K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

8 tháng 5 2020

Sau bao nhiêu năm bôn ba tìm đường cứu nước, chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Là một nhân vật lịch sử lỗi lạc của dân tộc, là nhà thơ, nhà danh nhân văn hóa. Cuộc đời thơ ca của Bác luôn song hành với cuộc đời chính trị. Trong những năm gian khổ ở cuộc kháng chiến trống Pháp, làm việc trong hoàn cảnh hết sức thiếu thốn, ở hang Pác Pó, bàn làm việc chông chênh bên suối Lê – Nin. Bác đã viết những bài thơ ngấm vào máu thịt của người dân Việt Nam. Bài thơ tức cảnh Pác Pó đã diễn tả được phong thái ung dung ,tinh thần lạc quan yêu đời, “thú lâm tuyền” khoáng đạt, tươi sáng của Bác.

Bài thơ đã đồng hành cùng thời gian, vượt qua hành trình hơn 70 mùa xuân. Giờ đây bài thơ như một chứng tích lịch sử của cách mạng Việt Nam. Qua đó, còn cho chúng ta thấy phong thái ung dung tự tại, tinh thần lạc quan cách mạng của người chiến sỹ cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh về những năm tháng hoạt động bí mật, đầy gian khổ vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong cuộc sống đầy gian khổ ấy, tinh thần là một thứ vô cùng quan trọng. Thú lâm tuyền là  cách chơi vui thú,tao nhã của Bác trong rừng xanh núi đỏ,lâm tuyền là rừng núi và khe suối nước chảy ,thú vui của Bác là yêu thiên nhiên ,yêu rừng Pắc Bó,cỏ cây hoa lá chim muông và cả cái tiếng nước róc rách dứoi khe cũng nên thơ hữu tình trong thơ tức cảnh của Người .

“ Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng”

Ngay ở những câu thơ đầu Bác đã mở ra trước mắt người đọc một nếp sống sinh hoạt rất đều đặn, nhịp nhàng nhưng một đặc điểm là tất cả đều gắn liền với thiên nhiên. Chúng ta đã thấy được một bức tranh thiên nhiên sinh động . cuộc sống thường ngày của Bác ở nơi núi rừng thiếu thốn trăm bề , Bác chỉ ăn những thứ sẵn có của núi rừng :cháo bẹ , rau măng .Dù khó khăn là vậy nhưng Bác vẫn luôn hài long , chấp nhận,sẵn sàng vượt lên khó khăn trắc trở. Khó khăn gian khổ tới đâu cũng không bao giờ có thể làm nhụt đi tinh thần ý trí của Bác cũng như của cả dân tộc ta.

“ Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
​Cuộc đời cánh mạng thật là sang”

Nhưng vần thơ mộc mạc, nhẹ nhàng ấy, luôn nằm trong những vần thơ của Bác. Bác cho chúng ta thấy vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng. Bên bờ suối Lê- nin nước chảy róc rách, cạnh đó là chiếc bàn đá và quyển sách, hình ảnh Bác Hồ hiện lên như một yếu tố quan trọng đưa bức tranh thiên nhiên tươi đẹp ấy từ tĩnh sang động. “Thú lâm tuyền” của Bác được thể hiện rõ nhất ở câu này.Dù hoàn cảnh ở thực tại có khó khăn trắc trở nhưng dường như không thể cản được việc lớn của Bác ,từ đó ta càng thấy rõ hơn tinh thần lạc quan, phong thái ung dung, tình yêu thiên nhiên luôn tiềm tàng trong con người của Bác . câu thơ cuối như một lời tự nhận xét của Bác về cuộc đời cách mạng của mình. Câu thơ gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ. Làm cách mạng có gian truân, khổ cực nhưng đối với Bác nó lại thật là sang. Sang của Bác ở đây không nói về vật chất chỗ ăn chỗ ở, làm việc mà cái Bác muốn nói đến là sang về mặt tinh thần. Được hoạt động cách mạng để cứu nước là niềm vui lớn với Bác, niềm vui không thể mua được. Những tinh thần ấy có được, là nhờ lòng yêu nước thương dân nồng nàn của Bác, mong mỏi cuộc sống yên bình, ấm no hạnh phúc cho con dân cả nước.

Bài thơ với cách viết hóm hỉnh, nghệ thuật đối từ bài thơ Tức cảnh Pác Pó đã cho chúng ta thấy được thú lâm tuyền của Bác thật khoáng đạt, đó là tinh thần lạc quan, tình yêu nước sâu nặng và sự căm thù giặc, tất cả đều chứa đựng trong người Bác. Bác vĩ đại, về tất cả mọi mặt.
p.s: Mình đi tham khảo thôi... thấy bài này hay... mong giúp được bạn.

Cảm ơn bạn nhiều

Sau bao nhiêu năm bôn ba tìm đường cứu nước, chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Là một nhân vật lịch sử lỗi lạc của dân tộc, là nhà thơ, nhà danh nhân văn hóa. Cuộc đời thơ ca của Bác luôn song hành với cuộc đời chính trị. Trong những năm gian khổ ở cuộc kháng chiến trống Pháp, làm việc trong hoàn cảnh hết sức thiếu thốn, ở hang Pác Pó, bàn làm việc chông chênh bên suối Lê – Nin. Bác đã viết những bài thơ ngấm vào máu thịt của người dân Việt Nam. Bài thơ tức cảnh Pác Pó đã diễn tả được phong thái ung dung ,tinh thần lạc quan yêu đời, “thú lâm tuyền” khoáng đạt, tươi sáng của Bác.

Bài thơ đã đồng hành cùng thời gian, vượt qua hành trình hơn 70 mùa xuân. Giờ đây bài thơ như một chứng tích lịch sử của cách mạng Việt Nam. Qua đó, còn cho chúng ta thấy phong thái ung dung tự tại, tinh thần lạc quan cách mạng của người chiến sỹ cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh về những năm tháng hoạt động bí mật, đầy gian khổ vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong cuộc sống đầy gian khổ ấy, tinh thần là một thứ vô cùng quan trọng. Thú lâm tuyền là  cách chơi vui thú,tao nhã của Bác trong rừng xanh núi đỏ,lâm tuyền là rừng núi và khe suối nước chảy, thú vui của Bác là yêu thiên nhiên ,yêu rừng Pắc Bó,cỏ cây hoa lá chim muông và cả cái tiếng nước róc rách dứoi khe cũng nên thơ hữu tình trong thơ tức cảnh của Người .

“ Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng”

Ngay ở những câu thơ đầu Bác đã mở ra trước mắt người đọc một nếp sống sinh hoạt rất đều đặn, nhịp nhàng nhưng một đặc điểm là tất cả đều gắn liền với thiên nhiên. Chúng ta đã thấy được một bức tranh thiên nhiên sinh động . cuộc sống thường ngày của Bác ở nơi núi rừng thiếu thốn trăm bề , Bác chỉ ăn những thứ sẵn có của núi rừng :cháo bẹ , rau măng .Dù khó khăn là vậy nhưng Bác vẫn luôn hài long , chấp nhận,sẵn sàng vượt lên khó khăn trắc trở. Khó khăn gian khổ tới đâu cũng không bao giờ có thể làm nhụt đi tinh thần ý trí của Bác cũng như của cả dân tộc ta.

“ Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

​Cuộc đời cánh mạng thật là sang”

Nhưng vần thơ mộc mạc, nhẹ nhàng ấy, luôn nằm trong những vần thơ của Bác. Bác cho chúng ta thấy vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng. Bên bờ suối Lê- nin nước chảy róc rách, cạnh đó là chiếc bàn đá và quyển sách, hình ảnh Bác Hồ hiện lên như một yếu tố quan trọng đưa bức tranh thiên nhiên tươi đẹp ấy từ tĩnh sang động. “Thú lâm tuyền” của Bác được thể hiện rõ nhất ở câu này.Dù hoàn cảnh ở thực tại có khó khăn trắc trở nhưng dường như không thể cản được việc lớn của Bác ,từ đó ta càng thấy rõ hơn tinh thần lạc quan, phong thái ung dung, tình yêu thiên nhiên luôn tiềm tàng trong con người của Bác . câu thơ cuối như một lời tự nhận xét của Bác về cuộc đời cách mạng của mình. Câu thơ gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ. Làm cách mạng có gian truân, khổ cực nhưng đối với Bác nó lại thật là sang. Sang của Bác ở đây không nói về vật chất chỗ ăn chỗ ở, làm việc mà cái Bác muốn nói đến là sang về mặt tinh thần. Được hoạt động cách mạng để cứu nước là niềm vui lớn với Bác, niềm vui không thể mua được. Những tinh thần ấy có được, là nhờ lòng yêu nước thương dân nồng nàn của Bác, mong mỏi cuộc sống yên bình, ấm no hạnh phúc cho con dân cả nước.

Bài thơ với cách viết hóm hỉnh, nghệ thuật đối từ bài thơ Tức cảnh Pác Pó đã cho chúng ta thấy được thú lâm tuyền của Bác thật khoáng đạt, đó là tinh thần lạc quan, tình yêu nước sâu nặng và sự căm thù giặc, tất cả đều chứa đựng trong người Bác. Bác vĩ đại, về tất cả mọi mặt.

8 tháng 5 2020

"ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt,
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ.
Bác về im lặng con chim hót,
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ".

Nhà thơ Tố Hữu đã vẽ một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp chào đón bác Hồ trở về tổ quốc lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam sau 30 năm bôn ba nơi hải ngoại để tìm đường cứu nước. Khi dặt chân đến mảnh đất thân yêu của tổ quốc ở biên giới việt - trung tại cao bằng, bác cầm một nắm đất lên hôn. Và hang Pắc Bó thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng vô cùng vui mừng như hoa mơ khoe sắc, như bờ lau nhảy múa khi được bác chọn làm nơi ở trong thời gian đầu. Những chuỗi ngày ở nơi đây, Bác sáng tác nhiều thơ, trong đó có bài tức cảnh Pắc Bó viết theo thể tứ tuyệt, vừa cô đọng vừa đặc sắc:

"sáng ra bờ suối tối vào hang,
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẩn sàng.
Bàn đá chông chênh, dịch sử đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang".

Trong quyển sách từ Pắc Bó đến tân trào và trong từ nhân dân mà ra, nhà xuất bản quân đội nhân dân, 1964, đại tướng Võ Nguyên Giáp có viết: "Nơi ở đầu tiền của bác Hồ tại Pắc Bó tuy ẩm lạnh nhưng vẫn là nơi ở tốt nhất. Địa điểm thứ hai là một hốc núi nhỏ ở rất cao và rất sâu trong rừng, bên ngoài chỉ lấp ít cành lau. Nhưng khi trời mưa to rắn rết chui cả vào chỗ nằm. Có buổi sáng, Bác thức dậy thấy một con rắn rất lớn nằm khoanh tròn ngay cạnh người (...). Sức khỏe của Bác có phần giảm sút, Bác sốt rét luôn. Thuốc men gần như không có gì ngoài ít lá rừng lấy về sắc uống theo cách chữa bệnh của đồng bào địa phương. Thức ăn cũng rất thiếu (...). Có thời gian, cơ quan chuyển vào vùng núi đá trên khu đồng bào Mán Trắng, gạo củng không có, Bác cũng như các anh khác phải ăn toàn cháo bẹ hàng tháng ròng. Ở bất cứ hoàn cảnh sinh hoạt nào, tôi cũng thấy Bác thích nghi một cách rất tự nhiên. Chẳng, hiểu bác được rèn luyện từ bao giờ, như thế nào, mà mọi biến cố đều không mảy may lay chuyển được".

Những lời kể trên đây của đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giúp chúng ta hiểu thêm về Pắc Bó, về bác Hồ. Hoàn cảnh sống và làm việc của người là thế nhưng cả bài thơ tức cảnh Pắc Bó không có câu thơ nào nói đến sự gian khổ, thiếu thốn.

Câu khai, bác viết:

"sáng ra bờ suối, tối vào hang".

Lời thơ rất sảng khoái, nhẹ nhang, thanh thoát. Phép đối ngữ tương phản: sáng / tối, ra / vào, bờ suối / hang đã làm bật lên thú lâm tuyền thơ mộng. Cách ngắt nhịp 4/3, cùng với ý thơ thể hiện nếp sống lành mạnh, điều độ của người chiến sĩ cách mạng. Ở câu thừa, bác dí dỏm:

"Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng".

Câu thơ này có hai cách hiểu: ở đây cháo bẹ, rau măng bao giờ cũng có sẵn hoặc tuy sống kham khổ nhưng tinh thần lúc nào cũng sẵn sàng. Một số nhà nghiên cứu Văn học cho rằng, hiểu theo cách thứ nhất thích hợp hơn. Bởi lẽ, cả bài thơ, giọng điệu của bác rất vui tươi, giản dị. Phong cách này thường gặp trong thơ Bác, đặc biệt là những bài thơ viết ở chiến khu việt bắc. Bài cảnh rừng Việt Bắc là một điển hình về giọng điệu phóng túng "tha hồ dạo", "mặc sức say":

"Cảnh rừng việt bắc thật là hay

Vượn hót chim kêu suốt cả ngày

Khách đến thì mời ngô nếp nướng

Săn về thường chén thịt rừng quay

Non xanh nước biếc tha hồ dạo

Rượu ngọt chè tươi mặc sức say

Kháng chiến thành công ta trở lại

Trăng xưa hạc củ với xuân này".

Còn nếu chúng ta hiểu câu thừa theo cách thứ hai sẽ làm giảm đi sự thoải mái của bài thơ nhiều lắm và câu thơ trở nên kiểu cách, gò bó hơn, "không tương xứng với tầm cỡ tư tưởng của bác Hồ vĩ đại". Tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào, câu thừa vẫn toát lên tinh thần lạc quan, ung dung, vượt khó một cách nhẹ nhàng của bác.

Nhưng cơ sở nào cho chúng ta biết bác Hồ rất say sưa thú lâm tuyền? Chính chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với các nhà báo vào tháng 1 - 1946 sở thích cao quý này: "cả đời tôi chỉ có một ham muốn, ham muôn tột bậc là làm sao cho đất nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu đến vòng danh lợi".

Chính vì "nâng niu tất cả chỉ quên mình" nên bác chưa kịp thực hiện "riêng phần tôi" cho bản thân bác.

Có thể khẳng định rằng, bác Hồ có cùng ý thích với các đại thi hào đời đường, đời tông, các bậc hiền triết thời xưa, không màng chức trọng quyền cao như: âu dương tu (1007 - 1072), tô thức (1037 - 1101), lục du (1125 - 1210), tân khí tật (1140 - 1207). Chính vì còn "nợ nước", không được như các bậc hiền triết thời xưa nên lúc nào bác cũng không quên công cuộc cách mạng:

"Bàn đá chông chênh, dịch sử đảng".

Để hiểu câu chuyện này cũng như cả bài thơ, nhà thơ Chế Lan Viên đã đi thực tế ở Pắc Bó và kể lại:

"Tôi đã về Pắc Bó, không có tấm đá nào như bàn cả. Chỉ có tấm lòng vững như thạch của người cách mạng đã nhìn đá ra bàn".

Như vậy thì đã rõ, cái "chông chênh" ở đây chính là hoàn cảnh lịch sử trong nước và thế giới khá "chông chênh". Ngày 1 - 9 - 1939, đức tấn công Ba Lan, chính phủ Anh, Pháp buộc phải tuyên chiến với đức vì Ba Lan là nước đồng minh. Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ba Lan rơi vào tay Đức. Tháng 4 - 1940, Đức tiến đánh Đan Mạch, Na Uy, sau đó tràn vào Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-bua và Pháp. Pháp kí với đức hiệp ước đầu hàng nhục nhã: Pháp bị tước vũ khí, hơn ba phần tư lãnh thổ pháp bị đức chiếm đóng và pháp phải nuôi toàn bộ quân đội Đức chiếm đóng. Cuối năm 1940, Đức chiếm lĩnh toàn bộ vùng Đông và Nam Âu. Rạng sáng 22 - 6 - 1941, phát xít Đức bất ngờ tấn công Liên Xô. Ở mặt trận Châu Á Thái Bình Dương, rạng sáng ngày 7 - 12 - 1941, Nhật Bản bất thình lình tấn công hạm đội Mĩ ở cảng Trân Châu (quần đảo Ha-Oai). Mĩ chính thức nhảy vào vòng chiến. Trong vòng nửa năm, vùng Đông Nam Á rơi vào tay Nhật. Còn ở nước ta, nhân dân Việt Nam nằm dưới hai tầng áp bức Nhật - Pháp. Nạn đói bắt đầu hoành hành dữ dội. Chính vì vậy, bác Hồ nhanh chóng "dịch sử Đảng" để tuyên truyền, vận động cách mạng. Nhìn chung, câu chuyện lời lẽ giản dị nhưng ý tứ rất sâu xa, phải vận dụng kiến thức sử học chúng ta mới có thể hiểu được. Câu hợp làm toát lên tinh thần của cả bài thơ:

"cuộc đời cách mạng thật là sang".

Cuộc đời cách mạng có ai "dấn thân" vào mà vui sướng? Nhà thơ Tố Hữu đi làm cách mạng từ lúc mới 19 tuổi đã tâm sự:

"Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu dấn thân vô là phải chịu tù đày là gươm kề tận cổ, súng kề tai là thân sống chỉ coi còn một nửa".

Ấy vậy mà, bác tự hào là "sang". Ấy vậy mà Bác không kêu than một lời nào. Chữ "sang" là con mắt của bài thơ, là sự kết tinh nghệ thuật tuyệt vời của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Cái "sang" của người

Cách mạng đang và thực sự làm chủ, cái "sang" của một niềm tin mãnh liệt ở tương lại thật đáng trân trọng.

Tóm lại, tức cảnh Pắc Bó là bài thơ ngắn nhưng hàm súc, có sự kết hợp hài hoà giữa chất cổ điển và hiện đại. Bài thơ như một bản nhạc trữ tình da diết được bác hoà âm, phối khí bằng những nhạc cụ cổ điển. Còn lời ca bác viết bằng loại ngôn ngữ dân tộc vừa trong sáng, vừa mới mẻ. Dù con người nghệ sĩ tài hoa ấy đã kết thúc bổn phận nhưng những âm điệu du dương của nó vẫn còn ngân nga mãi với thời gian.

Cảm ơn mọi người nhiều lắm

22 tháng 5 2020

Trong suốt những năm học, em đã được học rất nhiều bài thơ do Bác Hồ sáng tác. Nhưng trong số đó em thích nhất là bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” của Nguyễn Ái Quốc. Bài thơ đã nói lên những khó khăn của Bác Hồ khi Bác sống và làm việc ở Pác Bó. Dù có khó khăn gian khổ nhưng Bác Hồ vẩn vượt qua được chính điều đó đã làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều về bài thơ này.

“Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thiệt là sang”

Ngay từ tiêu đề của bài thơ đã thấy một cái gì đó như bột phát lam nhà thơ phải sáng tác bài này. “Tức cảnh” có lẽ là nơi hang cùng, rừng rận, tức cảnh vật nơi đây nhà thơ đã bột phát ra ý thơ và sáng tác ra bài thơ này. Mờ đầu bài thơ Bác Hồ đã cho ta thấy những khó khăn gian nan của Bác Hồ khi sống ở Pác Bó:

“Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”

Khi ở Pác Bó chỉ có một mình Bác nên Bác rất lá cô đơn nên Bác chỉ còn biết “sáng ra suối” để làm những việc gì đó còn vào buổi tối Bác chỉ còn biết la “tối vào hang”. Khi ban ngày Bác đã ra suối thì ban đêm Bác chỉ còn biết trở về lại hang của mình để nghĩ ngơi sau một ngày ra suối. cảnh sinh hoạt hằng ngày của Bác ở Pác Bó chỉ đơn giản như vậy thui. Chỉ những điều đó cũng chứng tỏ Bác là một người đơn giản không thích sự cầu kì trong cuộc sống. Ở đây thức ăn của Bác cũng rất là đơn giản. Hằng ngày, thức ăn của Bác chỉ có “cháo bẹ rau măng” rất là đơn giản. Vì nơi rừng sâu nên thức ăn của Bác cũng không được sang trọng lắm. Bác đã tận dụng những gì có được ở Pác Bó chế biến thành thức ăn của mình. “Cháo bẹ rau măng” là những gì có trong thiên nhiên nhất là ở rừng. Chỉ hai câu thơ đầu Bác Hồ đã nêu lên những khó khăn của mình khi ở Pác Bó. Nhưng có khó khăn đấn mấy thì Bác Hồ vẫn trải qua và có một cuộc sống rất là đơn giản ở Pác Bó

Đến hai câu thơ tiếp theo Bác Hồ đã cho chúng ta thấy dù ở Pác Bó điều kiện làm việc không được thuận tiện cho lắm nhưng Bác vẫn làm việc được và cho đó là một cái sang của mình

“Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thiệt là sang”

Đến hai câu thơ tiếp theo Bác Hồ cho ta thấy công việc cách mạng của Bác Hồ khi ở Pác Bó. Dù ở Pác Bó bàn làm việc của bác chỉ là một cục đá bằng phẳng để Bác có thể làm việc. Mặc dù ở Pác Bó thiếu thốn về điều kiện làm việc nhu thế nhưng Bác vẫn làm tốt công tác cách mạng của mình. Dù có khó khăn Bác vẫn cho công việc cách mạng của mình thiệt là sang. Điều đó chứng tỏ Bác vẫn lạc quan trong công việc dù có khó khăn đến mấy. Sự khó khăn gian khổ thiếu thốn về vật chất không làm nao núng tinh thần người chiến sĩ cách mạng trái lại Bác còn cảm thấy thế là đủ, là sang.

Qua bài thơ em thấy Bác Hồ là một người có cuộc sống giản dị và lạc quan trong cuộc sống. Chính sự gian khổ ấy đã tôi luyện cho Bác một tinh thần thép và luôn lạc quan tinh tưởng vào tiền đồ của nước nhà. Chúng ta phải biết học hỏi tính cách sống giản dị của Bác Hồ để hoàn thiện bản thân mình hơn.

Cảm nhận về bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh - Bài tham khảo 4

"ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt,
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ.
Bác về im lặng con chim hót,
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ".

Nhà thơ Tố Hữu đã vẽ một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp chào đón bác Hồ trở về tổ quốc lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam sau 30 năm bôn ba nơi hải ngoại để tìm đường cứu nước. Khi dặt chân đến mảnh đất thân yêu của tổ quốc ở biên giới việt - trung tại cao bằng, bác cầm một nắm đất lên hôn. Và hang Pắc Bó thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng vô cùng vui mừng như hoa mơ khoe sắc, như bờ lau nhảy múa khi được bác chọn làm nơi ở trong thời gian đầu. Những chuỗi ngày ở nơi đây, Bác sáng tác nhiều thơ, trong đó có bài tức cảnh Pắc Bó viết theo thể tứ tuyệt, vừa cô đọng vừa đặc sắc:

"sáng ra bờ suối tối vào hang,
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẩn sàng.
Bàn đá chông chênh, dịch sử đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang".

Trong quyển sách từ Pắc Bó đến tân trào và trong từ nhân dân mà ra, nhà xuất bản quân đội nhân dân, 1964, đại tướng Võ Nguyên Giáp có viết: "Nơi ở đầu tiền của bác Hồ tại Pắc Bó tuy ẩm lạnh nhưng vẫn là nơi ở tốt nhất. Địa điểm thứ hai là một hốc núi nhỏ ở rất cao và rất sâu trong rừng, bên ngoài chỉ lấp ít cành lau. Nhưng khi trời mưa to rắn rết chui cả vào chỗ nằm. Có buổi sáng, Bác thức dậy thấy một con rắn rất lớn nằm khoanh tròn ngay cạnh người (...). Sức khỏe của Bác có phần giảm sút, Bác sốt rét luôn. Thuốc men gần như không có gì ngoài ít lá rừng lấy về sắc uống theo cách chữa bệnh của đồng bào địa phương. Thức ăn cũng rất thiếu (...). Có thời gian, cơ quan chuyển vào vùng núi đá trên khu đồng bào Mán Trắng, gạo củng không có, Bác cũng như các anh khác phải ăn toàn cháo bẹ hàng tháng ròng. Ở bất cứ hoàn cảnh sinh hoạt nào, tôi cũng thấy Bác thích nghi một cách rất tự nhiên. Chẳng, hiểu bác được rèn luyện từ bao giờ, như thế nào, mà mọi biến cố đều không mảy may lay chuyển được".

Những lời kể trên đây của đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giúp chúng ta hiểu thêm về Pắc Bó, về bác Hồ. Hoàn cảnh sống và làm việc của người là thế nhưng cả bài thơ tức cảnh Pắc Bó không có câu thơ nào nói đến sự gian khổ, thiếu thốn.

Câu khai, bác viết:

"sáng ra bờ suối, tối vào hang".

Lời thơ rất sảng khoái, nhẹ nhang, thanh thoát. Phép đối ngữ tương phản: sáng / tối, ra / vào, bờ suối / hang đã làm bật lên thú lâm tuyền thơ mộng. Cách ngắt nhịp 4/3, cùng với ý thơ thể hiện nếp sống lành mạnh, điều độ của người chiến sĩ cách mạng. Ở câu thừa, bác dí dỏm:

"Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng".

Câu thơ này có hai cách hiểu: ở đây cháo bẹ, rau măng bao giờ cũng có sẵn hoặc tuy sống kham khổ nhưng tinh thần lúc nào cũng sẵn sàng. Một số nhà nghiên cứu Văn học cho rằng, hiểu theo cách thứ nhất thích hợp hơn. Bởi lẽ, cả bài thơ, giọng điệu của bác rất vui tươi, giản dị. Phong cách này thường gặp trong thơ Bác, đặc biệt là những bài thơ viết ở chiến khu việt bắc. Bài cảnh rừng Việt Bắc là một điển hình về giọng điệu phóng túng "tha hồ dạo", "mặc sức say":

"Cảnh rừng việt bắc thật là hay

Vượn hót chim kêu suốt cả ngày

Khách đến thì mời ngô nếp nướng

Săn về thường chén thịt rừng quay

Non xanh nước biếc tha hồ dạo

Rượu ngọt chè tươi mặc sức say

Kháng chiến thành công ta trở lại

Trăng xưa hạc củ với xuân này".

Còn nếu chúng ta hiểu câu thừa theo cách thứ hai sẽ làm giảm đi sự thoải mái của bài thơ nhiều lắm và câu thơ trở nên kiểu cách, gò bó hơn, "không tương xứng với tầm cỡ tư tưởng của bác Hồ vĩ đại". Tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào, câu thừa vẫn toát lên tinh thần lạc quan, ung dung, vượt khó một cách nhẹ nhàng của bác.

Nhưng cơ sở nào cho chúng ta biết bác Hồ rất say sưa thú lâm tuyền? Chính chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với các nhà báo vào tháng 1 - 1946 sở thích cao quý này: "cả đời tôi chỉ có một ham muốn, ham muôn tột bậc là làm sao cho đất nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu đến vòng danh lợi".

Chính vì "nâng niu tất cả chỉ quên mình" nên bác chưa kịp thực hiện "riêng phần tôi" cho bản thân bác.

Có thể khẳng định rằng, bác Hồ có cùng ý thích với các đại thi hào đời đường, đời tông, các bậc hiền triết thời xưa, không màng chức trọng quyền cao như: âu dương tu (1007 - 1072), tô thức (1037 - 1101), lục du (1125 - 1210), tân khí tật (1140 - 1207). Chính vì còn "nợ nước", không được như các bậc hiền triết thời xưa nên lúc nào bác cũng không quên công cuộc cách mạng:

"Bàn đá chông chênh, dịch sử đảng".

Để hiểu câu chuyện này cũng như cả bài thơ, nhà thơ Chế Lan Viên đã đi thực tế ở Pắc Bó và kể lại:

"Tôi đã về Pắc Bó, không có tấm đá nào như bàn cả. Chỉ có tấm lòng vững như thạch của người cách mạng đã nhìn đá ra bàn".

Như vậy thì đã rõ, cái "chông chênh" ở đây chính là hoàn cảnh lịch sử trong nước và thế giới khá "chông chênh". Ngày 1 - 9 - 1939, đức tấn công Ba Lan, chính phủ Anh, Pháp buộc phải tuyên chiến với đức vì Ba Lan là nước đồng minh. Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ba Lan rơi vào tay Đức. Tháng 4 - 1940, Đức tiến đánh Đan Mạch, Na Uy, sau đó tràn vào Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-bua và Pháp. Pháp kí với đức hiệp ước đầu hàng nhục nhã: Pháp bị tước vũ khí, hơn ba phần tư lãnh thổ pháp bị đức chiếm đóng và pháp phải nuôi toàn bộ quân đội Đức chiếm đóng. Cuối năm 1940, Đức chiếm lĩnh toàn bộ vùng Đông và Nam Âu. Rạng sáng 22 - 6 - 1941, phát xít Đức bất ngờ tấn công Liên Xô. Ở mặt trận Châu Á Thái Bình Dương, rạng sáng ngày 7 - 12 - 1941, Nhật Bản bất thình lình tấn công hạm đội Mĩ ở cảng Trân Châu (quần đảo Ha-Oai). Mĩ chính thức nhảy vào vòng chiến. Trong vòng nửa năm, vùng Đông Nam Á rơi vào tay Nhật. Còn ở nước ta, nhân dân Việt Nam nằm dưới hai tầng áp bức Nhật - Pháp. Nạn đói bắt đầu hoành hành dữ dội. Chính vì vậy, bác Hồ nhanh chóng "dịch sử Đảng" để tuyên truyền, vận động cách mạng. Nhìn chung, câu chuyện lời lẽ g...

1 tháng 1 2020

Tôi thấy người ta có bảo rằng:
Bảo rằng thằng Cuội ở cung trăng!
Đêm ngày ngồi gốc cây đa đó
Xóm cũ ruộng xưa có nhớ chăng?

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:(…) Con gặp trong lời mẹ hátCánh cò trắng, dải đồng xanhCon yêu màu vàng hoa mướp“ Con gà cục tác lá chanh”.(…) Thời gian chạy qua tóc mẹMột màu trắng đến nôn naoLưng mẹ cứ còng dần xuốngCho con ngày một thêm cao.Mẹ ơi trong lời mẹ hát Có cả cuộc đời hiện raLời ru chắp con đôi cánh Lớn rồi con sẽ bay xa.( Trích “ Trong...
Đọc tiếp

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:

(…) Con gặp trong lời mẹ hát

Cánh cò trắng, dải đồng xanh

Con yêu màu vàng hoa mướp

“ Con gà cục tác lá chanh”.

(…) Thời gian chạy qua tóc mẹ

Một màu trắng đến nôn nao

Lưng mẹ cứ còng dần xuống

Cho con ngày một thêm cao.

Mẹ ơi trong lời mẹ hát Có cả cuộc đời hiện ra

Lời ru chắp con đôi cánh Lớn rồi con sẽ bay xa.

( Trích “ Trong lời mẹ hát”- Trương Nam Hương)

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ trên là gì? 

A. Tự sự                      B. Miêu tả

C. Biểu cảm                 D. Thuyết minh.

Câu 2. Nêu nội dung của đoạn thơ. 

Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ trong khổ thơ: 

Thời gian chạy qua tóc mẹ Một màu trắng đến nôn nao Lưng mẹ cứ còng dần xuống Cho con ngày một thêm cao.

Câu 4. Câu thơ/ khổ thơ nào gợi cho anh/chị ấn tượng sâu sắc nhất? (trình bày trong đoạn văn ngắn từ 5 - 7 dòng) 

II . TLV

Câu 1 

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về tình mẫu tử.

Câu 2: Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

(Trích Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)

 

1

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ trên là gì? 

A. Tự sự                      B. Miêu tả

C. Biểu cảm                 D. Thuyết minh.

Câu 2. Nêu nội dung của đoạn thơ. :

Nỗi nhung nhớ , yêu thương thầm lặng của người con đối với người mẹ . Cùng với cảm xúc , sự biết ơn giữa con cái với người mẹ , người sinh ra , nuôi nấng và chăm sóc mình .

Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ trong khổ thơ...: Nhân hoá : Thời gian chạy qua tóc mẹ, tương phản : 

Lưng mẹ cứ còng dần xuống ,Cho con ngày một thêm cao.

- Hiệu quả : Dùng các biện pháp tu từ nhằm nói lên những sự vất vả , mệt nhọc , sự hy sinh lớn lao của người mẹ rành cho đứa con và qua đó cũng nhấn mạnh sự biết ơn , yêu thương của đứa con dành cho người mẹ thương yêu

Câu 4. Câu thơ/ khổ thơ nào gợi cho anh/chị ấn tượng sâu sắc nhất? (trình bày trong đoạn văn ngắn từ 5 - 7 dòng) 

Cái này thì bạn tự viết . Gợi ý , có thể bạn sẽ có ấn tượng về : lòng biết ơn của đứa con hoặc lời ru của ng mẹ ,....

*Mình chỉ có thể giúp bạn phần I thôi , phần II là TLV bạn phải tự viết theo cảm nhận , lời văn của mình ! 

16 tháng 11 2018

phoi lak gì vậy bn

hỏi tào lao qua di az

chuc bn hc tôt nha

ok, love >_<L<

22 tháng 11 2018

công nghệ á, hì

Đọc truyện "Lão Hạc", ta bắt gặp bao con người, bao số phận, bao mảnh đời đáng thương, bao tấm lòng đáng trọng: Lão Hạc và cậu con trai "phẫn chí" đi phu đồn điền cao su, ông giáo và người vợ, Binh Tư và thằng Mục, thằng Xiên,... Giữa bóng tối cuộc đời cùng quẫn sau xóm làng quê bùn đọng, ta vẫn tìm thấy ít nhiều ánh sáng tâm hồn nhân hậu, chứa chan tình thương yêu. Bên cạnh nhân vật lão Hạc là ông giáo, một nhân vật để lại bao ấn tượng đối với mỗi chúng ta vẻ người trí thức nghèo trong xã hội cũ.

Không rõ họ tên là gì. Hai tiếng "ỏng giáo" đã khẳng định vị thế của một con người giữa làng quê trước năm 1945 "nhiều,chữ nghĩa, nhiều lí luận, người ta kiêng nể". Hai tiếng "ông giáo" từ miệng lão Hạc nói ra, lúc nào cũng đượm vẻ thân tình, cung kính, trọng vọng: "Cậu Vàng đi đời rồi ông giáo ạ",..."Vâng, ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng"..., "Tôi cắn rơm, cắn có tôi lạy ông giáo !".

Hãy đi ngược thời gian, tìm về thời trai trẻ của ông giáo. Là một con người chăm chỉ, ham mê, sống vì một lí tưởng đẹp với bao mộng tưởng. Ông đã từng lăn lộn vào tận Sài Gòn, “hòn ngọc Viễn Đông" thời ấy, để làm ăn, để học tập, để gây dựng sự nghiệp. Cái va-li "đựng toàn những sách" được người thanh niên ấy rất "nâng niu"; cái kỉ niệm "đầy những say mê đẹp và cao vọng" ấy, hơn sáu chục năm sau còn làm cho ta xúc động và quý trọng một nhân cách đẹp.

Con người "nhiều chữ nghĩa'' ấy lại nghèo. Sau một trận ốm nặng ở Sài Gòn, quần áo bán gần hết, về quê chỉ có một va-li sách. Nếu lão Hạc quý cậu Vàng bao nhiêu thì ông giáo lại quý những quyển sách của mình bấy nhiêu. Bởi lẽ những quyển sách ấy đã làm bừng lên trong lòng ông "như một rạng đông" thời trai trẻ, làm cho cuộc đời thêm sắc màu ý vị, sống say mê, "trong trẻo, biết yêu và biết ghét".

Cái nghèo vẫn đeo đẳng ổng giáo mãi, "ông giáo khổ trường tư". Vận hạn xảy ra luôn luôn như ông nghĩ: "Đời người ta không chỉ khổ một lần. Sách cứ bán dần đi. Chỉ còn giữ lại 5 quyển sách với lời nguyền: "... dù có phải chết cũng không bán". Như một kẻ cùng đường phải bán máu. Đứa con thơ bị chứng kiết lị gần kiệt sức, ông giáo đã phải bán nốt đi 5 cuốn sách cuối cùng, cái gia tài quý giá nhất của người trí thức nghèo. "Lão Hạc ơi! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu?", lời than ấy cất lên nghe thật não nuột, đã thể hiện một nhân cách đẹp trước sự khốn cùng: biết sống và dám hi sinh vì cuộc sống!

Ông giáo là một trí thức có trái tim nhân hậu rất đáng quý. Ông là chỗ dựa tinh thần, là niềm an ủi, tin cậy của lão Hạc. Ông giáo là nơi để lão Hạc san sẻ bao nỗi đau, nỗi buồn. Nhờ đọc hộ một lá thư, nhờ viết hộ một lá thư cho đứa con trai đi phu đồn điền. Tâm sự về mảnh vườn và chuyện đứa con trai "phần chí" không lấy được vợ. San sẻ về nỗi đau buồn sau khi bán cậu Vàng cho thằng Mục, thằng Xiên,... Có lúc là một điếu thuốc lào, một bát nước chè xanh, một củ khoai lang... "Lúc tắt lửa tối đèn có nhau". Ông giáo đã đồng cảm, đã thương xót, đã san sẻ với lão Hạc với tất cả tình người. Ai đã từng là độc giả của Nam Cao, chắc sẽ không bao giờ quên mẩu đối thoại này:

... Tôi bùi ngùi nhìn lão, bảo:

-   Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tỏi sung sướng hơn chăng?

-   Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng?

Lão cười và ho sòng sọc. Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão,ôn tồn bảo:

-   Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm chờ tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào... Thế là sướng.

-  Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng"...

Ông giáo đã thương lão Hạc "như thể thương thân”. Không chỉ an ủi, động viên, mà ông còn tìm mọi cách để "ngấm ngầm giúp" khi biết lão Hạc đã nhiều ngày ăn rau, ăn khoai, ăn củ ráy... Trong lúc đàn con của ông giáo cũng đang đói; cái nghĩa cử "Lá lành đùm lá rách" ấy mới cao đẹp biết bao!

Ông giáo nghèo mà đức độ lắm. Trước khi ăn bả chó, lão Hạc đã gửi ông giáo 30 đồng để phòng khi chết "gọi là của lão có tí chút...", gửi lại ông giáo ba sào vườn cho đứa con trai... Tình tiết ấy cho thấy lão Hạc rất tin ông giáo. Ông giáo là người để lão Hạc "chọn mặt gửi vàng. Giữa cái xã hội đen bạc thời ấy, một bà cô dành cho đứa cháu nội bát nước cháo đã vữa ra như một sự bố thí (Những ngày thơ ấu), vợ tên địa chủ bắt bí, bóp nặn người đàn bà khốn cùng để mua rẻ đứa con gái lên bảy tuổi và ổ chó (Tắt đèn), một tên phụ mẫu ăn bẩn đồng hào của chị nhà quê (Đồng hào có ma)..., ta mới thấy niềm tin, sự kính trọng của kẻ khốn cùng đối với ông giáo thật là thánh thiện.

Trước cái chết "dữ dội" của lão Hạc, cái chết "đau đớn và bất thình lình", chỉ có ông giáo và Binh Tư hiểu... Ông giáo khẽ cất lời than trước vong linh người láng giềng hiền lành tội nghiệp. Trong giọt lệ là những lời hứa của một nhân cách cao đẹp, đáng trọng: "Lão Hạc ơi! Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt ! Lão đừng lo gì cho cái vườn của lão. Tỏi sẽ cố giữ gìn cho lão. Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn: Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn; cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào...”.

Cùng với ông giáo Thứ trong "Sống mòn", Điển trong "Trăng sáng", nhân vật "tôi" trong "Mua nhà", hình ảnh ông giáo trong truyện "Lão Hạc" đã kết tinh cái tâm và cái tài của Nam Cao trong nghệ thuật xây dựng nhân vật - nhà văn nghèo, ông giáo khổ trường tư - trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Đó là những con người nghèo mà trong sạch, hăm hở và nhiệt tâm từng ôm ấp bao mộng đẹp, sống nhân hậu, vị tha. Có người đã cho rằng, ông giáo là một nhân vật tự truyện, mang dáng dấp hình bóng Nam Cao. Ý kiến ấy rất lí thú.

Trong truyện "Lão Hạc", ông giáo vừa là nhân vật, vừa là người dẫn chuyện. Không phải là nhân vật trung tâm, nhưng sự hiện diện của ông giáo đã làm cho "Bức tranh quê' ngày xa xưa ấy thêm sáng tỏ. Nhân vật ông giáo là chiếc gương soi sáng cuộc đời và tâm hồn lão Hạc, đã góp phần tô đậm giá trị nhân đạo của truyện ngắn đặc sắc này.



 

5 tháng 12 2018

Truyện ngắn “lão Hạc” là một trong những thành công của Nam Cao trong việc xây dựng những hình tượng người nông dân Việt Nam sống dưới ách thống trị nặng nề trong xã hội thực dân nửa phong kiến, những con người phải sống trong cuộc đời đầy đau khổ nhưng vẫn mang một vẻ đẹp tâm hồn cao quý. Nếu là lão Hạc thì hình tượng nhân vật gây xúc động bởi tình phụ tử thiêng liêng và nhân cách cao thượng thì ông giáo cũng là điểm sang về tình thương người, về cách nhìn đầy cảm thông trân trọng đối với người nông dân nghèo đói đương thời.

Trước hết ta thấy nhân vật “tôi” trong tác phẩm chính là một người tri thức nghèo. Nghề giáo trong xã hội ấy thường bị thất nghiệp. mọi ước mơ, lí tưởng, nhiệt tình sôi nổi của tuổi trẻ đành bỏ dở và phai nhạt dần. Kể cả những cuốn sách quý giá ông giáo cũng đành bán đi để chữa bệnh cho con. Ông giáo, do đó, rất cảm thông với nỗi đau xót của lão Hạc. Ông tâm sự như muốn nói với người bạn đồng cảnh ngộ: “lão Hạc ơi Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu? Lão quý con chó Vàng cảu lão đã thấm vào đâu với tôi quý năm quyển sách của tôi!”

Từ kinh nghiệm, từ nỗi đau của bản thân ông giáo dễ dàng thông cảm với lão Hạc. ông thấy được phẩm chất cao quý của lão Hạc và rất trân tọng lão Hạc. Ông đã nhận xét nếu không hiểu sau tâm hồn phẩm chất của họ, ta chỉ thấy họ ngu dốt, gàn dở, xấu xa! Ngược lại đã hiểu và yêu quý lão ông giáo ngầm giúp đỡ lão đến nỗi vợ của ông còn phàn nàn trách cứ. đó là thời buổi cái khổ và chết choc đang rình rập bất cứ ai! Hiểu nhau ở tinh thần thể hiện bằng hành động giúp đỡ cụ thể điều đó rõ là tình cảm sâu xa, nhân hậu.

Tuy nhiên, cả một xã hội đang bị cảnh chết đói đe dạo, có người còn giữ được đạo đức nhân cách có người phải trộm cắp để mà sống. Vì vậy, thấy lão hạc xin bả chó Binh Tư, ông giáo lầm tưởng lão Hạc cũng từ bỏ nhân cách, đói nghèo đến liều lĩnh rồi. Dù vậy ông giáo cũng suy nghĩ rất nhân hậu: lão Hạc lại nối gót Binh Tư làm nghề trộm chó để sống, lẽ nào một con người hiền lành chất phác ấy mà lại có hành động xấu xa đến thế? Vừa kính nể về nhân cách, vừa thương bì hoàn cảnh túng cùng, ông giáo cảm thấy buồn trước sự suy thoái đạo đức. đến lúc nghe về cái chết bi thảm của lão Hạc ông mới chợt nhận ra: Không! Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo nghĩa khác”. Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn vì lão Hạc vẫn là cong người đạo đức, có nhân cách cao quý, lão vẫn xứng đáng với niềm tin cậy cảu ông, chưa mất đi nhân phẩm. ông giáo buồn vì con người mà ông đang yêu thương, quý trọng lại nghèo đến nỗi không có cái ăn để tồn tại trên cõi đời này. Cuộc đời con người lương thiện lạn bi thảm đến thế? Vậy chân lí “hiền lành” liệu còn tồn tại ?
Đối với lão Hạc còn gì quý hơn lời hứa thực hiện điều ông trăn trối: Lão Hạc ơi! Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lồng mà nhắm mắt! lão đừng lo gì cho cái vườn của lão…..cái vườn mà lão nhất định không chịu bán đi một sào”. Ta như nghe ông giáo đang thề nguyện trước vong linh người đã khuất, ta tin rằng ông sẽ làm tròn trách nhiệm lời hứa của lão Hạc.

Truyện ngắn “lão Hạc” đã cho ta thấy xã hội đương thơi có nhiều cảnh bi thương, dồn con người lương thiện vào đường cùng không giúp được, không cưu mang nổi nhau để cuối cùng phải tự kết liễu đời mình một cách thảm thương. Ý nghĩa tố cáo của truyện thật sâu sắc!

Tóm lại ông giáo là người tri thức, không may mắn trong xã hội đương thơi nhưng vẫn có tấm lòng nhân hậu cao quý, có cái nhìn sâu sắc để cảm thông chia sẻ và quý trọng một người chất phác thật thà như lão Hạc. Biết bao người có tấm lòng nhân hậu mà không giúp nhau vượt qua bi kịch của cuộc sống! Qua ông giáo ta hiểu cái nhìn cảm thông tin tưởng của Nam Cao đối với nhân cách đáng quý: dù có là tri thức hay nông dân họ vẫn là tri kỉ, họ có thể kí thác những điều hệ trọng, thiêng liêng nhất đời mình.

Hok tốt

14 tháng 6 2018

sao không có ai giải giúp mình vậy

15 tháng 6 2018

sống phải bt mik là mik , đừng bao giờ xem thấp bản thân , là chính mik

neessu mình sai thì sai cũng ko đc lặp lại ,phải bt sửa , sai một lần mik rút kinh nghiệm lần đó '

HAI ÂU CUỐI KO ĐÚG

 HOK TỐT

23 tháng 6 2018

Hãy tha thứ cho anh em yêu nhé
Ta chẳng còn sang sẽ những buồn vui
Anh không thể bên em nở nụ cười
Hay vươn vai mỗi lần em khóc tựa
Hãy tha thứ cho anh thêm lần nữa
Dẫu mai này sẽ mãi mãi cách xa
Khi nỗi nhớ đôi tim đã nhạt nhòa
Và kỉ niệm làm hồn ta héo úa

Hãy tha thứ bởi anh luôn gìn giữ
Ánh mắt buồn những khao khát tim em
Cả nụ cười với dáng đứng nghiêng nghiêng
Anh không thể lãng quên vào quá khứ

Lần cuối cùng anh xin em tha thứ
Đặt dấu chân lên một đoạn đường đời
Khiến những lúc em cảm thấy chơi vơi
Vì anh đã rẽ sang bên lối khác

Anh hi vọng anh là người đi lạc
Để em tìm được hạnh phúc bao la
Rồi mai này năm tháng có trôi qua
Anh vẫn nhớ em người anh yêu thương nhất.

23 tháng 6 2018

Hạnh phúc vốn ở ngay trước mắt…

Nhưng người ta tự đặt nó ra xa.

Hạnh phúc vốn dĩ chẳng xa hoa…

Nhưng người ta tự biến nhó thành xa xỉ.

Hạnh phúc đơn giản khi ta nghĩ…

Chỉ cần yêu và kiên nhẫn đợi chờ..!

~hok tốt~

25 tháng 9 2019

I. MỞ BÀI

- Có thể  dẫn dắt bằng một đôi câu thơ hay bài hát "Ngày đầu tiên đi học, mẹ dắt

tay đến trường,... "

-  Ngày đầu tiên đi học luôn là ngày để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng chúng ta.

II.THÂN BÀI

Cảm xúc, tâm trạng cúa tôi trong đêm trước khi ngày mai đi học

-     Chộn rộn, háo hức đến lạ.

-     Chuẩn bị đầy đủ quần áo, cặp sách,... sần sàng cho ngày mai đi học.

-     Lo lắng, trằn trọc, khó ngủ.

-     Đã đi ngủ sớm nhưng vẫn không chợp mắt được vì mải lo nghĩ đến ngày mai sẽ ra sao?

2. Ngày dầu tiên đen trường.

  1. Trên đường đến trường

-     Sau khi mặc đồng phục, cả nhà chụp một tấm hình làm ki niệm “Ngày đầu tiên tôi đi học”.

-     Mẹ dắt tay tôi đi học với tất cả sự háo hức. tràn đầy niềm vui.

-    Con đường quen thuộc sao mà hôm nay bỗng nhiên thấy cái gì cũng lạ lẫm.Con đường, hàng cây, tiếng chim hót, đường phố xe cộ đông đúc qua lại,.. tất cả đều lạ lẫm

-     Nhìn xung quanh, tôi nhận thấy cùng cỏ nhiều bạn giống mình, cũng lần đầu tiên đến trường với biết bao điều thú vị.

2.Khi tới trường

Đứng trước cổng trường: cổng trường to lớn, hàng cây thật đẹp, bảng tên trường rất to và nghe sao thật hay... tôi như bị choáng ngợp.

Mẹ dắt tôi vào trường, còn tôi trong lòng xiết bao hồi hộp, lo lắng.

-     Bước vào sân trường: sàn trường thật rộng lớn, từng dãy phòng họ khang

trang, đẹp đẽ khiển tôi thật thích thú.

-     Xếp hàng: mẹ buông tay tỏi và bao tôi vào xếp hàng với các bạn theo sự

điều động của nhà trường.

-     Cảm xúc cùa tôi lúc này mắt rơm rớm nước mắt vì lo sự mẹ sẽ bỏ mình, bấu

víu lấy áo mẹ không rời,...

-     Mẹ tôi dịu dàng khuyên tôi phải mạnh dạn hơn.

3. Trong giờ học

-    Cô chủ nhiệm dắt cả lớp lên phòng học.Tôi vần cố ngoái nhìn xem mẹ có còn đứng trong sân trường không ? Tôi không thấy, lòng lại càng hồi hộp hơn nhưng tự nhủ sẽ mạnh mẽ hơn.

-     Bước lên phòng học, tôi và các bạn rất ngạc nhiên vì phòng học quá đẹp.

-    Phòng học đẹp là vì:sơn  phết màu sắc rất đẹp đẽ, từng cái bàn cái ghế được xếp gọn gàng, ngàn nắp. Trên các bức  tường  được trang trí hình ảnh dễ thương bắt mắt.

-     Chúng tôi bước vào bài học đầu tiên trong cuộc đời mình.

-     Cô giảng bài thật hay. Lời giảng du dương, trong treo, ngọt ngào đưa chúng tôi đến với sự thú vị của từng bài học.

-     Sau tiết học, tôi cảm thấy thật thích thú và hạnh phúc khi được đi học. Được cô giáo yêu thương, được làm quen bạn bè mới. Ôi thích thú làm sao!

d.Giờ ra về

-     Vừa bước chân xuống cầu thang, tôi đã nhìn thấy mẹ mình.

-     Tôi vui mừng chạy đến, hôn lên má mẹ.

-     Mẹ hỏi tôi nhiều điều về lớp học, về cô giáo, về bài học ngày hôm nay. Tôi kể

 mẹ nghe mọi việc.

-     Thấy tôi vui khi đi học về, mẹ cũng thấy hạnh phúc.

III. KẾT BÀI

-     Kỉ niệm ngày đầu tiên đi học của tôi là thế đó.

-     Biết bao cảm xúc xen lẫn vào nhau khiến tôi nhớ mãi.