Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
trình bày nguyên nhân,kết quả,đánh dấu bước phát triển của kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
Đáp án B
Sự phát triển của hậu phương từ sau chiến thắng Biên giới thu - đông năm 1950 đến trước đông - xuân 1953-1954 đã tạo điều kiện về vật chất, tinh thần để cuộc kháng chiến của quân và dân ta nhanh chóng đi đến thắng lợi hoàn toàn
quân ta giành được thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.
Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950 đã mở ra bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta vì *
quân ta giành được thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.
bộ đội chủ lực trưởng thành, khai thông biên giới Việt – Trung.
đã làm phá sản kế hoạch Rơ-ve của Pháp – Mỹ.
đã giải phóng được một vùng đất đai rộng lớn, đông dân.
Đáp án: D
Giải thích:
- Tháng 6/1950, Trung ương Đảng và Chính phủ ta quyết định mở chiến dịch Biên giới, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, khai thông con đường liên lạc giữa quốc tế và cách mạng Việt Nam, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến.
Chiến dịch Biên giới làm phá sản kế hoạch Rơ-ve của Pháp, đập tan âm mưu tấn công lên căn cứ địa Việt Bắc, là chiến dịch chủ động tiến công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực Việt Nam.
Đáp án B
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chông Pháp (1945-1954) mới giải phóng được một nửa đất nước. Miền Bắc được giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở để nhân dân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội là ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975) thắng lợi.
Đáp án B
Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đánh dấu “chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc”, mở đầu quá trình sụp đổ của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ trên phạm vi toàn thế giới
search google cho nhanh
Tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944. Lễ thành lập được tổ chức tại khu rừng Sam Cao nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám thuộc Châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Ban đầu gồm 34 chiến sĩ trong đó có 3 nữ với 34 khẩu súng các loại do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung; Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng; Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến; Lâm Cẩm Như, tức Lâm Kính, phụ trách công tác chính trị; Lộc Văn Lùng tức Văn Tiên làm quản lý.
Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa, Bắc Giang quyết định Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sát nhập với lực lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945. Lễ hợp nhất được tổ chức ngày 15 tháng 5 năm 1945 tại rừng Thàn Mát, xã Định Biên, huyện Định Hóa (Thái Nguyên).
Trận đánh đầu tiên của đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là trận Phai Khắt, Nà Ngần ngày 25 và 26 tháng 12 năm 1944.
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, trong Cách mạng Tháng Tám, khi tiến đánh Thái Nguyên, quân số Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã khoảng 450 người, biên chế thành một chi đội (tiểu đoàn), do Lâm Cẩm Như làm chi đội trưởng. Sau 7 ngày quân Nhật ở Thái Nguyên mới chịu chấp nhận giao nộp vũ khí cho Giải phóng quân.
Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để đối phó với sức ép của quân Tưởng Giới Thạch đòi giải tán quân đội chính quy Việt Minh, tháng 11 năm 1945 Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn gọi là Vệ quốc quân. Lúc này quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ. Một số chi đội đã "Nam tiến" để giúp quân dân miền Nam chống lại quân Pháp đang tấn công trở lại ở Nam Bộ. Riêng tại Nam Trung bộ, Nam bộ và cả Tây Nguyên cũng có những tổ chức vũ trang do các giáo phái hoặc các đảng phái quốc gia thành lập và lãnh đạo hợp tác với Việt Minh chống Pháp.
Ngày 22 tháng 5 năm 1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch nước, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. Quân đội tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội... Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, chính phủ đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị. Lực lượng này tồn tại trên toàn quốc, nhiều đội du kích nổi tiếng và còn dư âm đến tận bây giờ, tiêu biểu như du kích Nha Trang, du kích Ba Tơ, Bến Tre... Đến cuối năm 1946, có khoảng 1 triệu dân quân tự vệ đã được tổ chức và huấn luyện quân sự. Ngoài lực lượng Quân đội Quốc gia Việt Nam, tại miền Nam thời điểm này còn có các đơn vị quân sự khác do các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên và các đảng phái quốc gia như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng chỉ huy. Trong thời kỳ 1945-1950, có những người nước ngoài đã tình nguyện tham gia chiến đấu và các ngành khác như chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật, huấn luyện, quân y, quân giới, tuyên truyền... Nhiều người được giao trọng trách và phong quân hàm sĩ quan cao cấp. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng quân đội Việt Nam trong thời kì non trẻ. (Xem bài Chiến sĩ "Việt Nam mới").
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Đại đoàn 308
Năm 1949, hoàn thiện tổ chức tiểu đoàn bộ binh. Đơn vị này gồm 3 đại đội bộ binh, một đại đội hỏa lực mạnh. Có súng máy hạng nặng và súng cối.
Quân huy Quân đội Nhân dân Việt Nam
Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cần lưu ý là cùng thời gian này, một lực lượng bản xứ đã được thành lập trong chiến lược Da vàng hóa chiến tranh, cũng mang tên Quân đội Quốc gia Việt Nam. Quân đội này được thành lập dựa trên Hiệp định quân sự giữa Pháp và chính phủ Quốc gia Việt Nam (trực thuộc Liên hiệp Pháp) bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Quân đội Quốc gia Việt Nam tham chiến cùng quân đội Pháp chống lại Quân đội Nhân dân Việt Nam, và đây chính là tiền thân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau này. Do vậy, cần phân biệt rõ để tránh nhầm lẫn trong các giai đoạn sau.
Hầu hết các đơn vị bộ đội chủ lực được thành lập tại Việt Bắc, và từ sau năm 1949, nhiều đơn vị được huấn luyện tại các doanh trại của Trung Quốc ở Vấn Sơn (Wenshan), Long Châu (Long Zhou), Tĩnh Tây (Jing Xi) và Tư Mao (Szu Mao). Họ nhận được các trang thiết bị tốt hơn, các tuyến tiếp vận từ Trung Quốc vào Bắc Kỳ được phục vụ bằng một đội xe tải tăng lên đến gần 600 chiếc vào cuối năm 1953. Bộ đội chủ lực được huấn luyện kỹ lưỡng bởi các chuyên viên huấn luyện giàu kinh nghiệm của Trung Quốc, 261 chuyên viên cũng đã vượt biên giới vào Bắc Kỳ vào tháng 7 năm 1950 để thực hiện nhiệm vụ cố vấn. Gan dạ và được chỉ huy tốt, bộ đội chủ lực tạo thành một đạo quân vận động quy mô lớn dưới quyền trực tiếp của tướng Giáp và các cấp phó của ông.
Đội hình chủ lực đầu tiên là Liên Trung đoàn 308 được thành lập vào tháng 8 năm 1949, bao gồm các trung đoàn 308, 92 và 102. Đến cuối năm 1949, nó trở thành Đại đoàn 308, được bổ sung thêm các trung đoàn 174 và 209, từng được trang bị và huấn luyện tại Trung Quốc. Các sư đoàn bộ đội chủ lực có một phiên chế gồm 3 trung đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh; trong đó mỗi trung đoàn lại bao gồm 4 tiểu đoàn bộ binh và một đơn vị vũ khí hạng nặng (thông thường là 4 khẩu pháo 75mm, 4 khẩu cối 120mm). Các đơn vị hỗ trợ phát triển chậm chạp, bởi vì hầu hết pháo và cối hạng nặng đều được giữ lại để dành cho đội hình song song của đại đoàn "công pháo" được đánh số là 351. Quân số của sư đoàn ban đầu ở mức khoảng 12.000 người, và sau này được thiết đặt ở mức khoảng 10.000 người. Mỗi tiểu đoàn 800 người có 20 khẩu súng máy, 8 khẩu cối 82mm, 3 khẩu súng không giật 75mm và một số súng ba-dô-ka thêm vào cho các vũ khí loại nhỏ. Đến cuối năm 1951, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thành lập được các sư đoàn sau:
Đại đoàn 304 (gồm các trung đoàn 9, 57, 66 và tiểu đoàn pháo binh 345); Đại đoàn 308 (gồm các trung đoàn 36, 88, 102); Đại đoàn 312 (gồm các trung đoàn 141, 165, 209 và tiểu đoàn pháo binh 154); Đại đoàn 316 (gồm các trung đoàn 98, 174, 176 và đại đội vũ khí hạng nặng 812); Đại đoàn 320 (gồm các trung đoàn 48, 52, 64). Vào cuối năm đó, Đại đoàn 325 cũng được thành lập - ít nhất về mặt hành chính - từ các trung đoàn 18, 95 và 101 ở khu vực Thừa Thiên của Trung Kỳ.
Ngoài ra, còn có các trung đoàn độc lập tại Bắc Kỳ là: 148 (vùng trung du), 42, 46 và 50 (vùng châu thổ sông Hồng), 238 và 246 (bảo vệ các an toàn khu tại Việt Bắc); tại Trung Kỳ có các trung đoàn độc lập là 96, 108 và 803; còn tại Nam Kỳ có Trung đoàn Đồng Nai (các tiểu đoàn 301, 302, 303 và 304), Trung đoàn Đồng Tháp Mười (các tiểu đoàn 307, 309 và 311, hoạt động tại vùng Đồng Tháp Mười), Trung đoàn 300 (khu vực Phú Mỹ), Trung đoàn 950 (cho các chiến dịch đánh Sài Gòn), Trung đoàn Cửu Long (các tiểu đoàn 308, 310 và 312, hoạt động tại vùng Trà Vinh) và Trung đoàn Tây Đô (các tiểu đoàn 402, 404 và 406, hoạt động tại vùng Cần Thơ).
Đến năm 1953, các đơn vị của Đại đoàn Công pháo 351 gồm có: Trung đoàn Công binh 151, Trung đoàn vũ khí nặng 237 (cối 82mm), Trung đoàn pháo binh 45 (lựu pháo 105mm), Trung đoàn pháo binh 675 (sơn pháo 75mm và cối 120mm), và Trung đoàn phòng không 367 (pháo phòng không 37mm và súng máy cỡ đạn 50cal).
Các nguồn tư liệu đưa ra con số khác nhau về quân số của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nhưng vào đầu năm 1947 họ có tổng cộng khoảng 50.000 bộ đội chủ lực, 30.000 bộ đội địa phương và 50.000 dân quân du kích. Vào mùa hè năm 1950, khoảng 25.000 bộ đội địa phương được nâng cấp lên thành bộ đội chủ lực, đem lại cho tướng Giáp khoảng 60 tiểu đoàn chủ lực cho chiến dịch đầu tiên của ông. Những con số ước tính vào các năm kế tiếp như sau: đến cuối năm 1951 có 110.000 bộ đội chủ lực, từ 200.000 đến 250.000 bộ đội địa phương và dân quân du kích; mùa hè năm 1952 có 110.000 bộ đội chủ lực, 75.000 bộ đội địa phương và 120.000 dân quân du kích; mùa xuân năm 1953 có 125.000 bộ đội chủ lực, 75.000 bộ đội địa phương và 250.000 dân quân du kích.
Quân đội Nhân dân Việt Nam phất cao lá cờ chiến thắng trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đầu năm 1950, bộ đội chủ lực đã có những trung đoàn hoàn chỉnh, cũng đã thành thạo việc đánh công kiên. Biên chế các trung đoàn này đến nay vẫn còn như vậy, rất đặc trưng Việt Nam. Cũng thời gian này, để chuẩn bị thời phản công, các sư đoàn quan trọng được thành lập, đến nay vẫn là khối cơ động chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nhóm các đơn vị thuộc khối quân cơ động trung ương (thành lập 1950-1951) gồm các đại đoàn 304, 308, 312, 316, 320, 351. Sau này có thêm các đơn vị pháo binh, phòng không, pháo phản lực trong sư đoàn 351 như trung đoàn 237 (cối lớn), trung đoàn 367 (phòng không 37mm). Sư đoàn 351 còn dược gọi là bộ binh nặng, công pháo (công binh, pháo binh). Đại đoàn Bình Trị Thiên (sư 325) của thủ lĩnh Trần Quý Hai được thành lập ở miền trung. Để phù hợp với nhu cầu đánh lớn, đánh mạnh của cả quân đội, lần lượt các đơn vị cấp sư đoàn ở phía nam cũng được thành lập: "Đại đoàn" Ngự Bình 324, đại đoàn Quảng Ngãi 305 ở liên khu V, đại đoàn Đồng Nai 338, đại đoàn Bến Tre 330, cùng một số đơn vị cấp trung đoàn, tiểu đoàn độc lập.
Năm 1954, với thắng lợi của trận Điện Biên Phủ, đây là đội quân đầu tiên của một đất nước thuộc địa đánh bại một quân đội thực dân cũ trong lịch sử thế giới của thế kỷ 20. Sau năm 1954, bộ phận Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Nam (dưới vĩ tuyến 17) cùng với thành viên Việt Minh (khoảng 140 ngàn người) tập kết về miền bắc Việt Nam, và được chính quy hóa. Cuối chiến tranh, Quân đội Nhân dân Việt Nam có khoảng 24 vạn quân chủ lực và gần 1 triệu du kích.
Thiếu tá Bi-gia, đã có kinh nghiệm chiến trường chín năm liền ở Đông Dương, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ từ lúc xây dựng cứ điểm đến khi đầu hàng, đã bày tỏ sự kính trọng của mình đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam: "Tôi đã thấy họ khởi sự từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta".
TL
Bạn tham khảo :
QĐND - 1. Ngay sau khi ra đời, Đảng ta đã chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang (LLVT), thành lập quân đội công nông. Chánh cương vắn tắt năm 1930 của Đảng nêu rõ phải “Tổ chức ra quân đội công nông”. Trong thực tiễn các phong trào đấu tranh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng từ 1930 đến 1945, các đội tự vệ, các đội du kích vũ trang bằng giáo mác, gậy gộc đã được tổ chức để chống khủng bố, chống sự đàn áp của kẻ thù, bảo vệ phong trào, thúc đẩy cách mạng tiến lên. Tháng 12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, đáp ứng trực tiếp nhu cầu đấu tranh giành chính quyền của nhân dân ta trong Cách mạng Tháng Tám và bảo vệ chính quyền cách mạng sau khởi nghĩa thành công.
Sự ra đời và phát triển của LLVT nhân dân, của Quân đội nhân dân Việt Nam vừa tuân theo quy luật khách quan của lịch sử, mang tính tất yếu phổ biến, vừa mang đặc điểm, đặc thù dân tộc trong sự hòa quyện thống nhất giữa hai tính chất này, không tách rời. Tính phổ biến được biểu hiện cụ thể trong thực tiễn Việt Nam; tính đặc thù lại tuân theo những nguyên lý của tính phổ biến và làm phong phú thêm tính phổ biến, tăng lên sức sống lý luận Mác - Lê-nin về tính tất yếu tổ chức, xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản.
Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, một tổ chức vũ trang kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc, ra đời trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nhằm trực tiếp giành chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Trong điều kiện đó, nó còn đóng vai trò là lực lượng nòng cốt trong tư cách là một “tổ chức vũ lực” của “bà đỡ” cho “một xã hội cũ đang thai nghén một xã hội mới”. Ý nghĩa thực tiễn, vai trò cách mạng to lớn của quân đội kiểu mới thể hiện rất sâu sắc ở đó.
Quân đội nhân dân Việt Nam sau khi ra đời đã thể hiện rõ vai trò trong đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, được Đảng và nhân dân tin tưởng và yêu mến. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã hành quân ra trận và giành những chiến công quan trọng đầu tiên. Trận Phai Khắt ngày 25-12-1944 và trận Nà Ngần ngày 26-12-1944 đã mở đầu truyền thống chiến đấu anh dũng và vẻ vang của quân đội.
Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Quân đội ta còn nhỏ bé, nhiệm vụ chủ yếu là tuyên truyền, hỗ trợ lực lượng chính trị và vũ trang ở các địa phương, đẩy mạnh phong trào cách mạng; chiến đấu chống thực dân, phong kiến, làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành khởi nghĩa. Các đội viên của đội tỏa đi khắp các địa phương, tuyên truyền, vận động, tổ chức và huấn luyện hàng chục đội vũ trang ở địa phương, đây chính là lực lượng nòng cốt cho toàn dân trong khởi nghĩa từng phần và tổng khởi nghĩa. Chưa đầy một năm sau khi thành lập, từ đội quân còn hết sức nhỏ bé với muôn vàn khó khăn, song với ý chí quyết chiến quyết thắng, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, Quân đội ta đã lớn mạnh, là lực lượng nòng cốt, tin cậy của Đảng và nhân dân, cùng toàn dân làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Cách mạng Tháng Tám là cuộc Tổng khởi nghĩa do Đảng ta lãnh đạo; trong đó, lực lượng chính trị quần chúng giữ vai trò chủ yếu, quyết định; LLVT và đấu tranh vũ trang giữ vai trò quan trọng và làm nòng cốt. Đảng ta nhận định: Nếu trước đó "không xây dựng LLVT và thành lập những khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị, và khi điều kiện đã chín muồi không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng cũng không thể mau chóng giành được thắng lợi” .
Trong thời kỳ 1954-1975, đất nước tạm thời chia làm hai miền, nhân dân ta tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền, nhưng là cuộc đấu tranh do một dân tộc, một quân đội tiến hành, do một Đảng lãnh đạo. Qua 21 năm đấu tranh anh dũng, kiên cường, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã trải qua các giai đoạn: 1954-1960, chuyển chiến lược đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ tiến lên đấu tranh chính trị với phong trào Đồng Khởi; giai đoạn 1961 đến giữa năm 1965, đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”; giai đoạn giữa năm 1965 đến năm 1968, đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ”; giai đoạn 1969-1973, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”; giai đoạn 1973-1975, đánh bại hoàn toàn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quân và dân miền Bắc, đặc biệt là quân dân thủ đô Hà Nội, lực lượng phòng không không quân Việt Nam, đã anh dũng chiến đấu, vượt qua mọi khó khăn ác liệt, làm nên Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là sự hội tụ đến đỉnh điểm quyết tâm của quân dân cả nước nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đại thắng mùa Xuân 1975 đã viết nên bản anh hùng ca chói lọi về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, chứng minh sự lớn mạnh và sức mạnh vô địch của LLVT nhân dân, của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đại hội IV của Đảng khẳng định: “Đại hội nhiệt liệt biểu dương cán bộ, chiến sĩ các LLVT nhân dân anh hùng, suốt mấy chục năm ròng rã chiến đấu cực kỳ anh dũng, lập được những chiến công oanh liệt từ Điện Biên Phủ đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, làm rạng rỡ truyền thống vẻ vang của Quân đội ta, cùng với nhân dân viết nên bản anh hùng ca kỳ diệu của chiến tranh cách mạng Việt Nam”. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Quân đội ta là "quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng có tinh thần quyết chiến quyết thắng rất cao, xả thân vì nước, thông minh, sáng tạo”.
Quân đội đã góp phần xứng đáng vào việc giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc và định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm môi trường ổn định, hòa bình và an ninh cho sự phát triển đất nước; làm thất bại nhiều âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới đất nước; tham gia có hiệu quả vào hợp tác quốc tế về quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và an ninh đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực hiện chức năng đội quân sản xuất và công tác, quân đội đã tham gia có hiệu quả vào phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị-xã hội, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi biên giới, hải đảo của Tổ quốc; khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh; tích cực, chủ động tham gia tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, không ngừng củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân.
Trong bối cảnh đó, Đảng ta khẳng định tiếp tục thực hiện những mục tiêu, quan điểm, phương châm chỉ đạo nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) đã đề ra; bổ sung, phát triển chiến lược bảo vệ Tổ quốc phù hợp với tình hình. Đồng thời, nhấn mạnh phải thực hiện tốt “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; có kế sách ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”; thực hiện cho bằng được “kinh tế phải vững, quốc phòng phải...