">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

26 tháng 12 2017

I. Huy Cận tên khai sinh là Cù Huy Cận, sinh năm 1919, quê ở Ân Phú, huyện Vụ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với tập thơ Lửa thiêng ( 1940 ). 

- Ông tham gia cách mạng từ trước năm 1945. Sau cách mạng tháng Tám, ông giữ nhiều trọng trách trong chính quyền cách mạng, đồng thời là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam từ sau năm 1945. Ông được trao tặng giải thưởng Hồ chí Minh về văn học nghệ thuật ( 1996 ). Ông mất năm 2006, tại Hà Nội

Tác phẩm chính: Lửa thiêng ( 1940 ); Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958 ); Đất nở hoa ( 1960 ); Những năm sáu mươi ( 1968 ); Chiến trường gần đến chiến trường xa ( 1973 ); Nước thủy triều Đông (1994 )…


- Đoàn thuyền đánh cá là một bài thơ hay của Huy Cận. Bài thơ được viết vào giữa năm 1958, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và đi vào xây dựng cuộc sống mới. Niềm vui dạt dào tin yêu vào cuộc sống mới bao trùm cả đời sống xã hội và trở thành niềm cảm hứng của thơ ca. Nhiều nhà thơ đi đến các vùng đất xa xôi, nơi đang dấy lên phong trào sản xuất xây dựng đất nước. Giữa năm 1958 huy Cận có chuyến đi thực tế tại dài ngày về vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi ấy, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới.
 - Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được ra đời vào thời gian này và in trong tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng 

 - Bài thơ được bố cục theo hành trình một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá. Hai khổ đầu là cảnh lên đường và tâm trạng náo nức của con người, bốn khổ tiếp theo là cảnh hoạt động của đoàn thuyền đánh cá giữa khung cảnh biển trời ban đêm, khổ cuối là cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh.
- Với bố cục bài thơ như trên, bài thơ Đoàn thuyền đánh cá đã tạo một khung cảnh không gian và thời gian và thời gian rất đáng chú ý: không gian rộng lớn bao la với mặt trời, biển, mây, gió, trăng, sao; thời gian là nhịp tuần hoàn của thiên nhiên vũ trụ từ lúc hoàng hôn đến bình minh, cũng là thời gian của một chuyến ra biển rồi trở về của đoàn thuyền đánh cá: mặt trời xuống biển, cả đất trời vào đêm, trăng lên cao, đêm thở, sao lùa…rồi sao mờ, mặt trời đội biển nhô lên trong một ngày mới. Điểm nhịp cho công việc của đoàn thuyền đánh cá là nhịp tuần hoàn của thiên nhiên vũ trụ.

 - Bài thơ là sự kết hợp hai nguồn cảm hứng: về lao động và về thiên nhiên vũ trụ. Khác với thơ Huy Cận trước Cách mạng, ở đây thiên nhiên vũ trụ không đối lập với con người, không làm cho con người trở lên nhỏ bé cô đơn, mà càng nâng cao, làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người trong sự hài hòa với khung cảnh thiên nhiên.
+ Hình ảnh con người lao động và công việc của họ, ở đây là đoàn thuyền đánh cá, được đặt vào không gian rộng lớn của biển trời, trăng sao, để làm tăng thêm kích thước, tầm vóc và vị thế của con người. Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp phóng đại cùng với những liên tưởng mạnh bạo, bất ngờ để sáng tạo hình ảnh về người lao động
-Câu hát căng buồm cùng gió khơi
-Thuyền ta lái gió với buồn trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng 
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời[/

+ Sự hài hòa giữa con người lao động và thiên nhiên, vũ trụ còn thể hiện ở sự nhịp nhàng giữa điệu vận hành của thiên nhiên, vũ trụ và trình tự của công việc lao động của đoàn thuyền đánh cá. Khi mặt trời xuống biển, vũ trụ vào đêm cũng là lúc khởi đầu một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, và đây là công việc diễn ra thường xuyên, đều đặn như một nhịp sống đã quen thuộc: “ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi”. 

Con thuyền ra khơi có gió làm lái, trăng làm buồm, gõ thuyền đuổi cá vào lưới cũng theo nhịp trăng, sao. Đến lúc sao mờ, tức là đêm sắp tàn thì cũng là lúc kéo lưới kịp trời sáng. Bình minh lên, mặt trời đội biển, cũng là lúc đoàn thuyền trở về, tuy nặng khoang cá đầy mà vẫn lướt đi phơi phới chạy đua cùng mặt trời[/

- Hình ảnh người lao động trong bài thơ được sáng tạo với cảm hứng lãng mạn, thể hiện niềm tin, niềm vui trước cuộc sống mới. Cảm hứng lãng mạn ấy cũng thấm đẫm trong những hình ảnh về thiên nhiên vũ trụ, tạo nên vẻ đẹp tráng lệ, phóng khoáng mà vẫn gần gũi với con người.

]Mặt trời xuống biển như hòn lửa[
Sóng đã cài then đêm sập cửa[/
 Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà lớn, với màn đêm buông xuống là cánh tấm cửa khổng lồ với những lượn sóng là then cửa. Chi tiết mặt trời xuống biển có thể gây thắc mắc với người đọc, vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà bờ biển nước ta, trừ vùng biển Tây Nam thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển. Thực ra, hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây, qua một khoảng biển vẫn có thể thấy như mặt trời xuống biển.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
]Câu hát căng buồm cùng gió khơi[
tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật sự gắn kết ba sự vật và hiện tượng: cánh buồm, gió khơi và câu hát của người đánh cá. Câu hát là niềm vui, sự phấn chấn của người lao động như đã có một sức mạnh vật chất để cùng với ngọn gió làm căng buồm cho con thuyền lướt nhanh ra khơi ( câu thơ này đã được lặp lại ở khổ cuối bài thơ, chỉ đổi chữ cùng thành với )
Tác giả đã phát hiện vẻ đẹp của cảnh đánh cá giữa biển đêm, trong niềm vui phơi phới khỏe khoắn của người lao động làm chủ công việc của mình. Con thuyền vốn nhỏ bé trước biển cả bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ khổnglồ, hòa nhập với kích thước rộng lớn của thiên nhiên vũ trụ: lái gió, buồm trăng, mây cao, biển bằng, dò bụng biển, dàn đan thế trận…
]Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa bò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

 Công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá đã thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên:
ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

 Đây là những bức tranh sơn mài lung linh huyền ảo, được sáng tạo bằng liên tưởng, tưởng tượng bay bổng từ sự quan sát hiện thực.
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi[

Tóm lại: Qua những bức tranh về thiên nhiên và con người lao động trong bài thơ cho ta thấy cái nhìn và cảm xúc của tác giả trước thiên nhiên, đất nước và con người lao động, làm giàu thêm cách nhìn cuộc sống, biểu hiện niềm say sưa, hào hứng và những ước mơ bay bổng của con người muốn hòa hợp với thiên nhiên và chinh phục thiên nhiên bằng công việc lao động của mình

26 tháng 12 2017

thuyết minh về bài thơ chứ không có về tác giả 

26 tháng 12 2017

I.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
1.Tác giả
- Huy Cận tên khai sinh là Cù Huy Cận, sinh năm 1919, quê ở Ân Phú, huyện Vụ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với tập thơ Lửa thiêng ( 1940 ).

- Ông tham gia cách mạng từ trước năm 1945. Sau cách mạng tháng Tám, ông giữ nhiều trọng trách trong chính quyền cách mạng, đồng thời là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam từ sau năm 1945. Ông được trao tặng giải thưởng Hồ chí Minh về văn học nghệ thuật ( 1996 ). Ông mất năm 2006, tại Hà Nội

- Tác phẩm chính: Lửa thiêng ( 1940 ); Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958 ); Đất nở hoa ( 1960 ); Những năm sáu mươi ( 1968 ); Chiến trường gần đến chiến trường xa ( 1973 ); Nước thủy triều Đông (1994 )…

2.Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.

- Đoàn thuyền đánh cá là một bài thơ hay của Huy Cận. Bài thơ được viết vào giữa năm 1958, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và đi vào xây dựng cuộc sống mới. Niềm vui dạt dào tin yêu vào cuộc sống mới bao trùm cả đời sống xã hội và trở thành niềm cảm hứng của thơ ca. Nhiều nhà thơ đi đến các vùng đất xa xôi, nơi đang dấy lên phong trào sản xuất xây dựng đất nước. Giữa năm 1958 huy Cận có chuyến đi thực tế tại dài ngày về vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi ấy, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới.

- Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được ra đời vào thời gian này và in trong tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958 )

II.Phân tích bài thơ
1.Bố cục bài thơ

- Bài thơ được bố cục theo hành trình một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá. Hai khổ đầu là cảnh lên đường và tâm trạng náo nức của con người, bốn khổ tiếp theo là cảnh hoạt động của đoàn thuyền đánh cá giữa khung cảnh biển trời ban đêm, khổ cuối là cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh.

- Với bố cục bài thơ như trên, bài thơ Đoàn thuyền đánh cá đã tạo một khung cảnh không gian và thời gian và thời gian rất đáng chú ý: không gian rộng lớn bao la với mặt trời, biển, mây, gió, trăng, sao; thời gian là nhịp tuần hoàn của thiên nhiên vũ trụ từ lúc hoàng hôn đến bình minh, cũng là thời gian của một chuyến ra biển rồi trở về của đoàn thuyền đánh cá: mặt trời xuống biển, cả đất trời vào đêm, trăng lên cao, đêm thở, sao lùa…rồi sao mờ, mặt trời đội biển nhô lên trong một ngày mới. Điểm nhịp cho công việc của đoàn thuyềnđánh cá là nhịp tuần hoàn của thiên nhiên vũ trụ.

2.Hình ảnh con người lao động trong sự hài hòa với thiên nhiên vũ trụ

- Bài thơ là sự kết hợp hai nguồn cảm hứng: về lao động và về thiên nhiên vũ trụ. Khác với thơ Huy Cận trước Cách mạng, ở đây thiên nhiên vũ trụ không đối lập với con người, không làm cho con người trở lên nhỏ bé cô đơn, mà càng nâng cao, làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người trong sự hài hòa với khung cảnh thiên nhiên.
+ Hình ảnh con người lao động và công việc của họ, ở đây là đoàn thuyền đánh cá, được đặt vào không gian rộng lớn của biển trời, trăng sao, để làm tăng thêm kích thước, tầm vóc và vị thế của con người. Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp phóng đại cùng với những liên tưởng mạnh bạo, bất ngờ để sáng tạo hình ảnh về người lao động

Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Thuyền ta lái gió với buồn trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

+ Sự hài hòa giữa con người lao động và thiên nhiên, vũ trụ còn thể hiện ở sự nhịp nhàng giữa điệu vận hành của thiên nhiên, vũ trụ và trình tự của công việc lao động của đoàn thuyền đánh cá. Khi mặt trời xuống biển, vũ trụ vào đêm cũng là lúc khởi đầu một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, và đây là công việc diễn ra thường xuyên, đều đặn như một nhịp sống đã quen thuộc: “ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi”. 

Con thuyền ra khơi có gió làm lái, trăng làm buồm, gõ thuyền đuổi cá vào lưới cũng theo nhịp trăng, sao. Đến lúc sao mờ, tức là đêm sắp tàn thì cũng là lúc kéo lưới kịp trời sáng. Bình minh lên, mặt trời đội biển, cũng là lúc đoàn thuyền trở về, tuy nặng khoang cá đầy mà vẫn lướt đi phơi phới chạy đua cùng mặt trời

 - Hình ảnh người lao động trong bài thơ được sáng tạo với cảm hứng lãng mạn, thể hiện niềm tin, niềm vui trước cuộc sống mới. Cảm hứng lãng mạn ấy cũng thấm đẫm trong những hình ảnh về thiên nhiên vũ trụ, tạo nên vẻ đẹp tráng lệ, phóng khoáng mà vẫn gần gũi với con người.

3.Vẻ đẹp của những hình ảnh thơ về thiên nhiên và lao động

Cảnh biển vào đêm vừa rộng lớn lại vừa gần gũi với con người bằng một liên tưởng so sánh thú vị của nhà thơ:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
 Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà lớn, với màn đêm buông xuống là cánh tấm cửa khổng lồ với những lượn sóng là then cửa. Chi tiết mặt trời xuống biển có thể gây thắc mắc với người đọc, vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà bờ biển nước ta, trừ vùng biển Tây Nam thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển. Thực ra, hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây, qua một khoảng biển vẫn có thể thấy như mặt trời xuống biển.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
 Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật sự gắn kết ba sự vật và hiện tượng: cánh buồm, gió khơi và câu hát của người đánh cá. Câu hát là niềm vui, sự phấn chấn của người lao động như đã có một sức mạnh vật chất để cùng với ngọn gió làm căng buồm cho con thuyền lướt nhanh ra khơi ( câu thơ này đã được lặp lại ở khổ cuối bài thơ, chỉ đổi chữ cùng thành với )
Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển
Tác giả đã phát hiện vẻ đẹp của cảnh đánh cá giữa biển đêm, trong niềm vui phơi phới khỏe khoắn của người lao động làm chủ công việc của mình. Con thuyền vốn nhỏ bé trước biển cả bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ khổnglồ, hòa nhập với kích thước rộng lớn của thiên nhiên vũ trụ: lái gió, buồm trăng, mây cao, biển bằng, dò bụng biển, dàn đan thế trận…
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa bò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

 Công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá đã thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên:
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

 Đẹp lộng lẫy và rực rỡ đến huyền ảo là hình ảnh của những loài cá trên biển, giữa ánh trăng, sao và ánh nắng lúc rạng đông. Đây là những bức tranh sơn mài lung linh huyền ảo, được sáng tạo bằng liên tưởng, tưởng tượng bay bổng từ sự quan sát hiện thực.
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

 Tóm lại: Qua những bức tranh về thiên nhiên và con người lao động trong bài thơ cho ta thấy cái nhìn và cảm xúc của tác giả trước thiên nhiên, đất nước và con người lao động, làm giàu thêm cách nhìn cuộc sống, biểu hiện niềm say sưa, hào hứng và những ước mơ bay bổng của con người muốn hòa hợp với thiên nhiên và chinh phục thiên nhiên bằng công việc lao động của mình

26 tháng 12 2017

thuyết minh chứ đâu phải cảm nhận mà bn,phải có cả tác giả nữa bn ạk:))

26 tháng 12 2017

 Bài thơ'Đoàn thuyền đánh cá'thực sự là một bài ca ca ngợi cuộc sống cử những con người lao động mới làm chủ thiên nhiên.

 Đoàn thuyền đánh cá là bài thơ đc Huy Cận sáng tsc năm 1958 khi đất nc kết thúc thắng lợi hai cuộc khánh chiến chống Pháp và miền Bắc xây dựng xã hộ chủ nghĩa nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh nên Huy Cận đã viết bài thơ này.Bài thoư là bức tranh thiên nhiên tuyệt vời thiên nhiên và thí thế lao động của nhân dân trên biển cá trong cuộc sống mới.

 Hai khổ thơ đầu là bức trabh biển đêm.................VIẾT RA PHẢI DÀI TẬN 3-4 TRNG ĐÓ BAO GIỜ BẠN CẦN 

26 tháng 12 2017

Bài làm

Huy Cận là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới mới hai giai đoạn sáng tác gắn liền với hai phong cách. Trước cách mạng tháng Tám, thơ ông mang nỗi buồn sầu mênh mang nhưng sau cách mạng thơ ông trở nên sôi nổi, vui tươi và tràn đầy tin yêu. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” sáng tác trong một chuyến đi thực tế khiến người đọc hứng thú và ấn tượng. Huy Cận dường như đã thổi hồn vào bài thơ khung cảnh đánh cá tươi đẹp nhất.

Với sự cảm nhận tinh tế, quan sát tỉ mỉ, Huy Cận đã vẽ lại bức tranh hoàng hồn tuyệt đẹp trước khi đoàn thuyền đánh cá ra khơi:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then, đêm sập cửa

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi.

Với biện pháp so sánh đắc điệu, tác giả đã làm cho câu thơ bỗng nhiên sáng bừng lên, hoàn toàn đối lập với cảnh màn đêm đang dần buông xuống. Cảnh hoàng hôn nơi biển cả thật tuyệt đẹp, cảnh mặt trời lặn mà tác giả cứ ngỡ đang “xuống biển”, sáng rực như “hòn lửa”. Màn đêm buông xuống qua cái nhìn của Huy Cận thật tinh tế và khéo léo. Từng đợt sóng đan cài vào nhau như chiếc cài ở then cửa nhà, màn đêm bao trùm như một chiếc cửa khổng lồ ôm choàng lấy biển.

Đây cũng chính là thời điểm dể đoàn thuyền đánh cá bắt đầu hoạt động. Sau khung cảnh thiên nhiên hoàng hôn kỳ vĩ, tuyệt đẹp là bức tranh lao động hăng say của người dân lao động qua tiếng hát “căng buồm”. Dường như tiếng hát của người dân chài hòa vào tiếng gió ngoài biển khơi bất tận:

Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như đoàn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

Đến dệt lưới ta đàn cá ơi!

Lời hát của ngư dân làng chài ca ngợi sự giàu có của biển cá với đa dạng các loài cá khác nhau. Đây chính là niềm vui tươi, phấn chấn để có một chuyến đi đánh cá bội thu nhất. Tiếng hát ấy như gọi cá đến cho đầy ắp khoang thuyền. Tinh thần vui tươi, phấn khởi trong lao động ấy đã tạo nên sự hăng say và tin tưởng hơn. Tác giả đã tái hiện lại cảnh đánh cá tuyệt đẹp:

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng

Ra đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

Có cảm giác như chính tác giả đang hòa thân vào thiên nhiên, vào đoàn thuyền, tham gia trực tiếp vào công cuộc đánh cá vất vả nhưng nhiều niềm vui. Hình ảnh “lái gió”, “buồm trăng”, ‘mây cao” phảng phất hương vị cổ điển của thơ xưa nhưng lại mang hơi thở gần gũi với cuộc sống hằng ngày của người dân lao động. Một khung cảnh đánh cá hùng vĩ, đáng tự hào.

Biển luôn là nơi cho tôm cá rất nhiều, tác giả đã lần lượt kể tên những loại cá ở biển với sự ngưỡng mộ chân thành:

Cá nhụ cá chim cùng cá đé,

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng.

Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe,

Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.

Tác giả gọi tên từng loài cá một cách thân mật như những người bạn lâu ngày mới gặp lại. Hình ảnh “đêm thở” khiến người đọc liên tưởng đến một khung cảnh lãng mạn đan xen vào sự vất vả, gian nan của người dân đánh cá vùng biển.

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.

Ở khổ thơ này tác giả đang tái hiện lại cảnh đánh cá với những động tác nhuần nhuyễn, điêu liệu của ngư dân. Nhịp thơ gấp gáp, sôi nổi, khẩn trương hơn. Đây là khoảnh khắc mặt trời sắp lên, người dân chài phải nhanh chóng để kéo lưới và thu mẻ cá cuối cùng. Những hình ảnh bình dị nhưng trong thơ của Huy Cận chúng ta có cảm tưởng nó thật lớn lao và vĩ đại. Người dân đánh cá cũng như nghệ sỹ, phải có kỹ thuật điêu luyện để đánh được nhiều cá hơn.

 Câu hát căng buồm với gió khơi

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

Khổ thơ cuối tái hiện lại cảnh trở về của người dân làng chài. Tác giả mở đầu bằng câu hát và kết thúc cũng bằng câu hát. Dường như đó là khúc ca mà hằng ngày người dân làng chài vẫn hát, thể hiện không khí sôi nổi và tin tưởng về cuộc sống lao động hăng say, vất vả.

Hình ảnh “đoàn thuyền chạy đua với mặt trời” là hình ảnh đẹp, cảm chừng như con người đang chạy đua với thiên nhiên, với thời gian. Ẩn ý của tác giả là muốn khẳng định cuộc sống lao động hăng say, miệt mài luôn chiến thắng tất cả.

Huy Cận với bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” đã mang đến cho người đọc cái nhìn mới về khung cảnh đánh cá ở một làng chài. Ca ngợi tinh thần lao động hăng say và miệt mài.

28 tháng 12 2017

Trước đây nửa thế kỉ, khi mới cầm bút, nhà thơ Huy Cận trình làng bài “Tràng giang” với khổ thơ đầu rất đặc sắc:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả,
Củi một cành khô lạc mấy dòng

Giữa cái mênh mông, rộng dài của sông nước, con thuyền và cành củi khô – biểu tượng cho kiếp sống con người – trôi xuôi, bơ vơ, vô định. Trước cái bơ vơ, vô định ấy, thi sĩ đã bâng khuâng thương mình, thương người, muốn chia sẻ tấm lòng “sầu trăm ngả” tới chúng ta. Và, từ đó trở đi, hình tượng thơ: “vũ trụ” và “con người” trở thành một nét rất riêng, rất riêng trong thi pháp Huy Cận.
Và sau đó, từ cái “riêng” ấy, Huy Cận làm cho nó ngày một rõ rệt hơn qua “Đoàn thuyền đánh cá“. Cảm hứng của nhà thơ vè thiên nhiên, vũ trụ, về người lao động luôn luôn hài hòa theo 3 nhịp.
Khúc ca khởi hành đc cất lên ở 2 câu thơ đầu:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa

Biển hòang hôn – Mặt Trời lặn, như “hòn lửa” bị nhúng nước. Sóng cồn lên, cài chặt then, nhốt ánh sáng vào một vùng tối bí mật. Đêm bao trùm. Khuya. Vũ trụ đẹp huyền bí, mênh mang đầy thử thách. Vậy mà con người – những ngư dân – không ngại ngần, e sợ. Xưa kia, khi đất nước chìm đắm trong bóng đem xâm lược, con người thường rợn người, hãi hùng trước cái bao la rộng lớn của vũ trụ. Ngày nay, đất nước đc giải phóng, con người đc làm chủ, thì vũ trụ, thiên nhiên trở thành nơi vươn tới những ước mơ:

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Hát rằng cá bạc biển Đông lặng
Cá thu biển Đông như đòan thoi
Đêm ngày dệt biểng muôn luồn sáng
Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi

Nhịp thơ nhanh. mạnh như 1 quyết định dứt khóat. Đòan ngư dân ào xuống, đẩy thuyền ra khơi va cất cao khúc ca khởi hành. Niềm vui và quyết tâm của họ tràn ngập cà không gian, vũ trụ, đánh thức tất cả. Họ gọi cá như bạn bè gọi nhau, họ gọi biển, tiếng gọi vô vàn trìu mến.. Những cánh tay săn chắc cuồn cuộn sức người, sôi nổi hào hứng như trong một trận đấu vậy. Gió khơi, biển cả, nhất là trăng sao – những vùng sáng thay thế Mặt Trời – tất cả đã hiệp đồng để động viên, giúp đỡ con người. Vũ trụ không đối lập mà trở thành bố mẹ, bạ bè thân thương của con người:

Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới .Sau cách mạng ông nhanh chóng hoà nhập vào công cuộc kháng chiến vĩ đại và trường kì của dân tộc .Hoà bình lập lại ,từng trang thơ Huy Cận ấm áp hơi thở của cuộc sống đang lên . Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”được sáng tác ở Hòn Gai năm 1958 nhân một chuyến đi thực tế dài ngày . Bài thơ thực sư là một bài ca ca ngợi cuộc sống của những con người lao động mới . 

phan h bai tho doan thuyen danh ca

Với đôi mắt quan sát sắc sảo ,trí tưởng tượng phong phú ,trái tim nhạy cảm và tài năng nghệ thuật điêu luyện ,nhà thơ đã vẽ lên trước mắt chúng ta khung cảnh lao động hăng say trên biển .Cả bài thơ như một bức tranh sơn mài lộng lẫy những sắc màu huyền ảo ,cuốn hút vô cùng : 

Mặt trời xuống biển như hòn lửa 

Sóng đã cài then đêm sập cửa 

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi 

Câu hát căng buồm với gió khơi . 

Đoàn thyền đánh cá rời bến vào lúc hoàng hôn ,mặt trời như hòn lửa đỏ rực đang lặn dần vào lòng đại dương mênh mông , màn đêm buông xuống ,kết thúc một ngày .Biển kín đáo như một gian phòng lớn của thiên nhiên bởi cách nói thật riêng biệt “sóng đã cài then đêm sập cửa”.Chính vào thời điểm ấy, ngư dân bắt tay vào công việc quen thuộc của mình : Ra khơi đánh cá !Mặt biển đêm không lạnh lẽo mà ấm áp hẳn lên bởi tiếng hát âm vang, náo nức, thể hiện niềm vui to lớn của người lao động được giải phóng , tiếng hát hoà cùng gió, thổi căng buồm đưa đoàn thuyền ra khơi .Lời hát ca ngợi sự giàu có và hào phóng của biển cả cùng vẻ đẹp lung linh, diệu kì của nó trong đêm : 

Hát rằng cá bạc biển đông lặng 

Cá thu biển đông như đoàn thoi 

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng 

Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi! 

Sự say mê vẻ đẹp của biển đã làm giảm bớt bao nỗi nhọc nhằn vất vả trong việc đánh cá,đem lại niềm vui và sức mạnh cho ngư dân . Cảnh đánh cá trong đêm được nhà thơ miêu tả bằng cảm hứng trữ tình mãnh liệt . Tác giả như nhập thân vào thiên nhiên , công việc ,và con người : 

Thuyền ta lái gió với buồm trăng 

Lướt giữa mây cao với biển bằng 

Ra đậu dặm xa dò bụng biển 

Dàn đan thế trận lưới vây giăng. 

Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trước biển cả bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ, khổng lồ hoà nhập với kích thước rộng lớn của thiên nhiên, vũ trụ. Con thuyền đó đang bay giữa không gian trong một đêm thuỷ tinh tuyệt đẹp.Những hình ảnh “lái gió”, “buồm trăng”, “ mây cao”, “ biển bằng ”phảng phất phong vị thơ cổ điển nhưng vẫn đậm chất hiện thực .Chuyến ra khơi đánh cá cũng giống như một trận đánh thật sự hào hùng .Cũng thăm dò ,cũng dàn đan thế trận và bủa vây bằng…lưới! Đã bao đời nay ,ngư dân có quan hệ chặt chẽ với biển cả .Họ thuộc biển như lòng bàn tay , bao loài cá họ thuộc tên ,thuộc dáng và thuộc cả thói quen của chúng : 

Cá nhụ cá chim cùng cá đé 

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng 

Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé 

Đêm thở sao lùa nước Hạ Long . 

Trên mặt biển đêm ,ánh trăng lung linh dát bạc ,cá quẫy đuôi sóng sánh trăng vàng ,tiếng “em” bật lên tự nhiên, trìu mến .Bài ca gọi cá vẫn tiếp tục ngân vang : lúc náo nức ,lúc lại thật tha thiết.Trăng thức cùng ngư dân ,trăng cùng sóng dập dờn bên mạn thuyền như gõ nhịp phụ hoạ cho tiếng hát ,trăng chiếu sáng cho ngư dân kéo được những mẻ cá đầy …Với ngư dân, biển cả bao la “như lòng mẹ”,bởi vậy thiên nhiên và con người thật hoà hợp,nhịp nhàng .Nhịp điệu công việc càng khẩn trương ,sôi nổi khi bóng đêm dần tàn ,ngày đang đến : 

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng 

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng 

Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông 

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng . 

Bao công lao vất vả đã được đền bù ,dáng người ngư dân đang choãi chân, nghiêng người dồn tất cả sức mạnh vào đôi tay cuồn cuộn để kéo lên những mẻ lưới nặng trĩu mới đẹp làm sao!Màu sắc phong phú ,lấp lánh vẩy bạc, đuôi vàng của bao loài cá càng khiến cho cảnh rạng đông thêm rực rỡ .Nhịp điệu câu thơ “lưới xếp buồm lên đón nắng hồng ”chậm rãi, gợi cảm giác thanh thản, vui tươi, phán ánh tâm trạng hài lòng của ngư dân trước những kết quả tốt đẹp của chuyến ra khơi. 

Khổ thơ cuối cùng miêu tả cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá: 

Câu hát căng buồm với gió khơi 

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời 

Mặt trời đội biển nhô màu mới 

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. 

Vẫn là tiếng hát khoẻ khoắn của ngư dân dạn dày sông nước đang vươn lên làm chủ cuộc đời .Tiếng hát hoà trong gió ,thổi căng buồm đưa đoàn người ra khơi đêm trước nay lại cùng đoàn thuyền đầy ắp cá hân hoan về bến . Hình ảnh “đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” rất thực mà cũng rất hào hùng .Nó phản ánh một thói quen lâu đời của ngư dân là đưa cá về bến trước khi trời sáng đồng thời cũng hàm ý nói lên khí thế đi lên mạnh mẽ của họ trong công cuộc xây dựng đất nước. Hoà cùng niềm vui to lớn của mọi người ,nhà thơ chắp cánh cho trí tưởng tượng của mình bay bổng .Đoàn thuyền đi trên biển ,giữa màu hồng rạng rỡ tinh khôi và ánh mặt trời phản chiếu trong muôn ngàn mắt cá khiến nhà thơ liên tưởng đến hàng ngàn những mặt trời nhỏ xíu đang toả rạng nềm vui .Đến đây bức tranh biển cả ngập tràn màu sắc tươi sáng và ăm ắp chất sống trong từng dáng hình ,từng đường nét của cảnh, của người . 

“Đoàn thuyền đánh cá” là một bài ca lao động hứng khởi, hào hùng .Bài ca ấy dành cho biển hào phóng ,cho những con người cần cù, gan góc đang làm giàu cho đất nước .Cảm hứng trữ tình và nghệ thuật điêu luyện được tác giả sử dụng trong bài thơ đã cuốn hút người đọc thật sự .Chúng ta cùng chia sẻ niềm vui to lớn với nhà thơ ,với tất cả những người lao động mới đang kiêu hãnh ngẩng cao đầu trên con đường đi tới tương lai tươi sáng .

nếu bài của mk hiện lên thì tk cho mk nha

19 tháng 10 2025

Chế độ AI Tất cả Hình ảnh Video Mua sắm Video ngắn Tin tức Web Sách Chuyến bay Tài chính undefined undefined undefined 10 trang web Từ "tĩnh" có nguồn gốc Hán-Việt (chữ Hán: 靜), mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo ngữ cảnh. Các nghĩa chính Yên lặng, không ồn ào: Thường được dùng như một tính từ để mô tả không gian, cảnh vật. Ví dụ: "Không gian rất tĩnh." Ví dụ: "Đêm khuya thanh vắng, đường phố trở nên tĩnh lặng." Không cử động, không thay đổi: Chỉ trạng thái đứng yên, ổn định, không có sự xáo động hoặc biến chuyển. Ví dụ: "Trạng thái tĩnh." Ví dụ: "Trái nghĩa với động là tĩnh." Thanh thản, an định: Ám chỉ trạng thái nội tâm bình yên, không bị xao động bởi những lo toan, phiền muộn. Ví dụ: "Sống tĩnh tâm." Các từ ghép phổ biến Tĩnh lặng: Yên tĩnh, không có tiếng ồn. Tĩnh tại: Ổn định, không thay đổi. Tĩnh dưỡng: Nghỉ ngơi tại nơi yên tĩnh để phục hồi sức khỏe. Tĩnh tâm: Giữ cho lòng được yên tĩnh, thanh tịnh. Tĩnh điện: Hiện tượng mất cân bằng điện tích trên bề mặt vật liệu. Động tĩnh: Chỉ sự thay đổi, biến động của tình hình (thường đi kèm với cụm "nghe ngóng động tĩnh"). Tra từ: tĩnh - Từ điển Hán Nôm Từ điển Hán Nôm Ý nghĩa chữ Tĩnh (静) Tĩnh hay còn gọi là tịnh là từ chỉ sự yên lặng ổn định ... Facebook Tĩnh điện – Wikipedia tiếng Việt Wikipedia Hiện tất cả undefined undefined undefined 5 trang web Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận, sáng tác năm 1958 tại vùng mỏ Quảng Ninh, không chỉ là một khúc ca lao động mà còn là bức tranh tuyệt đẹp, tráng lệ về thiên nhiên và con người Việt Nam trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bài thơ mở đầu bằng khung cảnh mặt trời lặn, báo hiệu giờ ra khơi của ngư dân. Hình ảnh "Mặt trời xuống biển như hòn lửa" và "sóng đã cài then, đêm sập cửa" mang ý nghĩa vũ trụ, cho thấy sự hòa hợp nhịp nhàng giữa con người và thiên nhiên. Cảnh đánh cá trên biển đêm được miêu tả sống động, tràn đầy lãng mạn và hào hứng. Biển cả hiện lên không còn là nơi hiểm nguy mà trở thành người bạn thân thiết của ngư dân. Huy Cận đã sử dụng nhiều biện pháp tu từ độc đáo như so sánh "cá song lấp lánh đuốc đen hồng", ẩn dụ "cá nhụ cá chim cùng cá đé... kéo xoăn tay chùm cá nặng" để tạo nên những hình ảnh lung linh, kỳ ảo nhưng cũng rất chân thực. Đoạn thơ miêu tả cảnh đánh cá không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp tự nhiên mà còn làm nổi bật sức mạnh và sự lạc quan của con người. Người dân lao động hiện lên đầy nhiệt huyết, yêu đời, làm chủ cuộc sống và làm chủ biển cả. Những câu thơ như "kéo xoăn tay chùm cá nặng" hay "hát rằng: cá bạc biển Đông" cho thấy sự say mê và tự hào của họ với công việc. Khung cảnh lao động vất vả nhưng không hề nặng nhọc mà lại trở nên vui tươi, hào hùng như một bản anh hùng ca. Đoạn thơ khép lại bằng hình ảnh bình minh lên, đoàn thuyền trở về với "cá bạc, cá vàng đầy ghe". Ánh sáng của bình minh hòa quyện với ánh sáng của những mẻ cá đầy ắp, tạo nên một cảnh tượng rực rỡ, viên mãn. Hình ảnh này không chỉ thể hiện thành quả lao động mà còn là niềm vui, niềm hy vọng về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Thông qua đoạn thơ, Huy Cận không chỉ khắc họa vẻ đẹp của biển cả và con người lao động mà còn gửi gắm niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước. Tác phẩm mang đến cảm hứng lãng mạn về cuộc sống mới, con người mới trong giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa.

24 tháng 9 2023

Vào giữa năm 1958, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới. Niềm vui dạt dào tin yêu trước cuộc sống mới đang hình thành, đang thay da đổi thịt đã trở thành nguồn cảm hứng lớn của thơ ca lúc bấy giờ. Nhiều nhà thơ đã đi tới các miền đất xa xôi của Tổ quốc để sống và để viết: miền núi, hải đảo, nhà máy, nông trường…Tôi, không phải ngoại lệ, cũng có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Vào cái buổi hoàng hôn rực rỡ và huy hoàng, trên cái không gian biển rộng lớn bao la, tôi được ra khơi cùng với những người dân chài lưới. Họ là những con người lao động ra khơi với sức mạnh đoàn kết và niềm vui lạc quan, phơi phới của những người đang làm chủ cuộc đời, ngày đêm chinh phục biển khơi. Họ ra khơi với câu hát ca ngợi sự giàu có của biển cả. Biển Đông giàu có với rất nhiều loài cá quý, nào là cá bạc, cá thu đang lấp lánh giữa biển trăng, là cá nhụ, cá chim, cá đé. Còn những chàng trai khỏe khoắn thì như những người nghệ sĩ khi lướt con thuyền băng băng trên mặt nước, như những người hiệp sĩ khi dàn đan một thế trận hào hùng. Họ bắt đầu nghêu ngao hát, gõ vào thuyền dụ cá vào. Một trong số họ nói với tôi răng "Mỗi ngư dân chúng tôi đều rất biết ơn biển cả, biển cho nguồn sống là cá, biển cho công việc và giúp chúng tôi được lớn lên thành người, biển cả như là người mẹ thứ hai của mỗi người." Thế mới thấy tình cảm của họ dành cho biển cả cũng lớn đến nhường nào. Tờ mờ sáng, khi sao vẫn còn, họ bắt đầu nhanh tay kéo lưới để kịp trời sáng, mẻ lưới đầy cá nặng trĩu, mấy anh chàng chung tay kéo mới lên được. Chuyến ra khơi đã bội thu, các ani xếp lưới, căng buồm quay thuyền trở về. Ra khơi hào hứng bao nhiêu thì trở về càng thêm phơi phới bấy nhiêu. Sau chuyến đi này, hồn tôi như lột xác hoàn toàn, trở nên mới mẻ và tràn đầy sức sống. Tôi bắt đầu sáng tác bài thơ về con thuyền ấy, cùng với đó là nhiều những trang ngơi ca về những người lao động mới...

8 tháng 4 2021

Huy Cận là một trong những nhà thơ của phong trào thơ Mới có một giọng điệu riêng với những khác biệt về sự vĩnh hằng trong vũ trụ rộng lớn đầy nhân ái trải rộng và bao dung trong thế giới mênh mang diệu kì và đầy bí ẩn, con người là thực thể bao trùm là nét nhấn mạnh của sự xoay vần vũ trụ cảm hứng trong thơ ông với những kì vĩ của đất trời với những khát khao vươn tới cái đẹp của con người đã khiến cho thơ ông có một sức hấp dẫn đặc biệt. Đọc thơ ông người ta được đi qua thế giới của mây trời sông nước, ta nhận ra ở ông nét tài hoa của người thợ chạm khắc ngôn ngữ để thiên nhiên trời đất sống dậy. " Đoàn thuyền đánh cá" là bài thơ tiêu biểu. Trong bài thơ ta ấn tượng nhất với hai khổ thơ cuối:

" Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng,
Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi"

Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh " mặt trời xuống biển" và kết thúc bằng " mặt trời đội biển", phản ánh một đêm lao động trọn vẹn của ngư dân trên biển. Các khổ thơ đầu trong bài thơ đã diễn tả cảnh đoàn thuyền ra khơi, cảnh đánh cá. Đến hai khổ cuối thể hiện một đêm lao động trôi qua nhanh, và đoàn thuyền đánh cá trở về.

Sau khủng cảnh đánh cá, cảnh kéo lưới lúc trời gần sáng hiện lên thật đẹp thật khỏe khoắn:

" Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng,
Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng"

Những người ngư dân đang cùng nhau kéo lưới, kéo " chùm cá nặng". Biết bao nhiêu cơ man nào là cá mắc vào lưới như những chùm trái cây treo lủng lẳng. Từng chùm cá được những cánh tay khỏe mạnh kéo lên khỏi mặt nước " ta kéo xoăn tay". Khoang thuyền của người ngư dân đầy ắp cá. Huy Cận là một người nghệ sĩ thực thụ khi ông bắt được cái hồn của tạo vật: màu vàng của đuôi cá, màu bạc của vẩy cá dưới ánh trăng lúc rạng đông đều sáng lấp lánh tuyệt đẹp. Nhà thơ đã đưa màu sắc của thiên nhiên kì diệu làm nên màu sắc của cuộc sông ấm no. Cảnh đánh cá của người dân chài đã cho ta thấy được không khí lao động vừa lãng mạn vừa hăng say, lao động thực sự trở thành niềm vui của cuộc đời,những con người mới trong xã hội mới đã biết trân trọng những giá trị của lao động. Người dân trong bài thơ là hiện thực của cuộc sống cần lao với hình ảnh người dân chài mang bao phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam. Vị mặn mà của biển cả mang đến hương vị nồng ấm của cuộc sống. Hình ảnh " đón nắng hồng" đã thể hiện niềm tin vào cuộc sống mới, cuộc sống xay dựng xã hội chủ nghĩa.

Một đêm qua đi khi ánh bình minh ló dạng cũng là lúc một ngày mới bắt đầu. Và lúc đó là khung cảnh trở về của đoàn thuyền:

"Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi".

Đoàn thuyền trở về đem theo trong khoang đầy ắp cá tôm, đó cũng là lúc người dân chài cất cao tiếng hát lần thứ ba. Trong bài thơ ta đã gặp hai câu hát ở các khổ thơ trước của bài:

"Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng"

Và:

"Ta hát bài ca gọi cá vào"

Tiếng hát trong khổ thơ cuối mang niềm sung sướng hạnh phúc sau một đêm lao động vất vả. Con thuyền và mặt trời với nghệ thuật nhân hóa, cấu trúc song hành đã tạo nên không khí khẩn trương hối hả. Hình ảnh mặt trời đội biển tỏa ánh sáng bao trùm đại dương bao la, con thuyền phóng như bay về bến cướp lấy thời gian làm nên sự hối hả hào hứng chẳng khác lúc ra khơi. Tiếng hát mừng chiến thắng lan tỏa ra khắp không gian mênh mông hòa theo âm vang sóng vỗ tạo nên một khúc ca tuyệt đẹp về cuộc đời. Niềm hạnh phúc dâng trào trong lòng những người lao động chân chính. Bằng mồ hôi xương máu bằng trí tuệ và nhiệt tình người dân miền biển đã góp cho khúc nhạc quê hương một bài ca cuộc sống. Sự hào hứng hay chính là niềm hạnh phúc của thành quả lao động đem đến sức sống vĩnh viễn đối với người lao động Việt Nam.

Tóm lại, với hai khổ thơ cuối Huy Cận đã vẽ lên trước mắt người đọc bức tranh sau một đêm lao động vất vả,người dân cùng nhau kéo lưới, về bến. Đồng thời thông qua đó thể hiện niềm tin vào cuộc sống mới, người dân được hạnh phúc ấm no " đón nắng hồng" trong cuộc sống xã hội chủ nghĩa.

11 tháng 5 2021

- Không gian thơ vận động từ “mặt trời xuống biển” (khổ 1) đến “mặt trời đội biển” (khổ 7), tức là từ đêm tối ra bình minh, từ bóng tối ra ánh sáng, đồng thời hành trình đánh cá cũng vận động từ lúc ra khơi đến lúc trở về trong thắng lợi.

Câu hát căng buồm với gió khơi

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

Câu đầu khổ cuối bài thơ lặp lại câu cuối khổ đầu (với một biến thể nhỏ: thay chữ “cùng” thành chữ “với”) tạo ra một phép trùng điệp đầy âm vang của khúc tráng ca lao động: “câu hát” theo suốt hành trình lao động của người dân chài, đoàn thuyền ra khơi bằng tiếng hát, đánh cá trên biển cùng tiếng hát, trở về vẫn hát vang. Bốn chữ “hát” lặp lại trong bài thơ ngân nga như một điệp khúc hào hùng rạo rực điềm vui.

- Đoạn thơ dựng lại cuộc đua tốc độ: giữa đoàn thuyền và mặt trời, giữa con người và vũ trụ. Nhà thơ hai lần sử dụng phép song hành giữa thiên nhiên và con người: lần 1 ở câu 2 song hành trong một câu thơ (“đoàn thuyền” ở đầu câu, “mặt trời” ở cuối câu), lần 2 ở câu 3 và 4 song hành qua hai câu thơ “mặt trời” ở câu 3, “mắt cá” ở câu 4. Sự song hành ấy chứng tỏ cả hai tới đích cùng thời gian, không có kẻ thắng người thua tạo thành một kết thúc thật huy hoàng, tạo nên hai câu thơ hài hòa như hai vế đối: mặt trời tỏa sáng trên cao, mắt cá tỏa sáng dưới biển, muôn triệu mắt cá lấp lánh như những “mặt trời bé thơ”. Mắt cá trở thành biểu tượng rực rỡ của thành quả lao động, biểu tượng lấp lánh niềm hi vọng vào tương lai. Phép đối giữa “mặt trời” và “mắt cá” một lần nữa lại nâng con người ngang tầm vũ trụ.

30 tháng 1 2016

Huy Cận là một trong những tên tuổi tiêu biểu của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, với những tác phẩm nổi tiếng như Lửa thiêng, Vũ trụ ca… Sau Cách mạng, ông nhanh chóng hòa nhập vào công cuộc kháng chiến vĩ dại của dân tộc chống thực dân Pháp. Hòa bình lập lại, từng trang thơ Huy Cận ấm áp hơi thở của cuộc sống mới đang lên. Đoàn thuyền đánh cá được sáng tác ở Hòn Gai, năm 1958. Sau một chuyến tác giả đi thực tế dài ngày, được đánh giá là một trong những bài hay của thơ ca Việt Nam hiện đại.

Với đôi mắt quan sát sắc sảo, trí tưởng tượng phong phú, trái tim nhạy cảm và tài năng nghệ thuật điêu luyện, nhà thơ đã vẽ nên trước mắt chúng ta một khung cảnh lao động tuyệt vời trên biển. Cả bài thơ như một bức tranh sơn mài lộng lẫy với những màu sắc huyền ảo, cuốn hút vô cùng:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa.

Sóng đã cài then, đêm sập cửa.

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,

Câu hát căng buồm cùng gió khơi.

Đoàn thuyền đánh cá rời bến vào lúc hoàng hôn. Phía ấy mặt trời như một hòn lửa đỏ rực đang lặn dần vào lòng đại dương mênh mông. Màn đêm buông xuống, kết thúc một ngày. Chính vào thời điểm ấy  ngư dân bắt tay vào công việc quen thuộc của mình: ra khơi đánh cá. Mặt biển đêm không lạnh lẽo mà ấm áp hẳn lên bởi tiếng hát âm vang náo nức, thể hiện niềm vui to lớn của con người lao động được giải phóng: Cậu hát căng buồm cùng gió khơi. Đây là cách nói độc đáo, sáng tạo của Huy Cận, khiến chúng ta tưởng như tiếng hát hòa cùng gió mạnh, thổi căng cánh  buồm, đẩy thuyền phăng phăng rẽ sóng. Cánh buồm no gió tượng trưng cho khí thế phơi phới đi lên của công cuộc dựng xây đất nước.

Lời hát ngợi ca sự giàu có và hào phóng của biển cả cùng vẻ đẹp lung linh, diệu kì của nó trong đêm. Bút pháp lãng mạn của nhà thơ vẽ nên khung cảnh vừa thực vừa ảo:

Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như đoàn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.

Đến dệt lưới ta, đàn cá ơi!

Vẻ đẹp của biển đã làm giảm bớt nỗi nhọc nhằn vất vả, đem lại niềm vui và sức mạnh cho con người đang chinh phục thiên nhiên, làm chủ cuộc đời.

Cảnh đánh cá trong đêm dược nhà thơ quan sát và miêu tả với một cảm hứng trữ tình mãnh liệt. Tác giả như nhập thân vào thiên nhiên, vào công việc, vào con người:

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng,

Ra đậu dặm xa dò bụng biển,

Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

Những hình ảnh lái gió, buồm trăng, mây cao, biển bằng phảng phất phong vị thơ cổ điển nhưng vẫn tươi mới chất hiện thực. Một chuyến ra khơi đánh cá cũng giống như một trận đánh. Cũng thăm dò tìm cho ra bãi cá; cũng dàn đan thế trận để giăng lưới, bủa lưới sao cho trúng luồng cá bạc, để sáng mai lúc trở về, thuyền nào thuyền nấy đầy ắp cá.

Đã bao đời, người ngư dân có mối quan hệ chặt chẽ với biển cả. Họ thuộc biển như thuộc lòng bàn tay. Bao loài cá họ thuộc tên, thuộc dáng, thuộc cả thói quen của chúng:

Cá nhụ cá chim cùng cá đé,

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

Cái đuôi em quẫy trăng vầng chóe.

Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.

Trên mặt biển đêm, ánh trăng long lanh dát bạc, cá quẫy đuôi, sóng sánh trăng vàng. Bài ca gọi cá vẫn tiếp tục ngân vang, lúc náo nức, lúc thiết tha. Trăng thức cùng ngư dân, trăng cùng sóng dập dờn bên mạn thuyền, như gõ nhịp phụ họa cho tiếng hát. Trăng chiếu sáng cho ngư dân kéo được những mẻ cá đầy. Thiên nhiên, con người thật là hoà hợp.

Bóng đêm đang tan, ngày đang đến, nhịp độ công việc càng sôi nổi, khẩn trương:

Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.

Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.

Bao công lao vất vả đã được đền bù. Dáng người ngư dân đang choãi chân, nghiêng người, dồn tất cả sức mạnh vào đôi cánh tay cuồn cuộn để kéo lên những mẻ lưới nặng trĩu mới đẹp làm sao! Bóng dáng họ in trên nền trời hồng rực của buổi bình minh. Những tia nắng sớm chiếu trên khoang cá đầy làm lấp lánh thêm vảy bạc, đuôi vàng và màu sắc phong phú của bao loài cá cũng khiến cho cảnh rạng đông thêm rực rỡ. Nhịp điệu câu thơ cuối chậm rãi, gợi cảm giác thanh thản, vui tươi, phản ánh tâm trạng thoải mái của ngư dân trước kết quả tốt đẹp của chuyến ra khơi.

Khố thơ cuối cùng miêu tả cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá:

Câu hát căng buồm với gió khơi,

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.

Mặt trời đội biển nhô màu mới,

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.

Vẫn là tiếng hát khoẻ khoắn của người ngư dân dạn dày sóng nước đang vươn lên làm chủ cuộc đời. Tiếng hát hoà trong gió, thổi căng cánh buồm đưa đoàn thuyền ra khơi đêm trước, nay lại cùng đoàn thuyền đầy ắp cá hân hoan về bến. Hình ảnh Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời rất hiện thực mà cũng rất hào hùng. Nó phản ánh một thói quen lâu đời của ngư dân là đưa cá về bến trước khi trời sáng, đồng thời cũng thế hiện khí thế đi Lên mạnh mẽ của họ trong công cuộc xây dựng đất nước sau giải phóng.

Hoà cùng niềm vui to lớn của mọi người, nhà thơ chắp cánh cho trí tưởng tượng của mình bay bổng. Đoàn thuyền lao vun vút trên mặt biển. Mặt trời đội biển nhô màu mới một màu hồng rạng rỡ, tinh khôi và ánh mặt trời phản chiếu trong muôn ngàn mắt cá trên thuyền khiến nhà thơ liên tưởng tới hàng ngàn mặt trời nhỏ xíu đang tỏa sáng niềm vui. Đến đây, bức tranh biển cả ngập tràn sắc màu tươi sáng và ăm ắp chất sống trong từng dáng hình, đường nét của cảnh vật, của con người.

Đoàn thuyền đánh cá là một bài ca lao động hứng khởi, hào hùng. Nhà thơ ca ngợi biển cả mênh mông – nguồn tài nguyên bất tận của Tổ quốc, ca ngợi những con người lao động cần cù, gan góc, ngày đêm làm giàu cho đất nước. Cảm hứng trữ tình của Huy Cận và nghệ thuật điêu luyện của ông đã cuốn hút người đọc thực sự. Chúng ta cùng chia sẻ niềm vui to lớn với nhà thơ, với tất cả. Những người lao động mới đang kiêu hãnh ngẩng cao đầu trên con đường đi tới tương lai tươi sáng. Nửa thế kỉ đã trôi qua, bài thơ vẫn giữ nguyên vẹn giá trị ban đầu của nó. Phần nào, bài thơ giúp chúng ta hiểu được chân dung tinh thần mới của Huy Cận sau bao biến cố lịch sử trọng đại của đất nước và dân tộc – một Huy Cận trữ tình cách mạng.

16 tháng 2 2016

Viết về đề tài lao động, bài thơ Bài ca vỡ đất của Hoàng Trung Thông và bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận,... được người đọc yêu thích nhất. Huy Cận viết Đoàn  thuyền đánh cá vào năm 1958, tại vùng biển Quảng Ninh phản ánh không khí lao động sôi nổi của nhân dân miền Bắc trong xây dựng hòa bình. Nhà thơ ca ngợi tinh thần lao động phấn khởi và hăng say của những người dân chài trên vùng biển quê hương.

Cảm hứng trữ tình được diễn tả theo mạch thời gian: hoàng hôn - đêm trăng – và  bình minh. Cảnh bình minh như một biểu tượng mang ý nghĩa: một thời đại huy hoàng đang mở ra phía trước, cuộc sống cần lao của nhân dân ta đang nở hoa. 

 Hai khổ thơ đầu nói về cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá, cảnh biển vô cùng tráng lệ lúc hoàng hôn. Mặt trời được ví von với hòn than đỏ rực "hòn lửa " từ từ lăn xuống biển. Bầu trời và mặt biển bao la như ngôi nhà vũ trụ trong khoảnh khắc phủ bóng tối mịt mùng. Những con sóng, như những chiếc "then cài" của ngôi nhà vĩ đại ấy. Cảm hứng vũ trụ, biện pháp tu từ so sánh ẩn dụ (hòn lửa, cài then) đã tạo nên những vần thơ đẹp, cho người đọc nhiều ấn tượng:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa.

Ngày đã chuyển sang đêm.

Vừa lúc đó, đoàn thuyền ra khơi:

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,

Câu hát căng buồm cùng gió khơi.

Không phải từng chiếc thuyền lẻ tẻ đi biển mà là cả một "đoàn thuyền", một sức mạnh mới của cuộc đời đổi thay. Chữ "lại” trong ý thơ "lại ra khơi" là sự khẳng định nhịp điệu lao động của dân chài đã ổn định, đi vào nền nếp trong hòa bình. Khúc hát lên đường vang động. Gió biển thổi mạnh. Cánh buồm no gió "căng"lên. Tiếng hát, gió khơi, buồm căng” là  ba chi tiết nghệ thuật mang tính chất tượng trưng diễn tả tinh thần phấn khởi, hăng say và khí thế ra khơi của ngư dân vùng biển.

Bốn câu thơ tiếp theo  nói rõ về câu hát để làm nổi bật một nét tâm hồn của người dân chài. Tiếng hát cầu mong đi biển gặp nhiều may mắn:

Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,

Cá thu biển Đông như đoàn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!"

Chuyện làm ăn thường có nhiều may rủi. Ra khơi đánh cá, họ cầu mong biển lặng sóng êm, gặp luồng cá, đánh bắt được nhiều. Niềm ước mong ấy phản ánh tấm lòng hồn hậu của ngư dân từng trải qua nhiều nắng, gió, bão tố trên biển. Giọng điệu thơ ngọt ngào, ngắn dài và vang xa: "cá  bạc", "đoàn thoi", "dệt biển", "luồng sắng", "dệt lưới"     vẫn những hình ảnh so sánh ẩn dụ rất sáng tạo đem đến cho người đọc bao liên tưởng thú vị về vẻ đẹp thơ ca viết về lao động.

Bốn khổ thơ tiếp nói về cảnh đánh cá vào một đêm trăng trên vịnh Hạ Long. Mỗi khổ thơ là một nét vẽ về biển trời, sông nước, trăng sao, trong đó con người hiện lên trong dáng vẻ khỏe mạnh, trẻ trung và yêu đời.

Hạ Long là một thắng cảnh bậc nhất của đất nước ta. Hạ Long trong đêm trăng mang vẻ đẹp thần tiên. Huy Cận, với bút pháp lãng mạn tả cảnh đánh cá trên Hạ Long vào một đêm trăng bằng bao hình ảnh tuyệt vời.

Đoàn thuyền có gió làm lái, có trăng làm buồm phóng như bay trên mặt biển về  ngư trường "dò bụng biển", ngư dân khẩn trương lao vào công việc "dàn đan thế trận lưới vây giăng". Cuộc đánh cá thực sự là một trận đánh. Mỗi thủy thủ là một "chiến sĩ". Con thuyền, mái chèo, lưới, ngư cụ khác đều trở thành vũ khí của họ. Chữ "lưới”  đặc tả đoàn thuyền ra khơi với vận tốc phi thường; thiên nhiên cùng góp sức với con người trên con đường lao động và khám phá. Nhịp thơ hối hả lôi cuốn:

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

 Lướt giữa mây cao với biển bằng

Ra đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

Những câu thơ tả đàn cá là đặc sắc nhất. Biển quê ta giàu có với nhiều loại cá quý, cá ngon nổi tiếng như: "Chim, thu, nhụ, đé". Vận dụng sáng tạo cách nói của dân gian, ở phần trên, nhà thơ đã viết: "Cá thu biển đông như đoàn thoi", ở đây lại miêu tả: "Cá nhụ, cá chim cùng cá đé". Con cá song là một nét vẽ tài hoa: vẩy cá đen, hồng, lấp lánh trên biển nước chan hòa ánh trăng "vàng chóe". Cái đuôi cá quẫy được so sánh với ngọn đuốc rực cháy. Nghệ thuật phối sắc tài tình làm cho vần thơ đẹp như một bức tranh sơn mài rực rỡ. Bầy cá như những nàng tiên nhảy múa:

Cá nhụ, cá chim cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.

Nhìn bầy cá bơi lượn, nhà thơ lắng nghe tiếng sóng vỗ rì rầm, mắt nhìn về xa. Câu thơ huyền ảo lung linh: "Đêm thở, sao lùa nước Hạ Long", như đưa người đọc đi vào cõi mộng. Phải có một tình yêu biển sâu nặng mới viết nên những vần thơ tuyệt bút như vậy. Sung sướng nhìn đàn cá "dệt lưới", những người dân chài cất lên tiếng hát ngọt ngào. Lần thứ hai tiếng hát vang lên trên biển. Tiếng gõ thuyền đuổi cá hòa cùng sóng biển. Vầng trăng soi xuống mặt biển, muôn ngàn ánh vàng tan ra theo làn sóng, vỗ vào mạn thuyền. "Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao". Biển hào phóng cho nhân dân nhiều tôm cá, muối và hải sản... Biển "như lòng mẹ" đã. nuôi sống nhân dân ta từ bao đời nay. So sánh biển với lòng mẹ để nói lên lòng tự hào của dân chài đối với biển quê hương. Giọng thơ ấm áp, chứa chan nghĩa tình:

Biển cho ra cá như lòng mẹ,

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.

Một đêm trôi nhanh trong nhịp điệu lao động hào hứng, hăng say. Trên bầu trời sao đã thưa và mờ. Cảnh kéo lưới được miêu tả đầy ấn tượng. Những cánh tay rắn chắc kéo lưới "xoăn tay". "Kéo xoăn tay" là một hình ảnh đặc tả động tác kéo lưới rất căng, khỏe và đẹp. Cơ man nào khiến cá mắc vào lưới như những chùm trái cây treo lủng lẳng. "Chùm cá nặng" là một hình ảnh ẩn dụ gợi tả được mùa cá. Khoang thuyền đầy ắp cá. Màu bạc của vẩy cá, màu vàng của đuôi cá lóe rạng đông". Một lần nữa cho thấy nghệ thuật sử dụng màu sắc của nhà thơ rất điêu luyện, sắc cá dưới ánh trăng và sắc cá dưới áng rạng đông đều được miêu tả tuyệt đẹp:

Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông.

Khổ thơ cuối nói về cảnh đoàn thuyền trở về bến lúc rạng đông. Lần thứ ba, ngư dân trên đoàn thuyền lại cất cao tiếng hát - tiếng hát thắng lợi hân hoan. Con thuyền và mặt trời được nhân hóa. Thơ được cấu trúc song hành diễn tả nhịp sống khẩn trương:

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời,

Mặt trời đội biển nhô màu mới.

Cảnh rạng đông với hình ảnh "mặt trời đội biển... "nhô lên, tỏa ánh sáng chan hòa, một "màu mới" bao trùm biển khơi. Đoàn thuyền phóng như bay về bến như cướp lấy thời gian, giành lấy thời gian. Biện pháp thậm xưng kết hợp với nghệ thuật hoán dụ trong việc tả "mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi " đã. vẽ lên cảnh được mùa cá và cuộc sống hạnh phúc ấm no của nhân dân vùng biển. Bằng lao động và mồ hôi, họ đã viết nên bài ca cuộc đời.

Đoàn thuyền đánh cá là bài thơ tiêu biểu của Huy Cận sau Cách mạng tháng Tám. Nếu như trước đây, thơ Huy Cận thấm một nỗi buồn "vạn cổ sầu " vào vũ trụ và lòng người thì những bài thơ của ông từ năm 1945 đến nay, đặc biệt là bài Đoàn thuyền đánh cá  mang âm điệu ngọt ngào, niềm vui say mê và phấn chấn của nhân dân lao động đang làm chủ cuộc đời.

Qua thơ Huy Cận, chúng ta như được sống những đêm trăng đẹp trên Hạ Long, ta tự hào đất nước ta có trên ba nghìn cây số bờ biển; biển ta giàu có, bao la tiềm năng, dồi dào hải sản.

Cảnh đánh cá trên biển được miêu tả với cảm hứng lãng mạn. Lao động thật sự là niềm vui cuộc đời. Trong xã hội ta, cái đáng quý nhất là lao động, người đáng quý nhất là người lao động. Hình ảnh người dân chài trong bài thơ là hiện thân của sức sống cần lao. Họ cần cù, dũng cảm và chịu khó. Cuộc đời của họ đã gắn liền với sóng gió mưa nắng biển khơi, khai thác nhiều hải sản. Chính họ đã đem lại muối mặn và hương vị biển cho mọi gia đình gần xa, bữa cơm trở nên đậm đà với con tôm, con cá. Cùng với nhà nông "một nắng hai sương", những người dân chài đã cho ta bài học về đức tính cần cù, tinh thần lạc quan trong lao động.

Thật vậy, Đoàn thuyền đánh cá là một bài thơ hay. Những nét vẽ về đàn cá biển, về người dân chài đánh cá, kéo lưới, ca hát... cho thấy một hồn thơ đẹp.hihi

28 tháng 12 2019

Câu thơ của Huy Cận giống với câu thơ của Chế Lan Viên: "Cá song lấp lánh đuốc đen hồng"

- Câu thơ này sử dụng hình ảnh ẩn dụ. Nhà thơ đi từ việc liệt kê tên các loại cá “cá nhụ, cá chim, cá đé, cá song” khiến cho bức tranh biển cả sinh động, rực rỡ sắc màu.

   + Con cá song thân dày và dài trên vảy có chấm tròn màu đen và hồng giống hình ảnh của bó đuốc lấp lánh.

   + Tác giả tưởng tượng hình ảnh đàn cá song như đám rước hội tưng bừng, lộng lẫy trên mặt biển.

   + Để rồi sau đó hình ảnh đẹp đẽ cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe là hình ảnh thi vị và đẹp đẽ nhất.

19 tháng 10 2018

Câu thơ của Huy Cận giống với câu thơ của Chế Lan Viên:

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

    - Câu thơ này sử dụng hình ảnh ẩn dụ. Nhà thơ đi từ việc liệt kê tên các loại cá “cá nhụ, cá chim, cá đé, cá song” khiến cho bức tranh biển cả sinh động, rực rỡ sắc màu.

       + Con cá song thân dày và dài trên vảy có chấm tròn màu đen và hồng giống hình ảnh của bó đuốc lấp lánh.

       + Tác giả tưởng tượng hình ảnh đàn cá song như đám rước hội tưng bừng, lộng lẫy trên mặt biển.

       + Để rồi sau đó hình ảnh đẹp đẽ cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe là hình ảnh thi vị và đẹp đẽ nhất.