Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
1.Có thể nhận thấy được rằng việc chúng ta bảo vệ, chăm sóc trẻ em là một trong những nhiệm quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc, bởi "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai" (UNESCO). Hay như chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói “Trẻ em như búp trên cành” cho nên việc chúng ta yêu thương các em trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội chứ không phải của riêng ai.
Nhận thấy được rằng chính tương lai của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại phụ thuộc vào sự chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ. Đồng thời nó cũng lại thật phụ thuộc vào sức khoẻ, trí tuệ, năng lực… của thế hệ trẻ. Chúng ta như không thể nào có thể quên được ngay trong "Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường", Bác Hồ viết: "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu". Thông qua lời căn dặn này ta đồng thời cũng có thể nhận thấy được trẻ em là người sẽ quyết định tương lai, vị thế của mỗi dân tộc trên trường quốc tế.
Quả không sai khi người ta nói chỉ cần xem công tác kiểm tra các vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em của một đất nước thôi thì có thể đánh giá được trình độ văn minh và phần nào bản chất của một xã hội. Ta như nhận thấy được ở đất nước Nhật. Nước Nhật là một quốc gia không có nhiều tài nguyên thiên nhiên trong khi đó lại phải đối mặt với rất nhiều thiên tai như động đất và núi lửa nhưng đất nước vẫn vươn lên trở thành một trong những siêu cường lớn nhất hiện nay. Đó chính là việc nước Nhật luôn luôn coi trọng và phát triển con người. Người Nhật luôn dạy con cái – những thế hệ mầm non tương lai của đất nước họ rất nhiều bài học. Họ thực sự quan tâm đến thế hệ con trẻ và luôn chăm lo đến đời sống của các em. Có như vậy thì đất nước họ mới có thể có được vị thế vững chắc như ngày hôm nay.
Ta nhận thấy được chính nhờ sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, chính phủ Việt Nam, hay đó cũng còn là chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội đối với trẻ em hiện nay được quan tâm trên nhiều khía cạnh. Trong những năm 1989, Công ước Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em dường như cũng lại ra đời đã ghi nhận các quyền cơ bản của trẻ em như các nhóm quyền sống còn, và có cả các nhóm quyền bảo vệ, nhóm quyền phát triển và nhóm quyền tham gia. Có thể khẳng định được rằng cũng chính công ước này thể hiện sự tôn trọng và quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với trẻ em. Đồng thời nó cũng chính là những điều kiện cần thiết để trẻ em được phát triển đầy đủ trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm. Sự kiện tiếp theo có thể nhận thấy được vào năm 1990 Tuyên bố thế giới… đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể và toàn diện nhằm bảo vệ và chăm sóc trẻ em cùng với một bản kế hoạch hành động khá chi tiết trên từng mặt cơ bản. Dễ dàng nhận thấy được cũng chính tuyên bố này một lần nữa thể hiện sự quan tâm thích đáng của cộng đồng quốc tế đối với các quyền lợi và tương lai của trẻ em.
Hiện nay ta như nhận thấy được cũng chính vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm. Việt Nam vinh dự và cũng thật tự hào là nước thứ hai trên thế giới kí và phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em. Và ta như thấy được cũng chỉ sau Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em năm 1990, lúc này đây thì Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định Chương trình hành động vì sự sống còn. Đồng thời như cũng thấy được cũng chính quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em Việt Nam từ năm 1991 đến 2000, đặt thành một bộ phận của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trên cơ sở những luật pháp như được ban bố kia thì các ngành, các cấp phải có những hoạt động thật cụ thể để nhằm đảm bảo các quyền lợi của trẻ em như các chính sách hỗ trợ kinh tế đối với trẻ em nghèo để các em có thể đến trường, quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, trường học, thiết bị dạy học… để nâng cao chất lượng giáo dục, kêu gọi các tổ chức xã hội và nhân dân đóng góp xây đựng trường lớp, giúp đỡ trẻ em khuyết tật, đóng góp quỹ vì người nghèo, vì trẻ em bị nhiễm chất độc màu da cam, khuyến khích mở các lớp học tình thương, các trung tâm bảo trợ trẻ em mồ côi, tàn tật, lang thang không nơi nương tựa…
Trẻ em cũng cần được yêu thương và chăm sóc cho nên những hành động có hại hay mang đến những tổn thương cho các em cần được lên án và tẩy chay.
Hiện nay thì các tình trạng bạo hành trẻ em của nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới cũng đang có xu thế gia tăng và theo nhiều cấp độ và hình thức khác nhau. Bên cạnh những việc làm có ý nghĩa như hiện tượng cá nhân tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang thì vẫn còn không ít những quyền của trẻ em hiện nay đang bị xâm hại và không được coi trọng. Tất cả những vấn nạn gây ra nhiều tổn thương về tinh thần cũng như thể xác của các em cũng cần được đưa ra để có những biện pháp xử lý cụ thể nhất, nhằm có thể răn đe cho người sau. Trẻ em cũng nên được giáo dục hiểu biết về luật pháp cũng như những quyền của chính mình. Các em luôn xứng đáng với sự quan tâm, chăm sóc của người thân và toàn xã hội.
Trẻ em chính là chủ nhân tương lai của đất nước, nên hãy biết yêu quý và bảo vệ các em để tránh những điều không tốt làm tổn hại đến nhân phẩm cũng như thể xác.
~Châu's ngốc
Gia đình là tổ ấm, là cái nôi nuôi dưỡng con trẻ khôn lớn thành người. Thế nhưng, hiện nay có một thực trạng đáng buồn xảy ra chính là nạn bạo hành trẻ em ở ngay chính trong ngôi nhà của mình. Nếu chúng ta không có những biện pháp can thiệp thì không biết những đứa trẻ tội nghiệp kia còn phải chịu những tổn thương gì và tương lai chúng sẽ ra sao.
Bạo hành là hành động xâm hại đến thể chất cũng như tinh thần của con người. Bạo hành trẻ em trong gia đình chính là tình trạng những người cha, người mẹ hoặc những người thân trong gia đình sử dụng những hành động xâm phạm đến thân thể hoặc tinh thần của các em. Đó có thể là cha mẹ ruột đánh đập con cái. Hay cũng có thể là cảnh mẹ kế, cha dượng ghẻ lạnh, hắt hủi con riêng của vợ hoặc chồng. Hay đơn giản, đó là những lời chê bai, chửi bới, xúc phạm đến tâm hồn, tinh thần con trẻ…
Ngày nay, tình trạng bạo hành trẻ em ngày một có chiều hướng gia tăng. Mỗi ngày, những thông tin về bạo hành trẻ em trong gia đình xuất hiện nhan nhản trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Mới đây nhất, vụ việc bé G.K (được báo chí giấu tên) 10 tuổi, bị chính cha ruột là ông Trần Hoài Nam (Phường Nghĩa Đô – Hà Nội) cùng với mẹ kế đánh đập dã man tới mức phải nhập viện vì gãy xương xườn và rạn sọ não. Không chịu nổi bạo hành trong thời gian dài, bé đã phải bỏ trốn tới cầu cứu ông nội mới thoát thân. Đó chỉ là một trong rất nhiều cảnh thương tâm mà chúng ta phải chứng kiến mỗi ngày.
Bạo hành trẻ em giống như một tội ác khó dung thứ, khi mà nạn nhân chỉ là những đứa trẻ non nớt, vô tội. Bạo hành không chỉ ảnh hưởng tới thân thể mà còn ảnh hưởng tới tâm lý của các em rất nhiều. Những thân thể non nớt với những vết thương rướm máu chằng chịt, những vết bầm tím nối dài khắp cơ thể, những vết sẹo mãi chẳng lành. Như bé G.K trong ví dụ trên, việc gãy xương sườn và sạn sọ não không chỉ ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và tính mạng của bé thời điểm đó mà còn để lại những di chứng xấu về sau này. Nếu không được chăm sóc, thể chất bé sẽ không thể phát triển bình thường như bao bạn khác được nữa. Nếu như nỗi đau thể xác ám ảnh, đau đớn ảnh hưởng một thì những tổn thương, những ám ảnh tâm lý ảnh hưởng tới các bé gấp mười lần. Thay vì việc vui cười, chạy nhảy như bao bạn đồng trang lứa khác thì các bé lại sống trong cảnh hoang mang, sợ hãi thường trực với những trận đòn roi không ngớt, những câu mắng chửi ác độc. Dần dần, nó tạo tâm lý trầm cảm, sợ hãi và tự ti cho các bé. Sự phát triển của trẻ ngày một lệch lạc hơn khi chúng không được định hướng đúng đắn. Và rất có thể, sau này khi lớn lên, chúng cũng sẽ lại trở thành những kẻ vũ phu, những kẻ bạo hành người khác… Bản thân những người bạo hành cũng sẽ bị pháp luật xử lý, bị xã hội lên án hay chính lương tâm họ cũng sẽ bị căn dứt trước những hành động nhẫn tâm của mình.
Để dẫn đến những hậu quả thương tâm ấy, chúng ta có thể kể tới rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Đó có thể là do hậu quả của việc cha, mẹ say sỉn, mất kiểm soát hành vi của mình. Hay do hoàn cảnh gia đình khó khăn, áp lực công việc đè nặng, trình độ dân trí lại thấp khiến con người bị quá tải, mất khả năng kiểm soát hành động. Bên cạnh đó, còn là sự ích kỉ, nhỏ nhen của một bộ phận những người làm mẹ kế, cha dượng đẩy những đứa trẻ tội nghiệp vào những hoàn cảnh bi thương….
Trước sự việc đó, mỗi chúng ta cần đưa ra những biện pháp để khắc phục và hạn chế tối đa tình trạng bạo hành trẻ em trong gia đình xảy ra. Khi phát hiện ra những trường hợp bạo hành trẻ em, cần can thiệp và báo ngay đến cơ quan chức năng để xử lý kịp thời. Mỗi người làm cha, làm mẹ hay những người thân của bé cũng nên bình tĩnh cũng như học cách yêu thương con cái mình tốt hơn. Chỉ nên sinh 1 đến 2 con để đảm bảo cho trẻ những điều kiện chăm sóc tốt nhất. Hãy kiên nhẫn với trẻ nhỏ cũng như suy nghĩ trước khi đưa ra những quyết định ảnh hưởng đến con cái như ly hôn hay tảo hôn….
“Trẻ em như búp trên cành”, trẻ em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước. Hãy chăm sóc và bảo vệ trẻ nhỏ vì chúng đáng được nhận mọi sự yêu thương. Đừng để bạo hành trẻ em trong gia đình làm mất đi tương lai của con nhỏ.
!Châu's ngốc
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là: Nghị luận
Câu2: Theo tác giả, việc hiểu được bản thân là điều khó, cần hiểu bản thân để từ đó làm việc mình thích và có một cuộc đời như mơ ước.
Câu 3: “Mỗi người trong chúng ta là một cá thể khác biệt“, Mỗi cá nhân trong đời sống có một ngoại hình riêng, một cá tính, tính cách độc lập; có những sở trường, sở đoản… khác nhau.
Có thể nhận thấy được rằng việc chúng ta bảo vệ, chăm sóc trẻ em là một trong những nhiệm quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc, bởi "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai" (UNESCO). Hay như chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói “Trẻ em như búp trên cành” cho nên việc chúng ta yêu thương các em trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội chứ không phải của riêng ai.
Nhận thấy được rằng chính tương lai của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại phụ thuộc vào sự chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ. Đồng thời nó cũng lại thật phụ thuộc vào sức khoẻ, trí tuệ, năng lực… của thế hệ trẻ. Chúng ta như không thể nào có thể quên được ngay trong "Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường", Bác Hồ viết: "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu". Thông qua lời căn dặn này ta đồng thời cũng có thể nhận thấy được trẻ em là người sẽ quyết định tương lai, vị thế của mỗi dân tộc trên trường quốc tế.
Quả không sai khi người ta nói chỉ cần xem công tác kiểm tra các vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em của một đất nước thôi thì có thể đánh giá được trình độ văn minh và phần nào bản chất của một xã hội. Ta như nhận thấy được ở đất nước Nhật. Nước Nhật là một quốc gia không có nhiều tài nguyên thiên nhiên trong khi đó lại phải đối mặt với rất nhiều thiên tai như động đất và núi lửa nhưng đất nước vẫn vươn lên trở thành một trong những siêu cường lớn nhất hiện nay. Đó chính là việc nước Nhật luôn luôn coi trọng và phát triển con người. Người Nhật luôn dạy con cái – những thế hệ mầm non tương lai của đất nước họ rất nhiều bài học. Họ thực sự quan tâm đến thế hệ con trẻ và luôn chăm lo đến đời sống của các em. Có như vậy thì đất nước họ mới có thể có được vị thế vững chắc như ngày hôm nay.
Ta nhận thấy được chính nhờ sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, chính phủ Việt Nam, hay đó cũng còn là chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội đối với trẻ em hiện nay được quan tâm trên nhiều khía cạnh. Trong những năm 1989, Công ước Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em dường như cũng lại ra đời đã ghi nhận các quyền cơ bản của trẻ em như các nhóm quyền sống còn, và có cả các nhóm quyền bảo vệ, nhóm quyền phát triển và nhóm quyền tham gia. Có thể khẳng định được rằng cũng chính công ước này thể hiện sự tôn trọng và quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với trẻ em. Đồng thời nó cũng chính là những điều kiện cần thiết để trẻ em được phát triển đầy đủ trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm. Sự kiện tiếp theo có thể nhận thấy được vào năm 1990 Tuyên bố thế giới… đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể và toàn diện nhằm bảo vệ và chăm sóc trẻ em cùng với một bản kế hoạch hành động khá chi tiết trên từng mặt cơ bản. Dễ dàng nhận thấy được cũng chính tuyên bố này một lần nữa thể hiện sự quan tâm thích đáng của cộng đồng quốc tế đối với các quyền lợi và tương lai của trẻ em.
Hiện nay ta như nhận thấy được cũng chính vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm. Việt Nam vinh dự và cũng thật tự hào là nước thứ hai trên thế giới kí và phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em. Và ta như thấy được cũng chỉ sau Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em năm 1990, lúc này đây thì Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định Chương trình hành động vì sự sống còn. Đồng thời như cũng thấy được cũng chính quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em Việt Nam từ năm 1991 đến 2000, đặt thành một bộ phận của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trên cơ sở những luật pháp như được ban bố kia thì các ngành, các cấp phải có những hoạt động thật cụ thể để nhằm đảm bảo các quyền lợi của trẻ em như các chính sách hỗ trợ kinh tế đối với trẻ em nghèo để các em có thể đến trường, quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, trường học, thiết bị dạy học… để nâng cao chất lượng giáo dục, kêu gọi các tổ chức xã hội và nhân dân đóng góp xây đựng trường lớp, giúp đỡ trẻ em khuyết tật, đóng góp quỹ vì người nghèo, vì trẻ em bị nhiễm chất độc màu da cam, khuyến khích mở các lớp học tình thương, các trung tâm bảo trợ trẻ em mồ côi, tàn tật, lang thang không nơi nương tựa…
Trẻ em cũng cần được yêu thương và chăm sóc cho nên những hành động có hại hay mang đến những tổn thương cho các em cần được lên án và tẩy chay.
Hiện nay thì các tình trạng bạo hành trẻ em của nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới cũng đang có xu thế gia tăng và theo nhiều cấp độ và hình thức khác nhau. Bên cạnh những việc làm có ý nghĩa như hiện tượng cá nhân tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang thì vẫn còn không ít những quyền của trẻ em hiện nay đang bị xâm hại và không được coi trọng. Tất cả những vấn nạn gây ra nhiều tổn thương về tinh thần cũng như thể xác của các em cũng cần được đưa ra để có những biện pháp xử lý cụ thể nhất, nhằm có thể răn đe cho người sau. Trẻ em cũng nên được giáo dục hiểu biết về luật pháp cũng như những quyền của chính mình. Các em luôn xứng đáng với sự quan tâm, chăm sóc của người thân và toàn xã hội.
Trẻ em chính là chủ nhân tương lai của đất nước, nên hãy biết yêu quý và bảo vệ các em để tránh những điều không tốt làm tổn hại đến nhân phẩm cũng như thể xác.
Câu 1:
Nhân vật người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm là hình ảnh tiêu biểu cho nỗi đau của người vợ có chồng ra trận trong thời loạn lạc. Qua từng câu thơ, nỗi cô đơn, buồn tủi và khao khát hạnh phúc lứa đôi hiện lên một cách sâu sắc. Chồng ra đi, người chinh phụ sống trong cảnh “phòng không”, lẻ loi, nhớ nhung da diết. Nàng không chỉ đau vì phải xa cách người thương mà còn vì nỗi lo lắng, thấp thỏm cho sự an nguy của chồng nơi chiến trường. Những hành động như “gảy đàn”, “thắp đèn”, “trông cửa” chỉ càng làm nổi bật nỗi nhớ và sự trống trải trong tâm hồn. Tâm trạng của nàng là sự giằng xé giữa bổn phận với đất nước và khát vọng hạnh phúc cá nhân. Thông qua hình ảnh người chinh phụ, tác giả không chỉ bày tỏ nỗi thương cảm với số phận người phụ nữ trong chiến tranh mà còn ngầm lên án những cuộc chiến phi nghĩa, đẩy con người vào cảnh chia lìa, đau khổ. Nhân vật người chinh phụ vì vậy trở thành biểu tượng cho nỗi đau thầm lặng và phẩm chất thủy chung của người phụ nữ xưa.
Câu 2:
Khi đọc Chinh phụ ngâm, ta không chỉ cảm nhận được nỗi cô đơn của người vợ có chồng ra trận mà còn thấy rõ những mất mát, đau thương mà chiến tranh để lại cho con người. Hình ảnh người chinh phụ ngày ngày ngóng trông chồng giữa chốn khuê phòng lạnh lẽo là minh chứng rõ nét cho bi kịch chia lìa mà chiến tranh gây nên. Không chỉ có sự xa cách, chiến tranh còn gieo rắc cái chết, tàn phá hạnh phúc và để lại những vết thương không thể xóa nhòa trong lòng người.
Chiến tranh là kẻ thù lớn nhất của hòa bình, là nguyên nhân sâu xa của đau thương và chia cắt. Bao nhiêu người con đã ngã xuống nơi chiến trường, bao nhiêu mái ấm tan vỡ, bao nhiêu bà mẹ, người vợ, đứa trẻ sống trong nước mắt và hy vọng mỏi mòn. Không chỉ trong văn chương mà cả trong lịch sử dân tộc và thế giới, chiến tranh luôn để lại những hậu quả nặng nề về thể xác lẫn tinh thần. Nó không chỉ tàn phá làng mạc, thành phố mà còn cướp đi những giá trị nhân văn cao đẹp của con người: tình yêu, lòng nhân ái, hạnh phúc và sự bình yên.
Ngày hôm nay, chúng ta may mắn được sống trong hòa bình – thành quả của biết bao máu xương, hy sinh của cha ông. Vì vậy, thế hệ trẻ càng cần phải ý thức sâu sắc về giá trị của cuộc sống hòa bình và trách nhiệm giữ gìn nó. Trân trọng hòa bình không chỉ là biết ơn quá khứ mà còn là hành động thiết thực trong hiện tại: sống nhân ái, học tập, lao động, cống hiến để xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ và không còn chỗ cho bạo lực hay hận thù. Mỗi người trẻ cần trở thành một "chiến sĩ" gìn giữ hòa bình – bằng tri thức, bằng tình yêu thương, bằng sự tỉnh táo trước cái xấu, cái ác, và bằng tiếng nói phản đối mọi hành vi chia rẽ, kỳ thị hay kích động chiến tranh.
Chiến tranh là bài học đau đớn của nhân loại, còn hòa bình là khát vọng ngàn đời của con người. Bởi thế, chỉ khi biết trân trọng sự yên bình đang có, thế hệ trẻ hôm nay mới thực sự xứng đáng với sự hy sinh của cha ông và góp phần gìn giữ một tương lai không còn bóng dáng chiến tranh.
Câu 1:
Trong đoạn trích Chinh phụ ngâm, hình ảnh người chinh phụ hiện lên đầy đau khổ, xót xa. Người chinh phụ sống trong cảnh chia xa, nhiều năm mong ngóng tin chồng nhưng tin tức vẫn bặt vô âm tín: “Trải mấy xuân tin đi tin lại, / Tới xuân này tin hãy vắng không”. Nỗi mong chờ ấy khiến nàng luôn dõi theo từng cánh nhạn, từng áng mây, thậm chí gieo bói cầu tin, viết thư rồi lại mở ra trong tuyệt vọng. Nỗi nhớ thương khiến nàng trở nên gầy guộc, xiêm áo lỏng lẻo, bước chân nặng nề dạo hiên vắng, ngồi sau rèm buồn bã. Cô đơn đến mức, người chinh phụ phải mượn cả ngọn đèn để trò chuyện: “Đèn có biết dường bằng chẳng biết / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”. Qua hình ảnh này, ta thấy rõ thân phận nhỏ bé, bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến khi chồng ra trận: họ chỉ biết chờ đợi, hy sinh trong cô quạnh và đau thương. Đồng thời, tác phẩm cũng gợi cho người đọc niềm cảm thương sâu sắc đối với những phận người bị chiến tranh làm cho chia lìa, bất hạnh.
Câu 1. Đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ sau khi đọc bài thơ “Mẹ”
Bài thơ Mẹ của Bằng Việt khắc họa hình ảnh người mẹ hiền hậu, tận tụy và giàu tình yêu thương dành cho con. Khi đọc bài thơ, em cảm nhận được nỗi nhớ da diết của người con với mẹ và quê hương, nhất là trong bối cảnh chiến tranh, gian khó. Từng câu chữ đều gợi lên hình ảnh mẹ lặng lẽ chăm sóc con, từ những món ăn bình dị như canh tôm nấu khế, khoai nướng, ngô bung, đến những hành động âm thầm nhưng đầy tình thương. Cách tác giả miêu tả chi tiết, giàu hình ảnh đã làm nổi bật sự hy sinh thầm lặng của mẹ, đồng thời thể hiện tình cảm sâu nặng của con đối với mẹ. Em thấy xúc động khi hình dung mẹ già chịu đựng gian khó nhưng vẫn quan tâm từng hơi thở, từng bước đi của con, và nỗi nhớ mẹ khiến con cảm thấy đất nước trở nên gần gũi, ấm áp. Bài thơ khiến em hiểu hơn giá trị của tình mẫu tử thiêng liêng, đồng thời nhắc nhở em trân trọng, biết ơn những công lao và tình thương vô bờ của cha mẹ.
Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) về ý nghĩa của lòng biết ơn trong cuộc sống
Lòng biết ơn là một trong những giá trị đạo đức cao đẹp, giúp con người sống nhân hậu, chân thành và có trách nhiệm với bản thân và người khác. Bài thơ Mẹ của Bằng Việt đã gợi lên lòng biết ơn của người con đối với mẹ. Nhân vật trữ tình xúc động trước những hy sinh, lo toan và tình yêu thương vô bờ bến của mẹ, từ việc chăm sóc, nấu những món ăn bình dị đến sự dạy dỗ, quan tâm từng bước đi của con. Từ câu chuyện này, chúng ta nhận ra rằng biết ơn không chỉ là nhận thức về công lao, tình cảm mà còn là hành động, thái độ trân trọng và đối xử tốt với những người đã yêu thương, giúp đỡ mình.
Lòng biết ơn giúp con người trở nên cao thượng, gắn kết các mối quan hệ và tạo nên một xã hội nhân ái. Người biết ơn sẽ không bao giờ xem nhẹ tình thương, công sức của cha mẹ, thầy cô hay bạn bè, đồng thời biết chia sẻ, giúp đỡ người khác. Ngược lại, thiếu lòng biết ơn dẫn đến ích kỷ, thờ ơ và làm phai nhạt những giá trị tốt đẹp xung quanh. Trong cuộc sống hằng ngày, lòng biết ơn có thể thể hiện qua những lời nói, hành động nhỏ nhưng chân thành, như thăm hỏi cha mẹ, quan tâm bạn bè, trân trọng sự giúp đỡ của người khác.
Như vậy, lòng biết ơn là nền tảng của nhân cách, giúp con người sống có trách nhiệm và giàu tình cảm. Bài thơ Mẹ nhắc nhở mỗi chúng ta hãy luôn biết ơn và trân trọng những người thân yêu, những công lao thầm lặng đã làm nên hạnh phúc và cuộc sống của chúng ta.
Câu 1:Đoạn trích "Tổ quốc nhìn từ biển" của Nguyễn Việt Chiến khiến em xúc động sâu sắc về tình yêu quê hương, đất nước. Những hình ảnh về Hoàng Sa, Trường Sa, và những người lính, người dân đã dành trọn trái tim để giữ gìn đất mẹ thiêng liêng. Tác giả đã dùng những câu thơ chân thành, da diết, nhấn mạnh sự thiêng liêng của từng mảnh đất, từng quần đảo của Tổ quốc mà cha ông đã gìn giữ qua bao thế hệ. Những lời ca ngợi về biển cả, về những người con yêu nước khiến em cảm thấy tự hào và trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ đất nước. Đặc biệt, hình ảnh "Lạc Long cha nay chưa thấy trở về" làm em nghĩ về những người anh hùng đã hy sinh vì Tổ quốc. Đoạn trích như lời nhắc nhở chúng em trân trọng và giữ gìn từng mảnh đất thiêng liêng của quê hương, để đất nước luôn bình yên, vững bước trên con đường phát triển.
Câu 2:Trong thời đại hiện nay, du lịch là hoạt động góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, quảng bá văn hóa, nhưng đi đôi với đó là vấn đề ô nhiễm môi trường tại các điểm du lịch. Nhiều khu danh lam thắng cảnh đẹp của Việt Nam đang bị xâm phạm, rác thải, rác thải nhựa, ô nhiễm nguồn nước, đất đai gây ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan và hệ sinh thái. Nguyên nhân chính là ý thức của một bộ phận du khách còn hạn chế, thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh chung, thói quen vứt rác bừa bãi, phá hoại cây cối hoặc lãng phí tài nguyên. Để bảo vệ môi trường, trước tiên cần nâng cao nhận thức của du khách thông qua các chiến dịch tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường. Các cơ quan chức năng cần xây dựng và thực thi quy định nghiêm ngặt về bảo vệ cảnh quan, xử phạt những hành vi gây ô nhiễm. Đồng thời, ban quản lý các điểm du lịch nên lắp đặt thùng rác hợp lý, khuyến khích du khách giữ gìn vệ sinh và có các hoạt động tuyên truyền về ý thức bảo vệ môi trường. Chỉ khi mỗi người đều ý thức rõ trách nhiệm của mình, chúng ta mới có thể giữ gìn vẻ đẹp của các danh lam thắng cảnh, góp phần xây dựng một nền du lịch bền vững, phát triển lâu dài.
Câu 1.Văn bản "Chữ ta" thuộc kiểu văn bản nghị luận. Trong văn bản, tác giả trình bày quan điểm cá nhân, lập luận bằng dẫn chứng cụ thể, nhằm bày tỏ suy nghĩ về việc sử dụng tiếng nước ngoài ở Việt Nam và khẳng định cần phải giữ gìn, tôn trọng tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ của dân tộc.
Câu 2.Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là thái độ của người Việt đối với tiếng mẹ đẻ trong bối cảnh mở cửa, hội nhập với thế giới. Tác giả phê phán việc lạm dụng tiếng nước ngoài trong bảng hiệu, báo chí ở Việt Nam, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc tôn trọng và đề cao tiếng Việt.
Câu 3.Tác giả đã sử dụng phép so sánh đối chiếu giữa Hàn Quốc và Việt Nam để làm rõ luận điểm:
“Khắp nơi đều có quảng cáo nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh.”
→ Đây là một quan sát thực tế về Hàn Quốc, mang tính khách quan.
“Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm.”
→ Đây là suy nghĩ, đánh giá mang tính cá nhân của tác giả, thể hiện ý kiến chủ quan.
Lập luận được củng cố bằng những quan sát thực tế cụ thể và đi kèm với nhận xét sâu sắc, từ đó làm nổi bật quan điểm về việc cần giữ gìn, tôn trọng tiếng mẹ đẻ như một biểu hiện của lòng tự trọng dân tộc.
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Văn bản thuộc kiểu văn bản nghị luận (cụ thể là nghị luận xã hội/bình luận báo chí). Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì? Vấn đề chính là hiện tượng "sính ngoại" hình thức của một số tờ báo trong nước khi tóm tắt bài viết bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối chỉ để cho "oai", gây lãng phí không gian thông tin cho người đọc nội địa. Câu 3. Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đã đưa ra những lí lẽ, bằng chứng nào? Bằng chứng: Nhiều tờ báo, kể cả báo ngành của nhà nước, có "mốt" tóm tắt bài bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối. Lí lẽ: Việc làm này chủ yếu để cho "oai" chứ không thực sự phục vụ người đọc nước ngoài như mục đích ban đầu (so sánh với cách làm của nước ngoài là in mục lục để dịch bài cần đọc). Gây thiệt hại cho người đọc trong nước vì mất đi diện tích cho các thông tin hữu ích khác. Câu 4. Chỉ ra một thông tin khách quan và một ý kiến chủ quan trong văn bản. Thông tin khách quan: "khá nhiều báo, kể cả một số tờ báo của các ngành của nhà nước ta, có cái “mốt” là tóm tắt một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối". (Đây là sự thật đang diễn ra). Ý kiến chủ quan: "xem ra để cho “oai”" hoặc "Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm." (Đây là nhận xét, đánh giá riêng của tác giả). Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. Chặt chẽ và sắc sảo: Tác giả sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu (cách làm của nước ngoài và cách làm "biến tướng" ở ta). Ngôn ngữ phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu cay: Sử dụng các từ ngữ như "mốt", "cho oai" để chỉ ra sự lố lăng của hình thức. Nâng tầm vấn đề: Từ một hiện tượng nhỏ trên báo chí, tác giả nâng lên thành vấn đề về lòng tự trọng quốc gia trong bối cảnh hội nhập, khiến người đọc phải suy ngẫm.
Câu 1. Đây là Văn bản nghị luận
Câu 2. Vấn đề trung tâm được đề cập là thực trạng và thái độ sử dụng ngôn ngữ dân tộc (tiếng mẹ đẻ) và ngôn ngữ nước ngoài (tiếng Anh) trong đời sống công cộng và truyền thông ở Hàn Quốc và Việt Nam.
Câu 3. Luận điểm chính của tác giả là: Người Việt Nam đang có xu hướng lơ là, thậm chí là tự ti thái quá trước ngôn ngữ nước ngoài, khác với thái độ giữ gìn bản sắc của Hàn Quốc.
◦ Hàn Quốc: Quảng cáo thương mại không đặt ở công sở, hội trường lớn. Chữ nước ngoài (tiếng Anh) luôn nhỏ hơn, đặt dưới chữ Hàn Quốc.
◦ Việt Nam: Khắp nơi thấy tiếng Anh, có bảng hiệu chữ nước ngoài lớn hơn cả chữ Việt, gây cảm giác “lạc sang một nước khác”.
2. Về báo chí/ấn phẩm:
◦ Hàn Quốc: Báo chí trong nước ít có trang viết bằng tiếng nước ngoài (trừ mục lục tạp chí khoa học).
◦ Việt Nam: Nhiều báo, kể cả các ngành của nhà nước, có in toàn bộ hoặc một phần lớn nội dung bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối (như có cái “mát tay” tóm tắt bằng tiếng nước ngoài, hoặc để chế độ “oai” mà người đọc trong nước phải thiết bị dịch).
Câu 4.Thông tin khách quan
◦ Hàn Quốc là nước phát triển kinh tế nhanh, là “con rồng nhỏ”.
◦ Chữ nước ngoài trên bảng hiệu Hàn Quốc (nếu có) thường nhỏ hơn chữ Hàn Quốc.
◦ Ở Việt Nam có nhiều bảng hiệu chữ nước ngoài lớn hơn chữ Quốc ngữ.
◦ Báo chí Hàn Quốc (trừ tạp chí chuyên ngành) ít có trang cuối viết bằng tiếng nước ngoài.
• Ý kiến chủ quan
◦ Việc các cơ sở Việt Nam dùng chữ nước ngoài lớn hơn chữ Việt là “có lúc ngỡ ngàng”.
◦ Việc báo chí Việt Nam có nhiều bài viết bằng tiếng nước ngoài chỉ để “tóm tắt… rao cho ‘oai’” là thái độ tự ti của một bộ phận công chúng.
Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả.
Cách lập luận của tác giả rất chặt chẽ và thuyết phục vi .Sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu: Tác giả lấy một quốc gia có bối cảnh tương đồng về phát triển kinh tế (Hàn Quốc) làm chuẩn mực để so sánh và từ đó làm nổi bật hạn chế của thực trạng tại Việt Nam.Dẫn chứng cụ thể, giàu sức gợi: Các ví dụ về bảng hiệu, quảng cáo, và nội dung báo chí rất sinh động, giúp người đọc dễ hình dung và cảm nhận rõ ràng sự khác biệt.Kết nối vấn đề cụ thể với vấn đề tư tưởng: Tác giả không chỉ nói về chữ nghĩa mà còn quy kết về mặt tư tưởng, thái độ (sự tự ti, lòng tự tôn dân tộc), khiến bài viết có chiều sâu và tính thời sự cao.
vb chữ ta thuoc vb nl
Câu 1 :
Văn bản trên thuộc văn bản thông tin
Câu 1. Văn bản thuộc trên thuộc kiểu văn bản : nghị luận
Câu 2. Vấn đề được đề cập: thái độ sử dụng tiếng nước ngoài và ý thức tự trọng dân tộc bối cảnh hội nhập ( so sánh giữa Việt Nam và Hàn Quốc )
Câu 3. Các lí lẽ , bằng chứng:
- Ở Hàn Quốc : bảng hiệu, quảng cáo ưu tiên chữ Hàn, chữ nước ngoài (chủ yếu tiếng Anh) nhỏ hơn và đặt dưới.
- Báo chí Hàn Quốc: hầu như không dùng tiếng nước ngoài trong nội dung chính.
- Ở Việt Nam: nhiều bảng hiệu dùng tiếng Anh nổi bật, có khi lớn hơn tiếng Việt.
- Một số báo Việt Nam tóm tắt bài bằng tiếng nước ngoài ở cuối → gây thiệt cho người đọc trong nước.
Câu 4.
- Thông tin khách quan: Thực tế về cách sử dụng chữ viết trên bảng hiệu, báo chí ở Hàn Quốc và Việt Nam.
- Ý kiến chủ quan: Tác giả cho rằng đó là biểu hiện của lòng tự trọng dân tộc, cần suy ngẫm.
Câu 5. Cách lập luận:
- So sánh đối chiếu (Hàn Quốc – Việt Nam).
- Kết hợp lí lẽ + dẫn chứng thực tế cụ thể
- Giọng văn rõ ràng, thuyết phục, mang tính gợi suy nghĩ.
câu 1 văn bản trên thuộc loại văn bản nghị luận
câu 2: vấn đề được bàn luận là ngôn ngữ nước ngoài đang dần thay thế vị trí của ngôn ngữ mẹ đẻ ở Việt Nam
câu 3 một số lí lẽ, bằng chứng là : các biển quảng cáo ở Xơ un đều ghi chữ Hàn Quốc thay vì chữ nước ngoài, nhiều tờ báo chỉ chú thích chữ nước ngoài dưới chân chữ Hàn Quốc,.....
Câu 1:
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận (bình luận xã hội).
Câu 2:
Vấn đề được đề cập là thái độ sử dụng tiếng nước ngoài và ý thức tự trọng dân tộc trong quá trình hội nhập, qua việc so sánh giữa Việt Nam và Hàn Quốc.
Câu 3:
Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đưa ra các lí lẽ và bằng chứng: ở Seoul và các thành phố Hàn Quốc, bảng hiệu, quảng cáo luôn ưu tiên chữ Hàn, chữ nước ngoài nếu có thì nhỏ hơn; báo chí trong nước hầu như không dùng tiếng nước ngoài tràn lan. Ngược lại, ở Việt Nam, nhiều nơi lạm dụng tiếng Anh trong bảng hiệu, thậm chí lớn hơn chữ Việt, và một số báo còn có “mốt” tóm tắt bằng tiếng nước ngoài gây lãng phí nội dung.
Câu 4:
Câu 5:
Cách lập luận của tác giả rõ ràng, chặt chẽ, sử dụng so sánh đối chiếu giữa Việt Nam và Hàn Quốc kết hợp với dẫn chứng thực tế cụ thể, từ đó làm nổi bật vấn đề và gợi suy ngẫm về ý thức giữ gìn bản sắc và lòng tự trọng dân tộc.
Câu 1: Văn bản nghị luận
Câu 2: Vấn đề được đề cập: Việc sử dụng chữ nước ngoài đặc biệt là tiếng Anh tràn lan, lấn át chữ Việt, từ đó đặt ra vấn đề về ý thức giữ gìn và tự trọng ngôn ngữ dân tộc.
Câu 3: Lí lẽ và bằng chứng:Lí lẽ: Một quốc gia cần có ý thức tôn trọng và đề cao ngôn ngữ của mình. Việc lạm dụng tiếng nước ngoài thể hiện sự thiếu tự trọng dân tộc. Bằng chứng: Ở Hàn Quốc: Biển hiệu chủ yếu dùng tiếng Hàn, chữ nước ngoài nhỏ hơn Không đặt quảng cáo bừa bãi ở công sở, danh lam Báo chí hầu như không dùng tiếng nước ngoài Ở Việt Nam: Biển hiệu nhiều nơi dùng tiếng Anh lớn hơn tiếng Việt Báo chí có “mốt” dùng tiếng nước ngoài để “oai”
Câu 4: Một thông tin khách quan và một ý kiến chủ quan: Thông tin khách quan: “Đi đâu, nhìn đâu cũng thấy nổi bật những bảng hiệu chữ Hàn Quốc.” đây là sự thật quan sát được Ý kiến chủ quan: “có cái ‘mốt’ là tóm tắt một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối, xem ra để cho ‘oai’”
Câu 5: Nhận xét về cách lập luận của tác giả Tác giả lập luận chặt chẽ, rõ ràng và thuyết phục. Sử dụng phép so sánh đối chiếu giữa Hàn Quốc và Việt Nam làm nổi bật vấn đề Đưa ra dẫn chứng cụ thể, thực tế biển hiệu, báo chí Kết hợp lí lẽ và dẫn chứng hợp lí Giọng văn mang tính bình luận, phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu sắc Nhờ đó, quan điểm về việc giữ gìn tiếng Việt và lòng tự trọng dân tộc được thể hiện rõ ràng, dễ thuyết phục người đọc.
Câu 1:Văn bản trên thuộc văn bản nghị luận
Câu 2: Vấn đề đc đề cập đến trong văn bản là báo chí ở Hàn Quốc
Câu 3: Để làm sáng tỏ cho luận điểm tác giả đã đưa ra lí lẽ và bằng chứng như:" trong khi đó thì ở một vài thành phố của ta,nhìn vào đâu cũng thấy tiếng anh"và"các tờ báo phát hành ở trong nước đều ko có mấy trang cuối viết bằng tiếng nước ngoài,trừ một số tạp chí khoa học"
Câu 4: Một số thông tin khác quan là ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại " con rồng nhỏ" có quan hệ quốc tế rộng rãi.
Ý kiến chủ quan là phải chăng đó cũng là thái độ tự trọng của quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm.
Câu 5: Cách lập luận của tác giả thể hiện thực tiễn và mang tính thời sự cao.Tác giả tập chung vào sự thật, trách nhiệm và đạo đức của nhà báo.
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận (bình luận xã hội). Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là: việc sử dụng chữ nước ngoài và ý thức giữ gìn, đề cao tiếng Việt – lòng tự trọng dân tộc khi hội nhập với thế giới. Câu 3. Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đưa ra các lí lẽ và bằng chứng: Ở Hàn Quốc, chữ Hàn luôn được đặt nổi bật, chữ nước ngoài nếu có thì viết nhỏ hơn. Quảng cáo thương mại không đặt ở công sở, hội trường, danh lam thắng cảnh. Báo chí trong nước của Hàn Quốc hầu như không dùng tiếng nước ngoài. Trong khi đó ở ta, nhiều biển hiệu chữ nước ngoài to hơn chữ Việt. Một số báo còn tóm tắt bài bằng tiếng nước ngoài làm mất thông tin cho người đọc trong nước. Câu 4. Thông tin khách quan: Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, thuộc loại “con rồng nhỏ”. Ý kiến chủ quan: “Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm.” Câu 5. Cách lập luận của tác giả chặt chẽ, thuyết phục, sử dụng phép so sánh đối chiếu giữa Hàn Quốc và Việt Nam, nêu dẫn chứng cụ thể, từ thực tế quan sát để làm nổi bật vấn đề và gửi gắm thông điệp sâu sắc.
Câu 1:văn bản "chữ ta "của tác giả hữu thọ thuộc kiểu văn bản bản nghị luận
Câu 2 :bài viết bàn về vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa ngôn ngữ tiếng việt trong thời kỳ mở cửa ,phê phán thói quyen sử dụng từ ngữ nước ngoài bừa bãi
Câu 3:
- lí lẽ : con người không chỉ đấu tranh với thế giới bên ngoài mà còn phải đối mặt với những mâu thuẫn,thử thách trong chính tâm hồn mình
- bằng chứng : khẳng định con người là một phần của thế giới ,nằm trong đó và quan xát nó ,cần niềm tin để vượt quá khó khăn
Câu 4: thông tin khách quan:tác giả nêu thực trạng lạm dụng tiếng nước ngoài trong biển quảng cáo,văn bản và giao tiếp hàng ngày tại Việt Nam
-ý kiến chủ quan : tác giả bày tỏ sự không đồng tình,phê phán việc làm này là thiếu tôn trọng tiếng mẹ đẻ và gây ảnh hưởng tiêu cực đến bản sắc văn hóa .
Câu 5:- chặt chẽ ,mạch lạc , sắc bén ,đanh thép ,thuyết phục ,giàu cảm xúc và tính chiến đấu
Câu 1:
- Văn bản: văn bản nghị luận
Câu 2:
Vấn đề chính là việc các tờ báo trong nước lạm dụng việc in tóm tắt tắt nội dung bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối một cách hình thức " cho oai", gây lãng phí không gian thông tin cho độc giả trong nước.
Câu 3:
Lí lẽ: Việc in tiếng nước ngoài ở trang cuối của báo nước ngoài là để phục vụ mục đích thực tế (nhờ dịch thuật), trong khi ở Việt Nam chỉ là phong trào "mốt" để phô trương. Bằng chứng: Tác giả so sánh giữa báo chí nước ngoài (chỉ một số tạp chí chuyên ngành mới có) với thực trạng nhiều tờ báo ngành ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra hậu quả là người đọc trong nước mất đi vài trang thông tin hữu ích.
Câu 4:
Thông tin khách quan: "Trong khi đó, ở ta, khá nhiều báo, kể cả một số tờ báo của các ngành của nhà nước ta, có cái 'mốt' là tóm tắt một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối..."
Ý kiến chủ quan: "....xem ra để cho ' oai' trong khi đó, người đọc trong nước lại bị thiệt mấy mấy trang thông tin" hoặc đoạn tự vấn về "thái độ tự trọng của một quốc gia"
Câu 5:Tác giả có cách lập luận sắc sảo, logic và giàu tính thuyết phục thông qua phương pháp so sánh đối chiếu (giữa báo nước ngoài và báo trong nước). Ngôn ngữ sử dụng mang tính phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu cay, đặt ra vấn đề để người đọc cùng suy ngẫm về lòng tự trọng dân tộc trong quá trình hội nhập.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản: Văn bản thông tin.
Câu 2.
Vấn đề trung tâm là thái độ tự trọng của một quốc gia trong việc giữ gìn và bảo vệ chữ viết dân tộc (tiếng nói, văn hóa nội sinh) khi mở cửa, hội nhập với thế giới.
Câu 3.
Tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu giữa Hàn Quốc và Việt Nam: Tại Hàn Quốc: Bằng chứng: Quảng cáo không đặt ở công sở, danh lam thắng cảnh. Chữ nước ngoài (tiếng Anh) viết nhỏ, đặt dưới chữ Hàn Quốc to hơn. Các tờ báo hiếm khi dùng tiếng nước ngoài trừ mục đích chuyên môn thực sự. Lí lẽ: Đó là biểu hiện của một quốc gia có ý thức bảo vệ bản sắc dù kinh tế phát triển nhanh. Tại Việt Nam: Bằng chứng: Ở nhiều thành phố, nhìn đâu cũng thấy tiếng Anh. Bảng hiệu có chữ nước ngoài to hơn chữ Việt. Một số tờ báo tóm tắt bài bằng tiếng Anh ở trang cuối chỉ để cho "oai". Lí lẽ: Việc sính ngoại quá đà làm mất đi sự trang trọng của ngôn ngữ dân tộc và gây thiệt thòi về thông tin cho người đọc trong nước.
Câu 4.
Thông tin khách quan: "Chữ nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh, nếu có thì viết nhỏ, đặt dưới chữ Hàn Quốc to hơn phía trên." (Đây là sự thật hiển nhiên mà tác giả quan sát được tại Hàn Quốc). Ý kiến chủ quan: "...xem ra để cho 'oai', trong khi đó, người đọc trong nước lại bị thiệt mất mấy trang thông tin." (Đây là cách nhìn nhận, đánh giá cá nhân của tác giả về mục đích và tác động của việc in tiếng Anh trên báo chí Việt Nam).
Câu 5.
Cách lập luận của tác giả rất chặt chẽ, sắc sảo và đầy thuyết phục: Sử dụng thủ pháp đối lập: Việc đặt thực tế của một "con rồng nhỏ" (Hàn Quốc) bên cạnh thực trạng tại nước mình giúp người đọc thấy rõ sự khác biệt và tự rút ra bài học. Dẫn chứng thực tế, cụ thể: Tác giả lấy ví dụ từ bảng hiệu đến trang báo – những thứ đời thường nhất – khiến vấn đề trở nên gần gũi, không giáo điều. Giọng văn tâm huyết, trăn trở: Cách đặt câu hỏi ở cuối văn bản ("Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng...") không chỉ là kết luận mà còn là lời gợi mở, thôi thúc người đọc phải suy ngẫm về lòng tự tôn dân tộc trong thời đại mới.
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận Câu 2. Vấn đề được đề cập: Thái độ sử dụng và đề cao tiếng nước ngoài trong báo chí, bảng hiệu… ở Việt Nam so với Hàn Quốc; từ đó bàn về lòng tự trọng dân tộc khi hội nhập. Câu 3. Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đưa ra: - Lí lẽ: * Hàn Quốc phát triển, hội nhập nhưng vẫn đề cao chữ viết của mình. * Ở Việt Nam lại có xu hướng đề cao tiếng nước ngoài. - Bằng chứng: * Ở Hàn Quốc: chữ nước ngoài (tiếng Anh) nếu có thì viết nhỏ, đặt dưới chữ Hàn. * Ở Việt Nam: nhiều bảng hiệu, chữ nước ngoài lại to hơn chữ Việt. * Báo chí Hàn Quốc: không chạy theo việc viết bằng tiếng nước ngoài. * Báo chí Việt Nam: có “mốt” tóm tắt bài bằng tiếng nước ngoài ở cuối.
Câu 4.
*Thông tin khách quan:“Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, có quan hệ quốc tế rộng rãi.” *Ý kiến chủ quan:“Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia… mà ta nên suy ngẫm.” Câu 5. Nhận xét về cách lập luận: * Lập luận chặt chẽ, rõ ràng. * Sử dụng so sánh đối chiếu (Hàn Quốc – Việt Nam) rất thuyết phục. * Dẫn chứng cụ thể, thực tế. * Giọng văn mang tính bình luận, gợi suy nghĩ cho người đọc
câu 1 : văn bản nghị luận xã hội
câu 2 : viết về vấn đề ngôn ngữ của các nước
câu 3 : để sáng tỏ cho luận điểm tác giả đã đưa ra một số lí lẽ bằng chứng như :
- Báo chí ở Hàn Quốc khá nhiều. Có một số tờ báo tạp chí số xuất bản bằng tiếng nước ngoài in rất đẹp .Những các tờ báo phát hành ở trong nước đều không có mấy trang cuối viết bằng tiếng nước ngoài, trừ một số tạp chí khoa học . trong khi đó ở ta khá nhiều báo kể cả một số tờ báo của các ngành của nhà nước ta có cái mốt đó là thông tin một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối.
câu 4 :
- ý kiến khách quan : đi đâu nhìn đâu cũng thấy nổi bật bảng hiệu chứ của Hàn Quốc trong khi đó ở một vài thành phố của ta nhìn đâu cũng thấy tiếng Anh có bảng hiệu của các cơ sở của ta hẳn hoi mà chữ nước ngoài lớn hơn chữ Việt có lúc những ngày tưởng như là sang nước khác
- ý kiến chủ quan : trong khi đó ở ta khá nhiều báo kể cả một số tờ báo của các ngành của nhà nước ta có cái mốt đó là thông tin một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối.
câu 5
cách lập luận của tác giả giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng trong việc tôn trọng ngôn ngữ Việt của mình, và đặt ra vấn đề ý thức bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc lòng tự tôn ngôn ngữ trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Câu 1:
- Văn bản nghị luận
Câu 2 :
-Vai trò và trách nhiệm của báo chí trong thời kỳ đổi mới
Câu 3:
- Lí lẽ: Tác giả phân tích các khía cạnh của sự đổi mới, yêu cầu về tính trung thực, khách quan và nhạy bén của người làm báo trong bối cảnh mới
- Bằng chứng: Các dẫn chứng thực tế từ hoạt động báo chí, các sự kiện xã hội hoặc các số liệu cụ thể
Câu 4:
- Thông tin khách quan: Là những sự thật hiển nhiên, số liệu hoặc sự kiện đã xảy ra
- Ý kiến chủ quan: Là quan điểm cá nhân, sự đánh giá hoặc cảm xúc của tác giả
Câu 5 :
- Chặt chẽ và logic : Các luận điểm được sắp xếp theo trình tự hợp lí, từ khái quát đến cụ thể
- Thuyết phục: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ sắc bén và dẫn chứng thực tế sinh động
- Thái độ: Thể hiện sự tâm huyết, trách nhiệm và cái nhìn sắc sảo của một người làm báo chuyên nghiệp
Kdbeofgt
cebeb
Câu 1: văn bản nghị luận
Câu 2: văn bản đề cập
Ý thức giữ gìn và đề cao chữ viết, ngôn ngữ dân tộc (chữ ta) trong bối cảnh hội nhập, từ đó thể hiện lòng tự trọng dân tộc.
Câu 3:
Các lí lẽ, dẫn chứng: So sánh Hàn Quốc và Việt Nam: Ở Hàn Quốc: chữ Hàn luôn được đặt nổi bật, chữ nước ngoài (tiếng Anh) nhỏ hơn. Ở Việt Nam: nhiều bảng hiệu, cơ sở lại để chữ nước ngoài to hơn chữ Việt. Về báo chí: Hàn Quốc: báo trong nước chủ yếu dùng tiếng Hàn, chỉ có một phần nhỏ tiếng nước ngoài phục vụ người nước ngoài. Việt Nam: nhiều báo có “mốt” tóm tắt bằng tiếng nước ngoài, làm giảm thông tin cho người đọc trong nước. → Những dẫn chứng này làm rõ sự khác biệt về ý thức tôn trọng ngôn ngữ dân tộc.
Câu 4:
Thông tin khách quan: Hàn Quốc thường đặt chữ Hàn nổi bật hơn chữ nước ngoài. Ý kiến chủ quan: Tác giả cho rằng đó là biểu hiện của lòng tự trọng quốc gia mà ta cần suy ngẫm.
Câu 5:
Nhận xét cách lập luận: Lập luận chặt chẽ, rõ ràng. Sử dụng so sánh đối chiếu (Hàn Quốc – Việt Nam) rất thuyết phục. Dẫn chứng cụ thể, thực tế. Giọng văn thẳng thắn, mang tính phê bình nhưng có ý xây dựng.
Ko biết la
Câu 1: Văn bản nghị luận (nghị luận xã hội). Câu 2: Ý thức giữ gìn chữ viết dân tộc và lòng tự trọng quốc gia trong thời kỳ hội nhập. Câu 3: Lí lẽ: Sự tự trọng quốc gia thể hiện qua cách dùng chữ viết. Bằng chứng: So sánh việc dùng chữ viết, bảng hiệu và báo chí giữa Hàn Quốc (ưu tiên chữ Hàn) và Việt Nam (lạm dụng tiếng Anh). Câu 4: Khách quan: Hàn Quốc có nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, quan hệ quốc tế rộng rãi. Chủ quan: Ta nên suy ngẫm về thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa. Câu 5: Lập luận chặt chẽ, sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu sắc sảo, dẫn chứng thực tế giúp tăng tính thuyết phục.
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận . Câu 2. Vấn đề được đề cập: → Thái độ sử dụng tiếng nước ngoài và ý thức tự trọng dân tộc trong quá trình hội nhập. Câu 3. Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đưa ra: Lí lẽ: Hàn Quốc phát triển nhưng vẫn đề cao tiếng Hàn. Việc lạm dụng tiếng nước ngoài ở Việt Nam là không hợp lí. Bằng chứng: Ở Hàn Quốc: bảng hiệu chủ yếu bằng tiếng Hàn, tiếng nước ngoài nhỏ hơn. Báo chí Hàn Quốc ít dùng tiếng nước ngoài, chủ yếu phục vụ người trong nước. Ở Việt Nam: bảng hiệu nhiều tiếng Anh, thậm chí lớn hơn tiếng Việt. Báo chí Việt Nam có “mốt” tóm tắt bằng tiếng nước ngoài gây thiệt cho người đọc trong nước. Câu 4. Thông tin khách quan: → Ở Hàn Quốc, chữ nước ngoài nếu có thì viết nhỏ, đặt dưới chữ Hàn. Ý kiến chủ quan: → Tác giả cho rằng đó là biểu hiện của lòng tự trọng dân tộc mà ta cần suy ngẫm. Câu 5. Nhận xét cách lập luận: → Lập luận chặt chẽ, rõ ràng, có sức thuyết phục: So sánh đối chiếu giữa Hàn Quốc và Việt Nam Kết hợp lí lẽ với dẫn chứng cụ thể Giọng văn mang tính phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu sắc
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận (cụ thể là nghị luận xã hội).
Câu 2. Vấn đề được đề cập: → Thái độ tự trọng dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là việc sử dụng tiếng nước ngoài so với tiếng mẹ đẻ (so sánh giữa Hàn Quốc và Việt Nam).
Câu 3. Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đưa ra các lí lẽ và bằng chứng:
Về Hàn Quốc: Quảng cáo không đặt ở công sở, danh lam thắng cảnh. Chữ nước ngoài (chủ yếu tiếng Anh) nếu có thì viết nhỏ, đặt dưới chữ Hàn. Báo chí trong nước hầu như không dùng tiếng nước ngoài, trừ mục đích cần thiết. Về Việt Nam: Nhiều bảng hiệu chữ nước ngoài (tiếng Anh) lớn hơn chữ Việt. Một số báo có “mốt” tóm tắt bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối, gây lãng phí thông tin cho người đọc trong nước. → Các dẫn chứng mang tính so sánh đối chiếu giữa hai quốc gia để làm nổi bật vấn đề.
Câu 4. Thông tin khách quan: → “Khắp nơi đều có quảng cáo nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh.” Ý kiến chủ quan: → “...xem ra để cho ‘oai’...” (Thể hiện đánh giá, thái độ phê phán của tác giả)
Câu 5. Nhận xét về cách lập luận: Lập luận chặt chẽ, rõ ràng. Sử dụng phép so sánh đối chiếu (Hàn Quốc – Việt Nam) rất hiệu quả. Dẫn chứng cụ thể, thực tế, có tính thuyết phục cao. Giọng văn nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, mang tính gợi suy ngẫm hơn là áp đặt. → Nhờ vậy, vấn đề được nêu ra trở nên rõ ràng và có sức thuyết phục.
c1: văn bản thông tin
Câu1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản là : văn bản nghị luận
Câu 2. Vấn đề được đề cập trong văn bản là : sự thể hiện ngôn ngữ dân tộc trên các ấn phẩm cộng đồng trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế của Việt Nam, và thái độ tự trọng dân tộc được thể hiện qua đó
Câu 3. Có 3 bằng chứng được tác giả đưa ra là :
+ Bằng chứng 1: Hàn Quốc
+ Bằng chứng 2: Việt Nam
+ Bằng chứng 3: Báo chí
Câu 4.
• Thông tin khách quan (sự thật có thể kiểm chứng): Hàn Quốc phát triển kinh tế nhanh, là “con rồng nhỏ”, có quan hệ chặt chẽ với phương Tây.
•Ý kiến chủ quan (quan điểm, nhận xét của tác giả): Nhìn các biển hiệu ở Việt Nam, tác giả cảm thấy “ngỡ ngàng tưởng như mình lạc sang một nước khác.” (Đây là cảm xúc, sự đánh giá cá nhân về hiện tượng).
Câu 5.
Cách lập luận của tác giả rất chặt chẽ, thuyết phục và sinh động. Tác giả sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu trực tiếp giữa một quốc gia có ý thức bảo tồn tốt (Hàn Quốc) và thực trạng tại quê nhà (Việt Nam). Bằng cách đưa ra các dẫn chứng cụ thể, cụ thể hóa bằng hình ảnh (biển hiệu to nhỏ, vị trí đặt chữ), tác giả tạo được sự đồng cảm và khiến người đọc tự rút ra kết luận về thái độ cần có trong quá trình mở cửa. Lập luận đi từ quan sát đến phân tích và kết thúc bằng một lời kêu gọi suy ngẫm sâu sắc.
1. Văn bản nghị luận
2. Vấn đề sử dụng ngoại ngữ trên báo chí Việt Nam một cách hình thức và sự truyền thuyết của lòng tự trọng quốc gia trong quá trình mở cửa, hội nhập
3. Lí lẽ : việc tóm tắt tiếng nước ngoài ở chương cuối chỉ để cho “oai”, không thực sự phục vụ hiệu quả cho mục đích thông tin
Dẫn chứng : “khá nhiều báo, kể cả một số tờ báo của các ngành của nhà nước ta, có cái mốt là tóm tắt một số tài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối... người đọc trong nước lại bị thiệt mất mấy trang thông tin”
4. Thông tin khách quan : nhiều tờ báo trong nước tóm tắt bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trong cuối
Ý kiến chủ quan : cách làm đó là để cho oai và là vấn đề thuộc về thái độ tự trọng của một quốc gia cần phải suy nghĩ
5. Sắc sảo, ngắn gọn và có tính thuyết phục cao
Câu 1: Tình hình chung của Châu Á sau năm 1991 là gì? Trả lời: Tình hình chung là ổn định về chính trị và tăng trưởng vượt bậc về kinh tế, trở thành khu vực năng động nhất thế giới. Câu 2: Những quốc gia nào là đầu tàu kinh tế của Châu Á? Trả lời: Các quốc gia tiêu biểu gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và các nước công nghiệp mới (NICs). Câu 3: Mục tiêu của việc mở rộng ASEAN là gì? Trả lời: Nhằm xây dựng một Đông Nam Á hòa bình, ổn định và cùng nhau hợp tác phát triển kinh tế, tránh sự can thiệp của các thế lực bên ngoài. Câu 4: Thách thức lớn nhất đối với Châu Á hiện nay là gì? Trả lời: Đó là các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và các thách thức phi truyền thống như dịch bệnh, môi trường. Câu 5: Việt Nam có vai trò gì trong khu vực này? Trả lời: Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong ASEAN, đóng góp vào sự ổn định chung và là nền kinh tế có tốc độ hội nhập quốc tế thuộc hàng nhanh nhất khu vực
Ko bt
câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại văn bản thuyết minh