mang trong mình những câu chuyện riêng, những bài học riêng và những kỷ niệm khó phai. Nhưng đối với em, chuyến hành trình về với mảnh đất Cổ Loa lịch sử, một cái nôi của văn hóa Việt, thực sự là một dấu ấn sâu đậm trong tâm trí. Ngay từ khi nhận được thông báo về chuyến tham quan khu di tích Cổ Loa, em đã không giấu nổi sự háo hức và mong chờ tột độ. Không chỉ là một buổi dã ngoại thông thường, đây còn là cơ hội để chúng em chạm tay vào những trang sử vàng son của dân tộc, nơi ghi dấu những huyền thoại về Âu Lạc, về An Dương Vương và công chúa Mỵ Châu. Cảm giác được hòa mình vào không gian cổ kính, hít thở bầu không khí ngập tràn hơi thở của ngàn năm văn hiến, tưởng tượng về những con người, những sự kiện đã làm nên lịch sử, thực sự là một trải nghiệm không thể nào quên.
Sự háo hức đó không chỉ đến từ việc được thoát khỏi những bức tường lớp học quen thuộc, mà còn xuất phát từ niềm khao khát được tìm hiểu, được khám phá. Trước khi đi, em đã tìm đọc khá nhiều tài liệu về Cổ Loa, về truyền thuyết Nỏ Thần, về thành ốc, về bi kịch tình yêu và lòng yêu nước. Mỗi câu chữ, mỗi hình ảnh đều thắp lên trong em một ngọn lửa tò mò và kính trọng. Em tự nhủ, đây không chỉ là một chuyến đi chơi, mà là một cuộc hành hương về cội nguồn, nơi em sẽ được tận mắt chứng kiến, tận tai lắng nghe và tận tâm cảm nhận những giá trị lịch sử và văn hóa mà ông cha ta đã gìn giữ qua bao thế hệ. Chuyến đi hứa hẹn sẽ đưa em vượt qua không gian và thời gian, trở về một thời kỳ xa xưa đầy biến động và vinh quang, mở ra một cánh cửa mới trong tâm hồn em về tình yêu quê hương đất nước.
Buổi sáng ngày hôm ấy, không khí tại sân trường thật đặc biệt, rộn ràng và náo nhiệt hơn bất kỳ ngày học nào khác. Đúng 6 giờ 30 phút, toàn bộ các bạn học sinh, ai nấy đều với gương mặt rạng rỡ, háo hức, đã có mặt đông đủ, xếp hàng ngay ngắn trước cổng trường. Những chiếc balo nhỏ xinh mang theo đồ ăn nhẹ và nước uống, cùng với chiếc mũ đồng phục quen thuộc, tạo nên một khung cảnh tràn đầy sức sống và tinh thần đoàn kết. Sau khi điểm danh và nhận những lời dặn dò cuối cùng từ thầy cô, đúng 6 giờ 45 phút, đoàn xe khởi hành bon bon lăn bánh, mang theo biết bao hy vọng và mong chờ của chúng em. Trên xe, không khí vô cùng sôi động. Những câu chuyện rôm rả, tiếng cười giòn tan xen lẫn những câu đố vui, những bài hát đồng thanh vang khắp khoang xe, xua tan đi sự mệt mỏi của một buổi sáng phải dậy sớm. Qua khung cửa kính, những hàng cây xanh mướt hai bên đường cùng những ngôi nhà cao tầng dần nhường chỗ cho những cánh đồng lúa bát ngát, những mái nhà ngói đỏ trầm mặc, báo hiệu chúng em đang dần tiến sâu vào vùng đất ngoại ô thanh bình của Hà Nội.
Khi xe tiến gần đến khu vực Cổ Loa, một cô hướng dẫn viên duyên dáng với giọng nói truyền cảm đã bắt đầu giới thiệu về khu di tích. Cô không chỉ kể về vị trí địa lý của làng Cổ Loa mà còn đưa chúng em ngược dòng thời gian về với những truyền thuyết xa xưa. Từ truyền thuyết về việc vua An Dương Vương xây thành ốc ba vòng, với sự giúp đỡ của Rùa Vàng, đến câu chuyện tình bi ai giữa Mỵ Châu – Trọng Thủy, những điều mà chúng em chỉ được đọc trong sách vở, nay được nghe kể một cách sống động, chi tiết hơn. Cô cũng không quên nhắc nhở chúng em về những quy định cần tuân thủ khi tham quan, nhằm giữ gìn sự tôn nghiêm và vẻ đẹp của khu di tích. Mỗi câu chuyện cô kể như mở ra một cánh cửa đến quá khứ, khiến chúng em càng thêm phần háo hức, mong muốn được tận mắt chứng kiến những dấu tích huyền thoại đó. Không khí trên xe dần trở nên trầm lắng hơn, nhưng không phải vì buồn chán, mà là vì tất cả đều đang chăm chú lắng nghe, tưởng tượng và đắm chìm vào những trang sử hào hùng, bi tráng của dân tộc. Đúng là một buổi sáng đầy ý nghĩa và cảm xúc, đặt nền móng cho một hành trình khám phá không thể nào quên.
Khi đặt chân đến Cổ Loa, khung cảnh đầu tiên đập vào mắt em là một không gian rộng lớn, yên bình và cổ kính, hoàn toàn khác biệt so với sự ồn ào, tấp nập của đô thị. Những bức tường thành đất kiên cố, tuy đã nhuốm màu thời gian và bị bào mòn bởi thiên nhiên, vẫn sừng sững uy nghi, gợi lên hình ảnh một kinh đô hùng mạnh thuở xưa. Điểm dừng chân đầu tiên của chúng em chính là Đền thờ vua An Dương Vương, một công trình kiến trúc cổ kính nằm giữa không gian xanh mát của những hàng cây cổ thụ. Ngay khi bước qua cổng tam quan, một cảm giác trang nghiêm, thành kính bao trùm lấy tâm hồn. Ngôi đền được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống Việt Nam, với mái ngói cong vút, những cột gỗ lim to lớn và các họa tiết chạm khắc tinh xảo, thể hiện sự tài hoa của người thợ thủ công xưa. Bức tượng An Dương Vương uy nghi, đường bệ, ngự trị tại chính điện, toát lên vẻ oai phong lẫm liệt của một vị vua khai quốc. Trong buổi lễ dâng hương, chúng em đã cùng nhau thành kính cúi đầu, tưởng nhớ công lao dựng nước và giữ nước vĩ đại của đức vua. Hương trầm nghi ngút bay lên, hòa quyện với những lời cầu nguyện chân thành, tạo nên một không gian thiêng liêng, khiến mỗi người trong chúng em đều cảm thấy mình là một phần của dòng chảy lịch sử đầy tự hào.
Rời Đền thờ vua An Dương Vương, chúng em tiếp tục hành trình đến Đình Cổ Loa, một kiến trúc độc đáo khác nằm trên nền cung điện thiết triều xưa của vua An Dương Vương, với tấm bia đá khắc dòng chữ "Ngự Triều Di Quy" đầy ý nghĩa, nhắc nhở về những vết tích còn sót lại của triều đình. Đình Cổ Loa không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng mà còn là một bảo tàng sống động về kiến trúc và điêu khắc truyền thống. Từ những bức chạm trổ tinh xảo trên xà nhà, những bức hoành phi, câu đối được sơn son thếp vàng, tất cả đều gợi lên một thời kỳ vàng son của kinh đô Âu Lạc. Đứng trong không gian Đình Cổ Loa, em đã cố gắng mường tượng lại những cảnh thiết triều oai nghiêm, những cuộc họp bàn đại sự trị quốc ngày xưa. Cảm giác như được chạm tay vào từng phiến đá, từng nét chạm khắc, em như nghe thấy tiếng vọng của lịch sử, của những quyết sách trọng đại đã từng được đưa ra tại nơi đây, ảnh hưởng đến vận mệnh của cả một dân tộc. Tuy nhiên, ấn tượng sâu sắc nhất và ám ảnh nhất đối với em chính là Am Bà Chúa, nơi thờ công chúa Mỵ Châu. Không gian ở đây dường như có một vẻ tĩnh lặng đến lạ lùng, bao trùm bởi sự trầm mặc và u buồn. Giữa am là tảng đá hình cô gái không đầu, được bao quanh bởi những câu chuyện truyền thuyết bi thương gắn liền với số phận của nàng công chúa. Em đã đứng lặng đi rất lâu trước tảng đá ấy, lòng trào dâng bao cảm xúc xót xa và thương cảm cho số phận bi kịch của một người con gái mang trong mình cả tình yêu và trách nhiệm với đất nước. Câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy không chỉ là một truyền thuyết lịch sử mà còn là một bài học sâu sắc về lòng yêu nước, về sự cảnh giác và về bi kịch tình yêu trong bối cảnh chiến tranh loạn lạc, khiến em không khỏi suy ngẫm về những giá trị đạo đức và lòng trung thành.
Buổi chiều sau những giờ phút đắm mình vào không gian thiêng liêng và trầm tư của lịch sử, chúng em được nghỉ ngơi và ăn trưa tại một khu vực thoáng đãng, mát mẻ trong khuôn viên di tích. Bữa trưa tuy giản dị nhưng lại vô cùng ấm cúng, khi chúng em quây quần bên nhau, chia sẻ đồ ăn và những cảm nhận đầu tiên về chuyến đi. Sau khi nạp đầy năng lượng, chúng em được tham gia vào các trò chơi dân gian đầy hào hứng và tiếng cười. Trò đập niêu đất, với những tiếng cười sảng khoái mỗi khi có bạn bị bịt mắt loay hoay không định hướng được chiếc niêu, hay những tiếng reo hò cổ vũ khi một chiếc niêu bị đập vỡ, đã mang lại những giây phút thư giãn thực sự vui vẻ. Trò nhảy bao bố cũng không kém phần sôi động, với những bước nhảy vụng về nhưng đầy quyết tâm, những lần vấp ngã rồi bật dậy, tất cả tạo nên một không khí gắn kết, sôi nổi, xóa tan đi khoảng cách giữa các thành viên. Những trò chơi này không chỉ là giải trí mà còn giúp chúng em thêm phần hiểu biết và yêu thích những nét văn hóa truyền thống của dân tộc, những trò chơi đã gắn liền với tuổi thơ của bao thế hệ người Việt.
Tiếp nối những trò chơi dân gian đầy tiếng cười, chúng em được chiêm ngưỡng một màn trình diễn múa rối nước ấn tượng. Sân khấu múa rối được dàn dựng đơn giản nhưng sống động trên mặt nước, với những con rối gỗ được những nghệ nhân tài hoa điều khiển khéo léo từ phía sau bức màn. Những câu chuyện được kể lại qua từng con rối, từ cảnh sinh hoạt đồng áng, cấy cày, se tơ dệt lụa cho đến những truyền thuyết cổ tích, những trận đánh anh hùng, tất cả đều được tái hiện một cách mộc mạc mà đầy nghệ thuật. Âm nhạc dân gian trầm bổng, du dương cùng với tiếng trống, tiếng kèn đã tạo nên một không gian nghệ thuật độc đáo, khiến chúng em như lạc vào một thế giới cổ tích, đầy màu sắc và huyền ảo. Em đặc biệt ấn tượng với sự khéo léo của các nghệ nhân khi điều khiển con rối như có linh hồn, mỗi động tác đều rất thật và biểu cảm. Màn trình diễn này không chỉ mang đến tiếng cười, sự ngưỡng mộ mà còn giúp chúng em nhận ra vẻ đẹp tinh túy của nghệ thuật dân gian Việt Nam, một nét văn hóa độc đáo cần được trân trọng và gìn giữ. Nó là một minh chứng sống động cho sự sáng tạo và tinh thần lạc quan của người Việt Nam qua bao đời.
Buổi chiều dần buông, mang theo cơn gió se lạnh, báo hiệu chuyến hành trình của chúng em sắp kết thúc. Đúng 4 giờ 30 phút chiều, chúng em tập trung lên xe, trở về trường. Dù mệt mỏi sau một ngày dài khám phá, nhưng ai nấy đều mang theo những nụ cười mãn nguyện và ánh mắt rạng ngời. Trên đường về, không khí trên xe không còn sôi động như lúc đi, mà thay vào đó là những cuộc trò chuyện trầm lắng hơn về những điều đã thấy, đã nghe, đã cảm nhận được ở Cổ Loa. Ai đó bắt đầu kể lại một chi tiết thú vị mà mình ấn tượng nhất, bạn khác lại chia sẻ suy nghĩ về bi kịch của công chúa Mỵ Châu, và cả lớp cùng nhau ôn lại những truyền thuyết lịch sử. Không chỉ được nghe giới thiệu, được tham quan những dấu tích cổ kính, mà thông qua những hoạt động tương tác như trò chơi dân gian và múa rối nước, chuyến đi đã thực sự giúp chúng em
Từ nhiều ngày trước chuyến đi, không khí trong lớp em ở trường Hồng Giang đã rộn ràng hẳn lên. Ai cũng háo hức chuẩn bị cho chuyến tham quan về nguồn tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cô giáo dặn dò chúng em mang theo nón, nước uống, khăn quàng và giữ trật tự, lễ nghi khi vào viếng Bác. Tối hôm trước, em gần như không ngủ được vì lòng đầy háo hức và hồi hộp.
Sáng sớm hôm sau, sân trường Hồng Giang đông vui khác thường. Mặt trời mới lên, sương vẫn còn đọng trên lá mà tiếng cười nói đã rộn rã khắp nơi. Khi tiếng còi xe vang lên, chúng em nhanh chóng ổn định chỗ ngồi. Từ ô cửa xe, cảnh vật quê hương lùi dần phía sau, con đường dẫn lên Hà Nội như mở ra một hành trình đầy ý nghĩa.
Ai nấy đều nói cười vui vẻ, nhưng khi xe gần đến Quảng trường Ba Đình, không khí chợt lắng lại. Em cảm thấy tim mình đập nhanh hơn – sắp được gặp Bác, được nhìn thấy nơi Người yên nghỉ. Chuyến đi từ Hồng Giang đến Lăng Bác không chỉ là một cuộc hành trình, mà là hành trình của niềm tự hào và lòng biết ơn. Em biết, đó sẽ mãi là kỷ niệm sâu sắc nhất trong quãng đời học sinh của mình.
Câu 1: Văn bản trên bàn về vấn đề gì? Văn bản bàn về vẻ đẹp của mùa gặt ở nông thôn miền Bắc Việt Nam, đồng thời khắc họa cảm xúc và tâm tư của người nông dân qua các giai đoạn của mùa gặt như gặt lúa, tuốt lúa, phơi khô, và quạt sạch.
Câu 2: Xác định câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3). Câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3) là: “Không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm.”
Câu 3: Xác định thành phần biệt lập trong các câu sau: a. Thành phần biệt lập: “hình như” (thành phần tình thái). b. Thành phần biệt lập: “ấy”, “của một đồng, công một nén là đây” (thành phần tình thái và thành phần giải thích).
Câu 4: Đoạn (2) sử dụng những cách trích dẫn bằng chứng nào? Tác dụng của việc dùng cách trích dẫn ấy là gì?
Câu 5: Các lí lẽ và bằng chứng được dùng trong đoạn (4) có vai trò như thế nào trong việc thể hiện luận điểm của đoạn văn này?
Câu 6: Em thích nhất điều gì trong nghệ thuật nghị luận của tác giả? Vì sao?
Cô tick cho em nhé
Bhunub
câu1:văn bản trên bàn về giá trị lao động, về đẹp cánh đồng
câu 2:
câu3:a) thành phần biệt lập (tình thái) hình nhu thể hiện độ tin cậy thấp
b) thành phần biệt lập (phụ chú) nhấn mạnh giải thích giá trị to lớn công sức lao động
câu4: sử dụng cách trích dẫn trực tiếp
làm tăng sự thuyết phục độ tin cậy, giúp lời văn sinh động
câu5:
Jdjfjfbf
Câu 1
tập trung ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, no ấm của mùa vàng trên cánh đồng miền Bắc và tôn vinh sự lao động vất vả, tình yêu lao động của người nông dân
Câu 2
Câu văn nêu luận điểm của đoạn văn trên là: "Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm."
Câu 3
a) Thành phần biệt lập: "hình như"
b) Thành phần biệt lập: "của một đồng, công một nén là đây"
Câu 4
Tác giả đã trích dẫn trực tiếp các từ ngữ, hình ảnh cụ thể từ tác phẩm văn học và đặt chúng trong dấu ngoặc kép ("...")
Tác dụng :
-Tăng tính thuyết phục và khách quan
-Nhấn mạnh những từ ngữ đắt giá
-Làm rõ sự so sánh, đối chiếu
-Tạo sự sinh động cho lời bình
Câu 5
Đóng vai trò quyết định trong việc làm sáng tỏ luận điểm: Vẻ đẹp tâm hồn đầy trăn trở, "cả nghĩ" và giàu tình cảm của người nông dân trong thơ Nguyễn Duy.
Câu 6
điều em thích nhất là sự kết hợp hài hòa giữa chiêm nghiệm thế sự sâu sắc và giọng điệu tâm tình, mộc mạc. Ông không nghị luận theo kiểu giáo điều, khô khan mà đưa triết lý vào đời sống một cách nhẹ nhàng, thấm thía.
Câu 1. Văn bản trên bàn về vấn đề gì? Văn bản bàn về vẻ đẹp của cánh đồng lúa chín và sự trân trọng công lao lao động của người nông dân để làm ra hạt gạo. Câu 2. Xác định câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3) Do không có đầy đủ văn bản gốc của đoạn (3), thông thường câu luận điểm sẽ nằm ở đầu hoặc cuối đoạn văn. Tuy nhiên, dựa trên nội dung câu 3a, có thể suy đoán luận điểm xoay quanh ấn tượng mạnh mẽ về màu sắc và ánh sáng của cánh đồng lúa. Câu 3. Xác định thành phần biệt lập
Câu 4. Cách trích dẫn và tác dụng
Câu 5. Vai trò của lí lẽ và bằng chứng trong đoạn (4)
Câu 6. Điều em thích nhất trong nghệ thuật nghị luận của tác giả
Câu 1.
Văn bản bàn về vẻ đẹp của bức tranh mùa gặt và tình cảm của người nông dân trong bài thơ Lúa chín của Nguyễn Duy.
Câu 2.
Câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3) là: “Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm.”
Câu 3.
a. Thành phần biệt lập: hình như
Thuộc thành phần tình thái.
b. Thành phần biệt lập: người ơi
Thuộc thành phần gọi - đáp.
Câu 4.
Đoạn (2) dùng cách trích dẫn trực tiếp câu thơ và trích những từ ngữ, hình ảnh tiêu biểu trong bài thơ. Tác dụng là làm dẫn chứng cụ thể, sinh động, tăng sức thuyết phục và làm nổi bật vẻ đẹp của không gian mùa gặt.
Câu 5.
Các lí lẽ và bằng chứng trong đoạn (4) có vai trò làm rõ tình cảm của người nông dân: vừa vui trước thành quả lao động, vừa lo xa, nâng niu, trân trọng hạt lúa. Nhờ đó, luận điểm của đoạn văn trở nên chặt chẽ và thuyết phục hơn.
Câu 6.
Em thích nhất cách tác giả dùng dẫn chứng thơ kết hợp với lời bình giản dị, giàu cảm xúc. Cách nghị luận này giúp bài viết dễ hiểu, sinh động và làm nổi bật vẻ đẹp của mùa gặt cũng như người nông dân.
Câu 1
câu 1:Văn bản bàn về giá trị của lao động và sự trân trọng những thành quả (hạt lúa/hạt gạo) được làm ra từ mồ hôi công sức của người nông dân, thông qua cảm nhận về vẻ đẹp của cánh đồng lúa chín
câu 2:Thông thường, luận điểm sẽ là câu khẳng định vẻ đẹp rực rỡ hoặc sự tác động mạnh mẽ của màu sắc cánh đồng lúa đến cảm xúc con người.
câu 3:
a. Thành phần tình thái: "hình như" (thể hiện sự phỏng đoán, chưa chắc chắn của người nói).
. Thành phần gọi - đáp: "người ơi" (dùng để thiết lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp).
câu 4:Cách trích dẫn: Thường là trích dẫn trực tiếp (để trong ngoặc kép) các câu ca dao, tục ngữ hoặc ý kiến của người khác.
Tác dụng: Tăng tính thuyết phục và độ tin cậy cho lập luận. Làm cho lời văn thêm sinh động, giàu hình ảnh và gợi liên tưởng sâu sắc đến truyền thống văn hóa.
câu 5:Vai trò: Củng cố và làm sáng tỏ luận điểm của đoạn văn. Lí lẽ giúp định hướng tư duy, còn bằng chứng (dẫn chứng thực tế) giúp luận điểm trở nên cụ thể, xác thực và không thể phủ nhận, từ đó tác động mạnh mẽ đến nhận thức của độc
câu 6:Điều yêu thích: Cách sử dụng hình ảnh giàu sức gợi kết hợp với cảm xúc chân thành
Vì sao: Nó không chỉ là những lý lẽ khô khan mà còn như một lời tâm tình, giúp người đọc dễ dàng thấu hiểu và rung động trước vẻ đẹp của lao động, từ đó tự rút ra bài học về lòng biết ơn.
C1
Văn bản trên bàn về các mùa thu hoạch lúa những khoảnh khắc lúa trổ bông và lúc gieo trồng
Câu 1. Văn bản bàn về vẻ đẹp của cánh đồng lúa chín và giá trị của lao động, thành quả lao động của con người. Câu 2. Câu văn nêu luận điểm ở đoạn (3) là câu khái quát về ý nghĩa, giá trị của thành quả lao động (hạt lúa, mùa màng). Câu 3. a. Thành phần biệt lập: “hình như” (thành phần tình thái). b. Thành phần biệt lập: “của một đồng, công một nén là đây” (thành phần phụ chú). Câu 4. Cách trích dẫn: trích dẫn trực tiếp (dẫn lời nói/ca dao). Tác dụng: làm tăng tính chân thực, sinh động, giàu cảm xúc và tăng sức thuyết phục cho lập luận. Câu 5. Các lí lẽ và bằng chứng giúp: → Làm rõ và khẳng định luận điểm, → Tăng sức thuyết phục, → Giúp người đọc hiểu sâu sắc giá trị của lao động và thành quả. Câu 6. (gợi ý) Em có thể trả lời: Thích cách dùng hình ảnh giàu cảm xúc, gần gũi (cánh đồng, hạt lúa) Vì giúp bài văn sinh động, dễ hiểu và tạo ấn tượng mạnh.
Câu 1. Văn bản bàn về vẻ đẹp của cánh đồng lúa chín và giá trị của lao động, thành quả lao động của con người. Câu 2. Câu văn nêu luận điểm ở đoạn (3) là câu khái quát về ý nghĩa, giá trị của thành quả lao động (hạt lúa, mùa màng). Câu 3. a. Thành phần biệt lập: “hình như” (thành phần tình thái). b. Thành phần biệt lập: “của một đồng, công một nén là đây” (thành phần phụ chú). Câu 4. Cách trích dẫn: trích dẫn trực tiếp (dẫn lời nói/ca dao). Tác dụng: làm tăng tính chân thực, sinh động, giàu cảm xúc và tăng sức thuyết phục cho lập luận. Câu 5. Các lí lẽ và bằng chứng giúp: → Làm rõ và khẳng định luận điểm, → Tăng sức thuyết phục, → Giúp người đọc hiểu sâu sắc giá trị của lao động và thành quả. Câu 6. (gợi ý) Em có thể trả lời: Thích cách dùng hình ảnh giàu cảm xúc, gần gũi (cánh đồng, hạt lúa) Vì giúp bài văn sinh động, dễ hiểu và tạo ấn tượng mạnh.
Câu 1:
Văn bản bàn về vẻ đẹp của bức tranh mùa gặt ở nông thôn và tâm hồn, tình cảm trân trọng thành quả lao động của người nông dân qua bài thơ "Lúa chín".
Câu 2:
Câu văn nêu luận điểm là :
"Chưa hết , không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm ".
Câu 3:
a) Thành phần tình thái : " hình như "
b) Thành phần gọi - đáp : "người ơi"
Câu 4:
Cách trích dẫn:
- Trích dẫn trực tiếp từ ngữ được đặt trong ngoặc kép : từ "phả", cụm từ "cánh cò dẫn gió".
- Trích dẫn gián tiếp : Nhắc lại ý tưởng "cánh cò chở nắng" trong ca dao để so sánh.
Tác dụng: Giúp việc lập luận trở nên cụ thể , giàu sức thuyết phục ;đồng thời làm nổi bật sự sáng tạo độc đáo của nhà thơ trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh.
Câu 5:
Vai trò:
Làm sáng tỏ chiều sâu tâm hồn của người nông dân : không chỉ có niềm vui mà còn có sự chắt chiu,nâng niu và nỗi lo âu trước thiên nhiên.
Thể hiện sự thấu cảm, trân trọng sâu sắc của người viết bình thơ đối với người lao động.
Câu 6:
Em thích nhất cách lập luận chặt chẽ, đi sâu vào chi tiết từ ngữ của tác giả.
Vì tác gải có khả nagw phát hiện ra những điểm đặc biệt từ những từ ngữ nhỏ nhất như chữ "phả" hay hình ảnh "dẫn gió".Việc phân tích kỹ các từ này giúp làm nổi bật được sự sáng tạo của nhà thơ và giúp người đọc thấy được sự tinh tế trong việc quan sát đời sống của người nông dân.
Câu 1 : bàn về vấn đề gặt lúa
Câu 2: câu thơ này có vẻ sáo, nhưng bù lại, nó đã thể hiện rất hồn nhiên cái tình cảm của một anh nhà nghèo , xoa tay sung sướng trước những thành quả mà mình làm ra
Câu 3 a) thành phần biệt lập tình thái : hình như b) thành phần biệt lập cảm thán: người ơi
Câu4
Câu 5
Câu6 : Em thích cách trích dẫn các bằng chứng từ các bài thơ ra của tác giả . Vì nhờ đó mà em hiểu rõ hơn về nội dung cũng như các lí luận ở trong bài đó hơn
Câu 1:Văn bản bàn về vẻ đẹp của bức tranh mùa gặt ở nông thôn miền Bắc và những cung bậc cảm xúc, tâm hồn của người nông dân (thông qua bài thơ của Nguyễn Duy).
Câu 2:Câu luận điểm là: "Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm: “Mảnh sân trăng lúa chất đầy/ Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình”."
Câu 3: a. Thành phần tình thái: "hình như".
b. Thành phần gọi - đáp: "người ơi".
Câu 4
Cách trích dẫn: Trích dẫn trực tiếp (dùng từ ngữ "phả" và câu tục ngữ "cánh cò chở nắng" đặt trong dấu ngoặc kép). Tác dụng: Giúp việc lập luận trở nên cụ thể, sinh động và có sức thuyết phục cao; đồng thời nhấn mạnh sự quan sát tinh tế và cách dùng từ độc đáo của nhà thơ.
Câu 5
Lí lẽ (về hai thái cực trong tình cảm người nông dân: xôn xao náo nức và lo xa) cùng các bằng chứng (các câu thơ về hạt rụng, hạt rơi, thân rơm rách) giúp làm nổi bật sự thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc của tác giả với nỗi vất vả, chắt chiu của người nông dân. Nó minh chứng cho luận điểm: người nông dân không chỉ có niềm vui mà còn có những suy ngẫm, lo toan đầy tình nghĩa
Câu 6
Em thích nhất cách tác giả sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc (ví dụ: "vàng tuôn", "đắm xuống", "lo xa"). Vì sao: Cách viết này không khô khan như các bài lý luận thông thường mà nó giống như một lời tâm tình, giúp người đọc vừa hiểu được cái hay của bài thơ, vừa cảm nhận được cái hồn của làng quê Việt Nam một cách chân thực
câu1 vấn đề làm đồng
câu 2 câu văn nêu luận điểm là câu b
Câu 1:
Văn bản là một bài phê bình văn học, bàn về vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của bài thơ "Tiếng hát mùa gặt" (Nguyễn Duy). Cụ thể, tác giả Trần Hoà Bình phân tích bức tranh mùa gặt sống động ở nông thôn miền Bắc và những cung bậc cảm xúc, sự trân trọng của người nông dân đối với hạt lúa.
Câu 2:
Câu văn nêu luận điểm của đoạn (3) là câu đầu tiên:
"Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm."
Câu 3:
a. Thành phần biệt lập: "hình như" (Thành phần tình thái - thể hiện sự phỏng đoán, chưa chắc chắn).
b. Thành phần biệt lập: "người ơi" (Thành phần gọi - đáp - dùng để thiết lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp).
Câu 4:
Cách trích dẫn: Tác giả sử dụng cả trích dẫn trực tiếp (đặt trong ngoặc kép như: "phả", "cánh cò dẫn gió", "liếm ngang chân trời") và trích dẫn gián tiếp khi nhắc lại các ý tưởng hình ảnh trong thơ.
Tác dụng: Tăng tính thuyết phục và độ tin cậy cho những lời bình luận.
• Giúp người đọc dễ dàng đối chiếu giữa lời bình và nguyên tác bài thơ.
• Làm nổi bật sự tinh tế trong cách dùng từ của Nguyễn Duy (đặc biệt là động từ "phả").
Câu 5:
Vai trò:
• Lí lẽ: Làm rõ tâm trạng "cả nghĩ" và hai thái cực cảm xúc (xon xao, náo nức đối lập với lo xa, đằm xuống) của người nông dân.
• Bằng chứng (Các câu thơ): Minh chứng cụ thể cho lòng trắc ẩn, sự nâng niu của con người trước thành quả lao động ("thân rơm rách để hạt lành lúa ơi").
• Kết nối: Chúng phối hợp để thể hiện sâu sắc luận điểm: Bài thơ không chỉ tả cảnh mà còn tả "tình", một cái tình nặng nề nghĩa tình với đồng ruộng của người nông dân.
Câu 6:
• Cách dùng từ giàu hình ảnh: Tác giả không chỉ phê bình khô khan mà dùng ngôn từ rất mượt mà, đầy cảm xúc (như: "thiên nhiên chợt có hồn", "nồng nẩm", "nung nấu").
• Sự thấu cảm sâu sắc: Tác giả không chỉ phân tích câu chữ mà còn đọc được cả "tiếng lòng" của nhân vật trữ tình, giúp người đọc cảm thấy gần gũi với hồn quê Việt Nam.
• Lập luận chặt chẽ: Đi từ không gian ban ngày đến ban đêm, từ cảnh vật đến tâm hồn con người, tạo nên một mạch cảm xúc logic và toàn diện.
Câu 1:
- Văn bản bàn về vẻ đẹp của bức tranh mùa gặt ở nông thôn miền Bắc và tâm hồn của người nông dân.
Câu 3:
a, thành phần tình thái: "hình như"
- tác dụng: thể hiện cách đánh giá của người viết đối với sự việc được nói đến trong câu.
b, thành phần phụ chú: "của một đồng, công một nén là đây
- tác dụng: dùng để giải thích rõ hơn cho cụm từ "thành quả ấy", giúp người đọc hiểu được giá trị to lớn và vất vả để làm ra hạt lúa.
Câu 6:
Câu 1: văn bản trên bàn luận về mùa gặt lúa dsdbskwkbwosskbsoakwbwiqpsbdkwpwjwiwwhwiwhwowo ccaauvdkwlw wlqkwvwoqhajpwjwwzpYuhjwpwvslwpebekwoe kwoebeowkw wowkveowbwospakenwđsbdnwpskdlwđwjslwpqjslspwjsoskwvskwpwbwoslbwpsndkwpwkbsowlspselwbapsdkbekwksbeowkbslwownsbdkeoowsnnddpwosbdneopwsjbsnwlwksjenêowosjejkêêoiddjjejwosdkjebwowidjdjwowjsbdndkeoeiejebdkdoeokebendoddojdbkâopskndbêpêekebenelwpskdbnwlowbwvâjêlkôbbeoekebêklqdb ekwlw dndklwebeleodjwbbâkbâvêvve wlwkwbsdkslbêiwkd
Câu 1:
Văn bản trên nói về vấn đề: thu hoạch lúa của những người nông dân
Câu 1. Văn bản bàn về: → Vẻ đẹp của không gian mùa gặt ở nông thôn miền Bắc và tình cảm, tâm trạng của người nông dân trước thành quả lao động; qua đó làm nổi bật giá trị nhân văn, cảm xúc sâu lắng trong thơ Nguyễn Duy. Câu 2. Câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3): → “Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm.” → Đây là câu khái quát ý chính, các câu sau làm nhiệm vụ phân tích, chứng minh. Câu 3. Xác định thành phần biệt lập: a) “Cái nắng gặt gao hình như không phải từ trên trời xuống…” → Không có thành phần biệt lập. b) “Thành quả ấy, ‘của một đống, công một nén là đây’, cho nên mới phải thốt lên…” → Thành phần biệt lập: phụ chú → Phần phụ chú: “của một đống, công một nén là đây” (đặt trong dấu ngoặc kép, có tác dụng giải thích, nhấn mạnh). Câu 4. Đoạn (2) sử dụng các cách trích dẫn: Trích dẫn trực tiếp (đặt trong ngoặc kép) Trích dẫn gián tiếp Tác dụng: → Làm cho lập luận cụ thể, sinh động, giàu sức thuyết phục, giúp người đọc cảm nhận rõ vẻ đẹp hình ảnh và cảm xúc trong thơ Nguyễn Duy. Câu 5. Vai trò của lí lẽ và bằng chứng trong đoạn (4): → Giúp làm nổi bật tâm trạng “cả nghĩ” của người nông dân: vừa vui mừng trước mùa gặt, vừa lo xa, trân trọng từng hạt lúa. → Qua đó, luận điểm về chiều sâu nhân văn và cảm xúc đời thường trong thơ Nguyễn Duy được thể hiện rõ ràng, thuyết phục. Câu 6. Điều em thích nhất trong nghệ thuật nghị luận của tác giả: → Em thích cách tác giả kết hợp phân tích tinh tế với cảm xúc chân thành, sử dụng dẫn thơ tự nhiên, giọng văn nhẹ nhàng mà sâu lắng. → Cách viết ấy giúp bài nghị luận không khô khan, mà giàu hình ảnh và cảm xúc, tạo được sự đồng cảm với người đọc.
Câu 1
Về vấn đề quá trình của lúa
Câu 2
Không gian: Được mở rộng từ những cánh đồng ban ngày vào tận trong thôn xóm buổi đêm, cụ thể là trên những mảnh sân phơi đầy lúa.
Thời gian: Vào mùa gặt hái ở nông thôn, vào những buổi đêm có ánh trăng sáng.
Hoạt động: Cảnh lao động hăng say, rộn ràng với tiếng máy quay "xập xình", lúa chín chảy tràn như "vàng tuôn", thể hiện sự no ấm và niềm hạnh phúc của người nông dân trước thành quả lao động.
Câu 3
a. Thành phần tình thái: "hình như" (thể hiện sự đánh giá, cảm nhận chưa chắc chắn của người nói về sự việc).
b. Thành phần gọi đáp: "người ơi" (dùng để tạo lời nói, thu hút sự chú ý của người nghe).
Câu 4
Đoạn văn sử dụng cách trích dẫn trực tiếp.
-Dấu hiệu: Tác giả sử dụng dấu ngoặc kép "," để dẫn lại các từ ngữ, hình ảnh cụ thể từ văn bản gốc (có thể là bài thơ hoặc tác phẩm đang được phân tích).
Bằng- chứng cụ thể: Các từ và cụm từ như: "phả", "cánh cò chở nắng", "liếm ngang chân trời".
Việc sử dụng trích dẫn trực tiếp trong đoạn văn nghị luận này có các tác dụng sau:
-Tăng tính thuyết phục và khách quan: Giúp người đọc tiếp cận trực tiếp với ngôn ngữ của tác phẩm, làm cho những lời nhận xét, phân tích của người viết trở nên đáng tin cậy, "nói có sách, mách có chứng".
-Làm nổi bật giá trị nghệ thuật của ngôn từ: Nhấn mạnh vào những từ ngữ đặc sắc (như chữ "phả", hình ảnh "liếm ngang chân trời"), giúp người đọc cảm nhận rõ hơn cái hay, cái độc đáo trong cách dùng từ và xây dựng hình ảnh của tác giả tác phẩm.
-Tạo sự sinh động cho lời văn: Việc đan xen các từ ngữ giàu hình ảnh vào lời bình giúp đoạn văn phân tích không bị khô khan, đồng thời gợi mở không gian và cảm xúc một cách mạnh mẽ.
Câu 5
Vai trò của các bằng chứng này cụ thể như sau:
-Cụ thể hóa luận điểm: Thay vì chỉ nói suông là người nông dân "lo xa" hay "cả nghĩ", việc trích dẫn các câu thơ như "Tay nhè nhẹ chút, người ơi/ Trông đôi hạt rụng, hạt rơi xót lòng" giúp người đọc hình dung rõ rệt sự trân trọng nâng niu thành quả lao động và nỗi xót xa trước những mất mát nhỏ nhất.
-Tăng sức thuyết phục và tính khách quan: Các câu thơ đóng vai trò là "người thực, việc thực". Chúng chứng minh rằng nhận định của người viết không phải là suy diễn chủ quan mà dựa trên chính hồn cốt văn chương của Nguyễn Duy – một nhà thơ am hiểu sâu sắc về nông thôn.
-Làm sâu sắc thêm các thái cực tình cảm:Bằng chứng về "của một đồng, công một nén" giải thích nguồn gốc của sự lo âu.Hình ảnh "Thân rơm rách để hạt lành lúa ơi!" minh chứng cho sự hy sinh, nhẫn nại.Câu thơ "Nắng non mầm mục mất thôi..." thể hiện sự đối lập giữa cái khắc nghiệt của thiên nhiên và khát vọng bền bỉ của con người.
-Tạo sự truyền cảm và chất thơ cho đoạn bình: Việc lồng ghép bằng chứng thơ ca giúp đoạn văn nghị luận không bị khô khan, tạo nên sự đồng cảm về mặt cảm xúc giữa người viết, người đọc và đối tượng được nói đến (người nông dân)
Câu 6
-Em thích nhất lối viết nghị luận giàu cảm xúc kết hợp với phân tích tinh tế của Trần Hòa Bình. Bởi cách viết ấy không chỉ giúp người đọc hiểu sâu nội dung bài thơ mà còn cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc sống lao động qua từng hình ảnh, âm thanh. Lập luận chặt chẽ nhưng giọng văn vẫn mềm mại, giàu cảm xúc, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho bài viết.
Câu 1 văn bản trên bàn về vấn đề gặt lúa ở nông thôn miền bắc
Câu 2 không gian mùa gặt không chỉ mở ra trên những cánh đồng vào ban ngày mà còn hiện lên sống động trong thôn xóm vào buổi đêm
Câu 3 a) Hình như : thành phần tình thái
b) Người ơi Thành phần gọi đáp
Câu 4 trích dẫn trực tiếp
Trích dẫn gián tiếp
Tác dụng :tăng tính thuyết phục,tạo sự sinh động,làm rõ luận điểm
Câu 5 có vai trò giúp đoạn văn mach lạc giàu sức thuyết phục giàu sức biểu cảm
Câu 6 em thích cách tác giả làm hấp dẫn văn bản của mình vì điều đó giúp em thấu hiểu hơn vào văn bản
Câu1: văn bản bàn về vẻ đẹp của mùa gặt ở nông thôn miền Bắc Việt Nam, đồng thời khắc hoạ cảm xúc và tâm tư của người dân qua các giai đoạn của mùa như gặt lúa, tuốt lúa , phơi khô, quạt sạch.
Câu 2: Câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3) là:Không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng bắn ngày , nó còn hiện lên ở nông thôn buổi đêm.
Câu 3:
a) Thành phần biệt lập: Hình như (thành phần tình thái)
b( Thành phần biệt lập: Ấy, của một cánh đồng công một nét là đông.( Thành phần tình thái và thành phần giải thích)
Câu 4:
Cách trích dẫn: Đoạn (2) trích dẫn trực tiếp các hình ảnh và từ ngữ tiêu biểu từ bài thơ như "phả từ cánh đồng lên", " cánh cò dẫn gió", và " kiếm ngang chân trời".
Tác dụng: Việc trích dẫn này làm nổi bật sự sinh động của không gian mùa gặt, đồng thời tăng tính thuyết phục cho luận điểm