K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

3 tháng 4 2018

Cấp độ khái quát nghĩa của từ:

Dựa vào dàn ý sau viết thành bài văn hoàn chỉnh (không chép mạng) Thuyết minh về áo dài Việt Nama) Mở bàiÁo dài đã đi vào truyền thống dân tộc Việt Nam thể hiện niềm tự hào của người Việt Namb) Thân bài- Áo dài Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới- Áo dài có từ đâu và do ai thiết kế hiện nay chưa biết chính xác- Áo dài được thiết kế luôn...
Đọc tiếp

Dựa vào dàn ý sau viết thành bài văn hoàn chỉnh (không chép mạng) Thuyết minh về áo dài Việt Nam
a) Mở bài
Áo dài đã đi vào truyền thống dân tộc Việt Nam thể hiện niềm tự hào của người Việt Nam
b) Thân bài
- Áo dài Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới
- Áo dài có từ đâu và do ai thiết kế hiện nay chưa biết chính xác
- Áo dài được thiết kế luôn giữ được vẻ thanh tao, trang nhã, kín đáo của người con gái
- Vào năm 1744: chúa Nguyễn Phúc Khoát sau khi xưng vương đã bắt quan và dân Đàng Trong mặc lễ phục theo kiểu áo nhà Minh
- 1776: Chúa Trịnh chiếm được Đàng Trong bắt dân cắt áo ngắn, cổ giống như áo dài ngày nay
- Đầu thế kỉ 17 ở Bắc Ninh xuất hiện áo dài mớ ba, mớ bảy tôn vinh cái đẹp của người Việt Nam
- Từ 1930 đến 1940 người miền Bắc mặc với quần đen còn con gái xứ Huế mặc với quần trắng
- Năm 1939: nhà may Cát Tường cho ra đời 1 chiếc áo dài kiểu mới thay thế cho áo năm thân vay mượn kiểu áo phương Tây cổ bẻ hình trái tim, vai áo bồng, tay nối vai, khuy áo may dọc trên vai và sườn phải
- 1960: Trần Lệ Xuân đã cho ra đời kiểu áo có cổ tròn hay cổ thuyền
- Vào những năm 1970 trở lại đây, áo dài quay lại hình thức từ xa xưa, thường may đồng màu quần với áo với nhiều chất liệu vải tốt, hoa văn trang nhã, vạt áo dài đến mắt cá chân
* Ý nghĩa, công dụng của áo dài
- Thường mặc trong các lễ hội trang trọng, truyền thống, trang phục công sở của nữ sinh THPT, đại học......
* Cách sử dụng..................................................................................................................
* Cách bảo quản.................................................................................................................

1
27 tháng 11 2019

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những văn hóa, nét đặc trưng của từng vùng miền và trang phục truyền thống riêng. Đến với nước Nhật Bản có chiếc áo Ki-mô-nô, Hàn quốc có chiếc Han-bok, người Hoa có chiếc xườn xám…Còn với Việt nam chúng ta từ xưa đến nay chiếc áo dài đã trở thành trang phục truyền thống.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử, đấu tranh dựng nước và giữ nước, đố cũng chính là khoảng thời gian tàn phá đi những giá trị văn hóa của dân tộc. Chính bởi vậy mà không ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thủy có từ bao giờ và hình dáng của nó ra sao. Khi đọc đến cuốn “ Kể chuyện chín Chúa mười ba vua thời Nguyễn” của Tôn Thất Bình, người ta đã tìm thấy lịch sử ra đời của chiếc áo dài là vào khoảng thế kỉ thứ 18. Ban đầu chiếc áo dài còn thô sơ nhưng nó rất kín đáo, là sản phẩm có tính chất dung hòa của hai miền Bắc- Nam. Từ đó đến nay chiếc áo dài không ngừng được hoàn thiện và trở thành thứ y phục dân tộc mang tính thẩm mĩ cao.

Bộ áo dài gồm hai bộ phận quần và áo. Áo dài lại gồm ba bộ phận là cổ áo, tay áo, thân áo. Cổ áo trước kia người ta thường may cổ cao từ 4- 5 phân , lót một miếng vải ở trong cho cứng tạo nên sự kín đáo trang trọng của chiếc áo dài.Ngày nay trong chiếc cổ áo đã có nhiều thay đổi tạo nên sự phong phú đa dạng mà thuận lợi cho người đọc. Các nhà thiết kế đã sáng tạo ra nhiều kiểu cổ áo dài khác nhau như cổ ba phân, cổ tròn, cổ thuyền góp phầ tô thêm vẻ đẹp, làn da trắng cho người mặc. Tay áo thường được may tay dài đến mắt cá tay, phần dưới hơi loe ra để tạo cảm giác mềm mại, hiện nay có nhiều chiếc áo dài được thiết kế với nhiều kiểu tay lỡ, tay được may bằng chất liệu vải von rất điệu đà. Thân áo được tính từ cổ xuống phần eo. Thân áo dài được may vừa vặn, ôm sát thân của người mặc, ở phần eo được chiết lại (hai bên ở thân sau và hai bên ở thân trước) làm nổi bật chiếc eo thon của người phụ nữ. Cúc áo dài thường là cúc bấm, được cài từ cổ qua vai xuống đến phần eo. Từ eo, thân áo dài được xẻ làm hai tà, vị trí xẻ tà ở hai bên hông. Ngày nay các nhà thiết kế còn sáng tạo ra khóa áo ở thân sau vừ thuận tiện vừa kín đáo mà tạo sự mềm mại cho dáng áo. Quần dài được may ống rộng, trùng sát đất. Quần thường được may đồng màu với áo hoặc màu quần được lựa chọn sao cho phối hợp hài hòa và làm nổi bật dáng áo. Chất liệu may áo dài thường là loại vải lụa tơ tằm, lụa tổng hợp, nhung, the, gấm, vải càng nhẹ và mỏng thì khi lên áo càng thanh thoát. Ngày nay áo dài thường được trang trí thêm nhiều phụ kiện như ren, voan, kim tuyến, cườm,…

Chiếc áo dài đã trở thành quốc phục, mang trong mình quốc hồn, quốc túy của dân tộc. Các cô gái Việt trở nên đẹp hơn, duyên dáng hơn, tế nhị hơn khi mặc trên mình bộ trang phục truyền thống của dân tộc. Chính vì thế mà trong những ngày Tết khi đón tiếp khách đặc biệt là khác quốc té, phụ nữ Việt lại tự hào chọn cho mình bộ áo dài đẹp nhất để mặc. Trong các cuộc thi hoa hậu Việt Nam hay hoa hậu thế giới người Việt, khán giả đều có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của người phụ nữ khi mặc trên mình bộ áo dài truyền thống. Nhiều trường trung học phổ thông ở miền Nam còn quy định học sinh nữ phải mặc áo dài trắng đến trường, áo dài vì thế trở thành trang phục học đường hết sức hồn nhiên, trong sáng.

Cùng với chiếc nón lá, áo đã trở thành một biểu tượng tôn vinh vẻ đẹp Việt. Nó cũng đi vào thơ ca, nhạc họa như một đề tài khơi gợi cảm xúc cho các nghệ sĩ. Trải qua từng thời kì, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quà trình lịch sử Việt Nam, tà áo dài Việt Nam luôn tồn tại theo dòng thời gian, vẫn mãi sẽ là tâm hồn Việt, văn hóa Việt, là tinh thần Việt và là trang phục truyền thống mang đậm tính lịch sử lâu đời của nước Việt ngàn năm văn hiến.

Áo dài là nét đẹp là biểu tượng của nước Việt Nam, chúng ta hãy giữ gìn để áo dài mãi là trang phục truyền thống của mỗi người Việt Nam, khi nhắc đến tà áo dài chúng ta nghĩ ngay đến nền văn hóa đậm đà bản sức dân tộc, chúng ta hãy phát huy để bản sắc ấy ngày càng tươi đẹp hơn.



 

12 tháng 6 2017

a, Khí đốt: xăng, dầu hỏa, (khí) ga,ma dút, củi, than

b, Nghệ thuật: hội họa, âm nhạc, văn học, điêu khắc

c, Ẩm thực: canh, nem, rau, xào, thịt luộc, tôm rang, cá rán

d, Nhìn: liếc, ngắm, nhòm, ngó

e, Đánh nhau: đấm, đá, thụi, bịch, tát

12 tháng 8 2019

Đáp án

Những từ ngữ không thuộc phạm vi nghĩa của mỗi nhóm từ ngữ đã cho:

a. quả đất.

b. cá cược.

c. xe gạch.

5 tháng 7 2021

Đây là trường từ vựng nha em:

a, Nhiên liệu

b, Nghệ thuật

d, Quan sát

e, Tấn công?

5 tháng 7 2021

oke ko câu C

1 các từ có nghĩa rộng là :chất đốt: xăng, dầu hỏa, (khí. ga, ma dút, củi, thann 

2 Từ có nghĩa rộng là nghệ thuật  hội họa, âm nhạc, văn học, điêu khắc

4 Từ có nghĩa rộng là nhìn liếc, ngắm, nhòm, ngó

5Từ có nghĩa rộng là dánh đấm, đá, thụi, tát, bịch.

Trong tác phẩm Thu Điếu ( Mùa thu câu cá ) của tác giả Nguyễn Khuyến, em rất ấn tượng với hai câu thơ " Tựa gối, buông cần lâu chẳng được, / Cá đâu đớp động dưới chân bèo. ". Hai câu kết gợi mở về tâm trạng và hình ảnh của tác giả trước khung cảnh thiên nhiên. Hình ảnh " Tựa gối, buông cần " cho thấy một tư thế ngồi câu bình dị, nhàn nhã nhưng cũng đầy trầm tư của tác giả....
Đọc tiếp

Trong tác phẩm Thu Điếu ( Mùa thu câu cá ) của tác giả Nguyễn Khuyến, em rất ấn tượng với hai câu thơ " Tựa gối, buông cần lâu chẳng được, / Cá đâu đớp động dưới chân bèo. ". Hai câu kết gợi mở về tâm trạng và hình ảnh của tác giả trước khung cảnh thiên nhiên. Hình ảnh " Tựa gối, buông cần " cho thấy một tư thế ngồi câu bình dị, nhàn nhã nhưng cũng đầy trầm tư của tác giả. Trạng thái " lâu chẳng được " cho thấy sự chờ đợi, không phải chỉ là chờ đợi cá cắn câu mà còn là chờ đợi cơ hội , chờ đợi sự thay đổi của thời cuộc. Những âm thanh tiếng " Cá đâu đớp động " là một âm thanh duy nhất phá vỡ sự tĩnh lặng tuyệt đối của khung cảnh. Âm thanh nhỏ bé này lại càng làm nổi bật sự tĩnh mịch của trạng thái trầm tư của con người. Tuy nhiên, tác giả lại có một tâm trạng buồn bã, trầm tư của tác giả trước thời thế thay đổi của đất nước. Cuối cùng, ta có thể thấy Nguyễn Khuyến là một người yêu thiên nhiên, đất nước sâu sắc, cùng với nỗi lo lắng cho cảnh ngộ đất nước ngay cả khi cáo quan về ở ẩn.


0
Trong bài thơ ''Thu điếu''của Nguyễn Khuyến, hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất là: “Tựa gối ôm cần lâu chẳng được, Cá đâu đớp động dưới chân bèo.” Qua hai câu thơ này, ta thấy hiện lên hình ảnh một ông câu ung dung, nhàn tản, ngồi lặng lẽ giữa không gian thu tĩnh lặng. Tư thế “tựa gối ôm cần” gợi dáng vẻ thư thái, thảnh thơi của nhà thơ khi hòa mình với thiên nhiên. Sự...
Đọc tiếp


Trong bài thơ ''Thu điếu''của Nguyễn Khuyến, hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất là:


“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”


Qua hai câu thơ này, ta thấy hiện lên hình ảnh một ông câu ung dung, nhàn tản, ngồi lặng lẽ giữa không gian thu tĩnh lặng. Tư thế “tựa gối ôm cần” gợi dáng vẻ thư thái, thảnh thơi của nhà thơ khi hòa mình với thiên nhiên. Sự tĩnh lặng ấy bỗng bị phá vỡ bởi tiếng cá “đớp động dưới chân bèo”, tạo nên một điểm nhấn sinh động, làm cho bức tranh thu thêm phần chân thực. Qua đó, ta cảm nhận được tâm hồn thi nhân gắn bó, giao hòa sâu sắc với cảnh vật quê hương. Hai câu thơ không chỉ vẽ nên khung cảnh mùa thu đặc trưng của làng quê Bắc Bộ mà còn thể hiện thú vui tao nhã, thanh cao của Nguyễn Khuyến. Đọc lên, em thấy lòng mình cũng lắng lại, nhẹ nhàng và bình yên của quê hương Việt Nam cũng toát lên được vẻ u hoài trầm tư suy nghĩ của tác giả .


0
Trong bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, hai câu thơ đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc là“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo” Hình ảnh “tựa gối ôm cần” gợi ra dáng vẻ ung dung, thảnh thơi của nhà thơ bên cạnh hồ thu tĩnh lặng. Đó không chỉ là cảnh câu cá bình dị mà còn là sự gửi gắm tâm hồn của một người nghệ sĩ sống hòa hợp...
Đọc tiếp

Trong bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, hai câu thơ đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc là

“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

Hình ảnh “tựa gối ôm cần” gợi ra dáng vẻ ung dung, thảnh thơi của nhà thơ bên cạnh hồ thu tĩnh lặng. Đó không chỉ là cảnh câu cá bình dị mà còn là sự gửi gắm tâm hồn của một người nghệ sĩ sống hòa hợp với thiên nhiên. Câu thơ thứ hai với âm thanh “cá đâu đớp động” khẽ làm xao động mặt nước vốn tĩnh lặng, tạo điểm nhấn độc đáo cho bức tranh thu. Tiếng cá đớp mồi rất nhỏ nhưng trở thành một chi tiết gợi cảm, khiến không gian thu càng thêm tĩnh mịch. Qua đó, ta cảm nhận được sự tinh tế trong cảm nhận của Nguyễn Khuyến trước cảnh vật quê hương. Đồng thời, dáng vẻ thong dong ấy cũng gợi lên tâm trạng ẩn chứa nỗi buồn, sự uẩn khúc của một nhà nho trước thời thế. Hai câu thơ vừa vẽ nên cảnh thu thanh bình vừa bộc lộ tâm hồn trong sáng, chan chứa tình yêu quê hương của tác giả.

1
30 tháng 9 2025

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,


Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.”


Nguyễn Khuyến đã chọn những chi tiết rất tiêu biểu cho mùa thu xứ Bắc (ao thu, gió thu, trời thu). Ao thu là thứ ao rất riêng chỉ mùa thu mới xuất hiện. Nguyễn Khuyến đã ghi nhận được hai đặc trưng của ao thu là lạnh lẽo và trong veo – ao lạnh nước yên, trong đến tận đáy. Ao là nét thường gặp trong thơ Nguyễn Khuyến, nói đến ao là gợi đến một cái gì rất gần gũi, thân quen, tâm hồn Nguyễn Khuyến là thế: thân mật, bình dị, chân thành với hồn quê. Trời thu trong xanh cũng là hình quen thuộc trong thơ Nguyễn Khuyến. Bầu trời thu xanh ngắt xưa nay vẫn là biểu tượng đẹp của mùa thu. Những án mây không trôi nổi bay khắp bầu trời mà lơ lửng. Xanh ngắt trong thơ Nguyễn Khuyến là xanh trong, tinh khiết đến tuyệt đối, không hề pha lẫn, không hề gợn tạp. Đường nét chuyển động nhẹ nhàng, mảnh mai, tinh tế: hơi gợn tí, khẽ đưa vèo, mây lơ lửng, đường bao thanh mảnh của rặng trúc, đường gợn của lượn sóng ao thu. Cảnh vật toát lên sự hài hòa, xứng hợp: Ao nhỏ – thuyền bé; gió nhẹ – sóng gợn; trời xanh – nước trong; khách vắng teo – chủ thể trầm ngâm tĩnh lặng.