Trong văn học dân gian, nhiều tác phẩm được xây dựng với những nhân vật có sức...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

22 tháng 7 2025

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, truyện cổ tích là một thể loại đặc sắc, chứa đựng những giá trị văn hóa, đạo đức sâu sắc. Một trong những yếu tố làm nên sự hấp dẫn của truyện cổ tích là sự xuất hiện của những nhân vật có sức mạnh phi thường. Những nhân vật này không chỉ là biểu tượng của sức mạnh thể chất mà còn là hiện thân của những phẩm chất tốt đẹp, những ước mơ, khát vọng của con người. Hôm nay, tôi muốn giới thiệu về một nhân vật như thế, đó là Thánh Gióng, một trong "tứ bất tử" của văn hóa dân gian Việt Nam.Thánh Gióng là một cậu bé kỳ lạ, sinh ra đã không biết nói, không biết cười, cũng chẳng biết đi. Nhưng khi nghe tiếng loa của sứ giả nhà vua tìm người tài đánh giặc Ân, Gióng bỗng cất tiếng nói, xin được đi đánh giặc. Cậu bé lớn nhanh như thổi, ăn bao nhiêu cũng không đủ, mặc bao nhiêu cũng không vừa. Khi giặc đến chân núi Trâu, Gióng vươn vai biến thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt xông thẳng vào quân giặc.Sức mạnh phi thường của Thánh Gióng không chỉ thể hiện ở khả năng biến hóa và sức khỏe vô địch mà còn ở tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và ý chí quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm. Gióng không hề sợ hãi trước quân giặc hùng mạnh mà luôn xông pha, chiến đấu hết mình để bảo vệ quê hương, đất nước. Sau khi đánh tan quân giặc, Gióng không màng danh lợi, không ở lại hưởng vinh hoa phú quý mà cưỡi ngựa bay về trời. Hành động này thể hiện sự thanh cao, giản dị và tinh thần vô tư, vị tha của người anh hùng.Vậy, những nhân vật có sức mạnh phi thường như Thánh Gióng có ý nghĩa, vai trò gì đối với đời sống con người?Thứ nhất, họ là biểu tượng của sức mạnh đoàn kết dân tộc. Trong truyện cổ tích, những nhân vật có sức mạnh phi thường thường xuất hiện vào những thời điểm đất nước gặp nguy nan, khi có giặc ngoại xâm hoặc thiên tai địch họa. Sự xuất hiện của họ là biểu tượng của sức mạnh đoàn kết, của ý chí quật cường của cả dân tộc trong cuộc chiến chống lại kẻ thù hoặc khắc phục khó khăn.Thứ hai, họ là hiện thân của những ước mơ, khát vọng của con người. Trong cuộc sống thực tế, con người luôn phải đối mặt với những khó khăn, thử thách, với những bất công, áp bức. Những nhân vật có sức mạnh phi thường trong truyện cổ tích là hiện thân của ước mơ về một sức mạnh có thể vượt qua mọi trở ngại, có thể chiến thắng mọi kẻ thù, có thể mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người.Thứ ba, họ là nguồn cảm hứng về những phẩm chất tốt đẹp. Những nhân vật như Thánh Gióng không chỉ có sức mạnh phi thường mà còn có những phẩm chất tốt đẹp như lòng yêu nước, lòng dũng cảm, tinh thần vô tư, vị tha. Họ là những tấm gương sáng để con người học tập và noi theo, để sống tốt đẹp hơn, ý nghĩa hơn. Thứ tư, họ góp phần giáo dục đạo đức và truyền thống văn hóa cho thế hệ sau. Thông qua những câu chuyện về những nhân vật có sức mạnh phi thường, người lớn có thể giáo dục cho trẻ em về lòng yêu nước, lòng dũng cảm, tinh thần đoàn kết, và những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.Tóm lại, những nhân vật có sức mạnh phi thường trong văn học dân gian, đặc biệt là trong truyện cổ tích, có ý nghĩa và vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống con người. Họ không chỉ là biểu tượng của sức mạnh, của ước mơ, khát vọng mà còn là nguồn cảm hứng về những phẩm chất tốt đẹp, góp phần giáo dục đạo đức và truyền thống văn hóa cho thế hệ sau.

I. Mở đầuVăn học dân gian là nền tảng của văn học viết Việt Nam, phản ánh đời sống, tâm tư và ước mơ của nhân dân lao động. Nhiều tác phẩm văn xuôi trung đại đã kế thừa chất liệu dân gian để xây dựng những câu chuyện thấm đẫm tính nhân văn. Chuyện người con gái Nam Xương trong tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một minh chứng điển hình. Tác phẩm vừa mang đậm dấu...
Đọc tiếp

I. Mở đầu

Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết Việt Nam, phản ánh đời sống, tâm tư và ước mơ của nhân dân lao động. Nhiều tác phẩm văn xuôi trung đại đã kế thừa chất liệu dân gian để xây dựng những câu chuyện thấm đẫm tính nhân văn. Chuyện người con gái Nam Xương trong tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một minh chứng điển hình. Tác phẩm vừa mang đậm dấu ấn của truyền thuyết dân gian vừa chứa đựng tư tưởng nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc.

II. Nội dung nghiên cứu

1. Nguồn gốc dân gian và sự tiếp thu của Nguyễn Dữ

Câu chuyện có cốt lõi từ truyền thuyết dân gian về Vũ Nương – người phụ nữ tiết hạnh, chịu oan khuất vì chồng ghen tuông, sau hóa thân thành bóng trên sông Hoàng Giang.

Nguyễn Dữ tiếp thu và nâng tầm: từ một truyện truyền miệng thành tác phẩm văn xuôi chữ Hán, vừa giữ lại yếu tố kỳ ảo dân gian (thủy cung, Linh Phi) vừa kết hợp bút pháp hiện thực.

2. Vấn đề được đặt ra trong tác phẩm

a) Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến

Vũ Nương tiêu biểu cho người phụ nữ truyền thống: hiền thục, thủy chung, hiếu nghĩa.

Dù vậy, nàng vẫn bị nghi oan, bị đẩy đến cái chết oan khuất, thể hiện sự bất công và số phận mong manh của người phụ nữ trong xã hội nam quyền.

b) Tư tưởng nhân đạo của tác phẩm

Nguyễn Dữ bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc cho thân phận Vũ Nương.

Ông trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ, đồng thời phê phán xã hội phong kiến bất công, lễ giáo khắt khe đã đẩy họ vào bi kịch.

c) Sự hòa quyện giữa yếu tố hiện thực và kỳ ảo

Hiện thực: chiến tranh, cảnh chồng đi lính, gia đình chia lìa, nỗi cô đơn và ghen tuông.

Kỳ ảo: thủy cung, Linh Phi, sự xuất hiện của Vũ Nương khi đã “hóa thân”.

Qua đó, tác phẩm thể hiện niềm tin dân gian vào công lý ở một thế giới khác, khi công lý ở trần gian không thể thực hiện.

3. Ý nghĩa dân gian – văn học

Tác phẩm vừa là tiếng nói tố cáo hiện thực xã hội, vừa là sự khẳng định giá trị nhân phẩm người phụ nữ. Kế thừa và phát triển chất liệu dân gian, Nguyễn Dữ đã mở rộng sức sống của truyền thuyết trong đời sống văn học viết.

III. Kết luận

Chuyện người con gái Nam Xương không chỉ là một truyện truyền kỳ giàu yếu tố kỳ ảo mà còn là một bản cáo trạng đanh thép đối với chế độ phong kiến, đồng thời là khúc ca ngợi phẩm hạnh và vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ. Nghiên cứu tác phẩm cho thấy văn học viết Việt Nam trung đại đã kế thừa và phát triển từ nền văn học dân gian, qua đó khẳng định vai trò nền tảng và sức sống bền bỉ của văn học dân gian trong dòng chảy văn học dân tộc.

0
1. Mở đầuVăn học dân gian Việt Nam chứa đựng nhiều truyền thuyết anh hùng, thể hiện lòng yêu nước và khát vọng độc lập. Thánh Gióng là tác phẩm tiêu biểu, ca ngợi sức mạnh phi thường của dân tộc và ý chí bảo vệ Tổ quốc.2. Nội dung nghiên cứua. Tóm tắt truyệnGióng là cậu bé lạ lùng: ba tuổi chưa biết nói cười. Khi giặc Ân xâm lược, Gióng vươn mình lớn nhanh như thổi, cưỡi...
Đọc tiếp

1. Mở đầu

Văn học dân gian Việt Nam chứa đựng nhiều truyền thuyết anh hùng, thể hiện lòng yêu nước và khát vọng độc lập. Thánh Gióng là tác phẩm tiêu biểu, ca ngợi sức mạnh phi thường của dân tộc và ý chí bảo vệ Tổ quốc.

2. Nội dung nghiên cứu

a. Tóm tắt truyện
Gióng là cậu bé lạ lùng: ba tuổi chưa biết nói cười. Khi giặc Ân xâm lược, Gióng vươn mình lớn nhanh như thổi, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt đánh tan giặc, rồi bay về trời.

b. Đặc điểm nghệ thuật

Yếu tố kì ảo, phóng đại: lớn nhanh, ngựa sắt, roi sắt… làm nổi bật hình tượng siêu phàm, biểu tượng sức mạnh dân tộc.

Kết cấu giàu kịch tính: từ cậu bé bình thường đến anh hùng giải cứu đất nước.

Ngôn ngữ truyền miệng mộc mạc, nhịp điệu dồn dập, hào hùng.

c. Giá trị nội dung

Ca ngợi tinh thần yêu nước: Thánh Gióng là hiện thân của ý chí quật cường chống ngoại xâm.

Niềm tin vào sức mạnh nhân dân: từ một đứa trẻ làng quê, nhờ lòng yêu nước mà hóa thành anh hùng.

Giáo dục thế hệ sau: bồi dưỡng tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ Tổ quốc.

3. Kết luận

Truyền thuyết Thánh Gióng không chỉ là câu chuyện kì ảo hấp dẫn mà còn là bản anh hùng ca bất diệt về sức mạnh đoàn kết và tinh thần yêu nước. Tác phẩm góp phần khơi dậy niềm tự hào dân tộc, thôi thúc mỗi người gìn giữ và bảo vệ quê hương.

0
28 tháng 8 2016

+ “Họ đều là những người nông dân nghèo thương con”. Nhưng tình thương con của mỗi người có biểu hiện và kết cục khác nhau: chị Dậu thương con mà không bảo vệ được con, phải bán con lấy tiền nộp sưu cứu chồng; lão Hạc phải tìm đến cái chết để giữ mảnh vườn cho con; còn ông Hai, khi nghe tin làng theo giặc lại lo cho con vì chúng nó cũng là con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...Rõ ràng, ông đặt tình cảm riêng trong mối quan hệ với làng, với nước; ông hiểu danh dự của mỗi con người – dù còn ít tuổi – cũng gắn với danh dự của làng, gắn với vận mệnh của đất nước.
+ “Họ đều có sức phản kháng, đấu tranh”. Trong hoàn cảnh xã hội trước Cách mạng tháng Tám, chị Dậu phản kháng một cách tự phát, để bảo vệ chồng trước sự dã man vô nhân đạo của những kẻ đại diện cho cái gọi là “nhà nước” bấy giờ. Còn ông Hai, ông có ý thức trách nhiệm với làng, có tinh thần kháng chiến rất rõ ràng: ông trực tiếp tham gia các hoạt động kháng chiến ở làng, ông muốn trở về làng để được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…khi đi tản cư ông vẫn lo cho các công việc kháng chiến ở làng.
- Đặc biệt, cần phân tích để thấy những chuyển biến “rất mới” trong tình cảm của ông Hai đối với làng. Ở ông Hai, “tình yêu làng mang tính truyền thống đã hòa nhập với tình yêu nước trong tinh thần kháng chiến của toàn dân tộc”.
+ Tình yêu làng thể hiện ở việc hay khoe làng của ông. Phân tích để thấy sự thay đổi ở việc khoe làng ấy: trước Cách mạng, ông khoe sự giàu có, hào nhoáng của làng; sau Cách mạng tháng Tám, ông khoe không khí cách mạng ở làng ông…Ông tin vào ý thức cách mạng của người dân làng ông cũng như thắng lợi tất yếu nếu giặc đến làng nên nghe giặc “rút ở Bắc Ninh, về qua làng chợ Dầu…” thì ông hỏi ngay “ta giết được bao nhiều thằng?”.
+ Tình yêu làng gắn với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin đồn làng theo giặc. Từ khi chợt nghe tin đến lúc về nhà, nhìn lũ con; rồi đến những ngày sau…nỗi tủi hổ ám ảnh ông Hai thật nặng nề, mặc cảm tội lỗi ngày một lớn hơn. Tình yêu làng, yêu nước của ông còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông thấy tuyệt vọng vì ở nơi tản cư có tin không đâu chứa người làng Chợ Dầu. Lòng trung thành với cách mạng, với đất nước thật mạnh mẽ, hiểu rõ những điều quý giá mà cách mạng đã mang lại cho mình cũng như trách nhiệm với cách mạng nên ông Hai đã quyết định dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
+ Tình cảm với kháng chiến, với cụ Hồ của ông Hai được thể hiện cảm động, chân thành khi ông tâm sự với đứa con út. Và, tinh thần kháng chiến, niềm tự hào về làng Chợ Dầu kháng chiến được thể hiện cụ thể khi ông Hai nghe tin cải chính về làng.
- Phân tích để thấy “nguyên nhân của những đổi thay rất mới đó ở nhân vật ông Hai”. Những đổi thay đó là do tác động của hoàn cảnh lịch sử. Sự mở rộng và thống nhất giữa tình yêu quê hương với tình yêu đất nước là nét rất mới trong nhận thức và tình cảm của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám mà nhà văn Kim Lân đã thể hiện qua nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy có được bởi cách mạng đã mang lại cho người nông dân cuộc sống mới, họ được giác ngộ và cũng có ý thức tự giác vươn lên cho kịp thời đại. Vậy nên, tầm nhìn, suy nghĩ của ông Hai đã được mở rộng, đúng đắn.

21 tháng 11 2023

- Trong lời giới thiệu của tri huyện có nhắc tới chức vụ, quyền uy, thậm chí cả những thói hư tật xấu, cách phân xử vô lí dựa vào đồng tiền để phân định. Từ đó ta thấy được con người nhu nhược, bỉ ổi của tri huyện, chuyên tham nhũng đút lót của nhân dân.

- Trong lời giới thiệu hàng ngày, người ta thường giới thiệu những ưu điểm, đặc điểm nổi trội để gây ấn tượng với đối phương. Trong tuồng, nhân vật giới thiệu tất cả chức vụ, tính cách, phẩm chất tốt hay xấu.

30 tháng 11 2021

Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, sản phẩm của quátrình sáng tác tập thể thể hiện nhận thức, tư tưởng, tình cảm của nhân dân lao động về tự nhiên,xã hội nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.Ví dụ:" Hỡi cô gánh nước quang mâyCho anh xin gáo tưới cây ngô đồng?".Hay là:" Chuồn chuồn bay thấp thì mưaBay cao thì nắng, bay vừa thì râm" .

 

Ui lạc kìa:>

5 tháng 3 2023

   Tác phẩm văn học hấp dẫn người đọc bằng những nhân vật do trí tưởng tượng của nhà văn sáng tạo ra. Thật vậy, nhân vật là một trong những yếu tố quan trọng nhằm thể hiện nội dung, tư tưởng, quan điểm của tác phẩm. “Trí tưởng tượng là cội nguồn sáng tạo của nghệ thuật, là vầng thái dương vĩnh cửu và là chúa trời của nó” (thơ La tinh). Câu nói ấy đã nhấn mạnh vai trò của năng lực tưởng tượng trong sáng tạo Văn học. Chúng ta bắt gặp hình ảnh một Chí Phèo với hình dáng bặm trợn, mặt đầy vết sẹo, khiến người khác nhìn vào mới thấy sợ hãi làm sao. Tuy nhiên, hình tượng nhân vật Chí Phèo ấy là do Nam Cao sáng tạo ra nhằm chỉ những Chí Phèo” ngoài đời thật. Nhờ có tưởng tượng mà nhà thơ, nhà văn đã khắc hoạ nên hình tượng nhân vật, hình ảnh thơ đầy cảm xúc chạm đến nội tâm người đọc, khiến họ xúc động, hồi hộp, hạnh phúc.

mọi người hãy xem bài em có đúng k ạNghị luận xã hội - Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình Trong bài thơ “Một khúc ca xuân”, Tố Hữu có viết: Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?”“Cái quý giá nhất của con người là đời sống. Vì đời người chỉ sống có một lần”. Vậy phải sống sao cho “khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ...
Đọc tiếp

mọi người hãy xem bài em có đúng k ạ

Nghị luận xã hội - Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình Trong bài thơ “Một khúc ca xuân”, Tố Hữu có viết: Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?”

“Cái quý giá nhất của con người là đời sống. Vì đời người chỉ sống có một lần”. Vậy phải sống sao cho “khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn?”. Để trả lời với tất cả chúng ta câu hỏi đó, trong bài “Một khúc ca xuân”, Tố Hữu đã tâm sự bằng những câu thơ giản dị mà rất sâu sắc: Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?”

Tố Hữu muốn khẳng định trước hết sống phải có ích cho đời. Là con chim không chỉ biết kêu mà cao hơn nữa phải biết cất tiếng hót ca lanh lảnh hót cho đời, tạo nên những bản nhạc rộn rã tươi vui cho đất trời. Cũng như vậy, đã là chiếc lá thì chiếc lá phải xanh tươi đưa lại sức sống cho cây cối, làm mát mắt cho đời và hút nhiều thán khí, nhả ra nhiều ô-xy đem lại sự sống cho con người và muôn loài vật trên trái đất này. Ngay cả những sinh vật hết sức nhỏ bé như thế, mà chúng còn biết hiến dâng những gì tốt đẹp nhất, có ý nghĩa nhất giúp ích cho đời. Vậy, chúng ta là những con người “Chúa tể của trần gian, kiểu mẫu của muôn loài” (Sêch-xpia), là “Hoa của đất” (tục ngữ), là động vật duy nhất có trí tuệ và tâm hồn, chúng ta phải làm gì và sống ra sao đây để cùng muôn loài tô điểm cho quê hương, đất nước, cho “Trái đất này là ngôi nhà của chúng mình” ngày một tươi đẹp hơn.

Muốn sống cho xứng đáng tên gọi thiêng liêng cao quý của mình “Con người! Ôi hai tiếng ấy vang lên mới tự hào và kiêu hãnh làm sao!” (Gor –ki), mỗi chúng ta phải có lẽ sống đẹp. Nghĩa là phải biết ứng xử một cách đẹp đẽ giữa người với người, giữa cá nhân với cộng đồng, với quê hương đất nước. Nói như Tố Hữu, lẽ sống đẹp là lẽ sống có “vay” thì có “trả”, có “nhận”, thì phải có “cho”, phải cống hiến hy sinh sức lực, tâm trí, thậm chí là cả sự sống của mình cho đời, để đời ngày một “đàng hoàng”, “tươi đẹp hơn”.
Mỗi chúng ta giờ đây được sống trên đời, hít thở khí trời, đứng thẳng hai chân kiêu hãnh làm người, chúng ta đã được nhận quá nhiều từ công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ, ông bà tổ tiên, từ tình yêu thương đùm bọc của bà con, đồng bào, từ sự hy sinh của biết bao anh hùng liệt sĩ đã đổ máu xương để xây dựng quê hương và giữ gìn đất nước thanh bình tươi đẹp như hôm nay… Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta đã được thừa hưởng biết bao thành quả của người đi trước để lại và người khác đem cho. Như thế là chúng ta đã “vay”, đã “mắc nợ” người thân, nhân dân, đất nước nhiều rồi! Là con người vốn giàu nhân cách và lòng tự trọng, lẽ nào chúng ta nhắm mắt ăn quỵt được sao? Không! Chúng ta phải “trả”, hơn nữa phải “cho” nhiều hơn những gì mà chúng ta đã “vay”, đã “nhận”. Đó là hành động vừa đúng với nhân tâm, vừa hợp với Đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn”. Cách đây hơn nửa thiên niên kỷ, thi hào dân tộc Nguyễn Trãi, một người Việt Nam nhất trong những người Việt Nam nhất trong lịch sử quá khứ cũng từng đã viết “Ăn lộc phải đền ơn kẻ cấy cày”, đó sao?

Trong sự nghiệp xây dựng chính quyền và bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, ở Việt Nam ta đã có biết bao con người sống rất đẹp cho đạo lý, lẽ sống “trả”, “vay” đó, như Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Nguyễn Viết Xuân, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Nguyễn Văn Trỗi, Lý Tử Trọng, Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc,…Họ sẵn sàng “cho” cả cuộc đời, sẵn sàng đổ máu mình cho Tổ quốc đơm hoa Độc lập, kết trái tự do. “Và em nữa. Lưng đèo Mụ Gia, ai biết tên em? Chỉ biết cô gái nhỏ anh hùng. Sống chết từng đêm; Mà lòng thanh thản lạ: Đâu phải hy sinh, em vinh dự vô cùng”. (Tố Hữu – gửi TNXP).

Noi theo những tấm gương cao đẹp đó, giờ đây, những người đang sống lại tiếp tục hy sinh, cống hiến tâm trí và sức lực của mình để làm giàu cho Tổ quốc:

“Ta lại hành quân như năm nào đánh Mĩ

Những sư đoàn không súng, lại xung phong

Ta lại thắng như những chàng dũng sĩ

Biến và hoang vu, thành cơm áo hoa hồng.”

(Tố Hữu).

Hàng ngày, hàng giờ trên đất nước ta có biết bao con người đã “cho” đi những giọt mồ hôi thấm đẫm tâm não để “nhận” lại những công trình khoa học, những sản phẩm lao động; hoặc “cho” đi những giọt máu đào nhân đạo để cho người bệnh có nụ cười ngọt ngào, vì sự sống được hồi sinh; hoặc “cho” đi những đồng tiền mà mình tiết kiệm được để cho những người nghèo, cơ nhỡ có những điều kiện vật chất tối thiểu để hướng cuộc đời về phía tương lai.

Bên cạnh biết bao con người ngày đêm miệt mài học tập, lao động, cống hiến tài năng sức lực cho xã hội, đất nước, thì có một bộ phận không nhỏ của thanh niên lại chỉ biết “vay” và “nhận”, thậm chí còn “nhận” quá nhiều mà không chịu “trả”. Họ đua đòi theo con đường ăn chơi hưởng lạc: đến với vũ trường, tìm đến “nàng tiên nâu”. “cái chết trắng”, để tiêu vèo hết cuộc đời trong chốc lát, vi những thú vui vô nghĩa, mà không hề biết hổ thẹn. Những người có lối sống ích kỷ và bất nhân, vô ơn bạc nghĩa ấy thật đáng phê phán, lên án, phỉ nhổ.

Như vậy, mấy câu thơ giản dị của Tố Hữu đã thể hiện một lẽ sống biết “vay”-“trả”; “cho”-“nhận” đúng lương tâm và đạo lí rất đẹp của người Việt Nam xưa nay. Hiểu được lẽ sống đó, mỗi chúng ta, ở từng cương vị cuộc sống khác nhau, hãy cống hiến hết sức mình, hãy “cho” thật nhiều và gắng làm “Một mùa xuân nho nhỏ, lặng lẽ dâng cho đời” như nhà thơ Thanh Hải đã viết:

“Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hòa ca

Một nốt trầm xao xuyến”

5
29 tháng 10 2016

Bài làm hay

1 tháng 11 2016

cam on

28 tháng 8 2023

Dàn ý

Mở bài: Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận: Sức mạnh của ý chí trong cuộc sống

Thân bài

- Giải thích: “Ý chí” là tinh thần, khả năng, năng lực vượt qua thử thách để thực hiện mục tiêu trong cuộc sống của mình

+ Có ý chí, con người sẽ vượt qua được thử thách, mạnh mẽ đứng lên sau thất bại

- Biểu hiện:

+ Luôn có tinh thần vượt khó khắn

+ Sống có mục tiêu, ước mơ, hoài bão, nỗ lực thực hiện ước mơ đó

+ Luôn chăm chỉ, siêng năng, cần cù trong mọi công việc

+ Có kế hoạch rõ ràng, luôn trau dồi học hỏi

- Ý nghĩa:

+ Là nhân tố quyết định thành công của một người

+ Giúp họ sống tích cực và đúng đắn, không sa ngã vào tệ nạn

- Dẫn chứng:

+ Thầy Nguyễn Ngọc Ký

+ Hồ Chí Minh: Vượt qua đại dương, đi hơn 30 nước tìm đường giải phóng dân tộc

- Phản đề:

+ Có một số bộ phận sống không ý chí, mục tiêu, hoài bão

+ Sống buông thả, sa vào tệ nạn xã hội

Kết bài: Bài học về rèn luyện ý chí

28 tháng 8 2023

Bài làm

    Xung quanh chúng ta, có biết bao nhiêu người đã vượt lên số phận, chiến thắng hoàn cảnh khắc nghiệt để vươn đến điều tốt đẹp nhất. Đó thực sự là tấm gương để mỗi người học tập, rèn luyện. Cũng vì thế mà nghị lực sống luôn được coi trọng và phát huy không ngừng nghỉ.

     Nghị lực sống của con người trước hết chính là bản lĩnh, sự cố gắng, kiên cường để vượt lên tất cả những khó khăn và thử thách. Để có được nghị lực phi thường đó thì bắt buộc con người đó phải chịu quá nhiều vất vả, nhiều dằn vặt. Đây có thể coi là động lực để hình thành nên ý chí, nghị lực này.

     Đâu đây trong cuộc sống, chúng ta vẫn bắt gặp không ít người, không ít số phận có được nghị lực vươn lên như vậy. Hình ảnh cậu bé tàn tật vẫn lê la xung quanh khu chợ mỗi buổi chiều tà, ánh mắt cậu buồn rười rượi để bán vé số. Những bước đi nặng nề ấy giữa tiết trời nắng chang chang và tiếng rao vé số như xé lòng. Dù đói nghèo, dù tàn tật nhưng cậu vẫn cố gắng để nuôi sống bản thân, để có thể không phải ngửa tay xin người khác. Một cuộc đời tàn nhưng không phế khiến mọi người rớt nước mắt. Chính nghị lực, sự nỗ lực đã khiến cậu bé vượt lên chính mình, trước kết là vượt lên sự kì thị của mọi người và lòng tự ti của bản thân mình.

     Nghị lực sống của con người còn được biểu hiện rất đơn giản, thường xuyên trong cuộc sống, và nó tồn tại ở trong chính con người bạn.Con đườngđại học gian nan, với nhiều thử thách ở phía trước. Bạn muốn chạm vào cánh cổng đại học, nơi bạn có thể thực hiệnước mơcủa mình. Bạn phải cố gắng, phải kiên cường, phải tìm tòi. Nếu không có nghị lực thì liệu rằng bạn có thể đạt được ước mơ đó không.

     Khi đã có nghị lực trong con người mình thì bạn sẽ thấy mình trường thành hơn, học tập được nhiều điều. Những người có nghị lực là những người có thể tự đứng lên bằng chính đôi chân, bằng sức lực của bản thân, không dựa dẫm, ỉ lại vào bất kỳ ai. Đây không phải là điều mà ai cũng có thể làm được.

     Nghị lực sẽ giúp bạn có thể tự tin đương đầu với thử thách, sóng gió, kể cả nỗi bất hạnh và mất mát bạn cũng có thể chịu đựng được. Là bởi vì bạn đã được rèn giũa, tôi luyện hằng hằng bằng chính nghị lực của bản thân. Chắc hẳn chúng ta chưa quên hình ảnh người thầy Nguyễn Ngọc Ký với sự cố gắng, nỗ lực, vượt lên chính mình để có thể trở thành người có ích cho xã hội như hiện nay. Không phải tự nhiên mà họ thành tài, cũng không phải trời thương, trời cho. Đó chính là quá trình cố gắng, kiên trì, miệt mài và không ít lần rơi nước mắt để có thể đạt được kết quả đáng ngưỡng mộ này. Đó chính là nghị lực phi thường, một nghị lực khiến ai cũng phải ngưỡng mộ và ngạc nhiên.

     Tuy nhiên, bên cạnh những người biết vươn lên, có nghị lực thì có một số người có lối sống ỷ lại, dựa dẫm, không có tinh thần phấn đấu, ý chí tiến thủ. Điều này thật nguy hại khi chính bản thân họ đang tự đưa mình vào ngõ cụt. Không cố gắng, không có chí tiến thủ, không biết tự hoàn thiện mình thì chắc chắn sẽ chỉ mãi mãi là người đi sau. Xã hội cần những con người có ý chí và nghị lực chứ không cần những kẻ có bằng cấp nhưng thiếu thực lực.

     Mỗi chúng ta hiện nay đang là học sinh, đang ngồi trên ghế nhà trường thì nghị lực là điều vô cùng quan trọng. Rèn luyện đức tính này thì bạn sẽ là người có một bước đệm chạm vào tương lai rất dễ dàng. Nghị lực sống của con người là điều mà mỗi người cần cố gắng, cần rèn luyện để có thể hoàn thiện bản thân và trở thành người có ích cho xã hội.