K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

2 tháng 5 2018
  • Cung cấp nguồn điện lớn cho cả nước.
  • Điều tiết nước của các hệ thống sông, hạn chế lũ cực đại vào mùa lũ và cung cấp nước vào mùa cạn.
  • Diện tích mặt hồ rộng, tạo điều kiện thuận lợi nuôi trồng thủy sản.
  • Điều hòa khí hậu địa phương và là điểm du lịch cho nhiều du khách mỗi khi đến
2 tháng 5 2018

ý nghĩa các công trình thủy điện:
khai thác được trữ năng thuỷ điện: cao nguyên xếp tầng, 3 hệ thống sông lớn
đảm bảo năng lượng cho vùng, là cơ sở để phát triển công nghiệp của vùng, đặc biệt là công nghiệp khai thác, chế biến bô xít
phát triển thuỷ điện kết hợp thuỷ lơị giúp giải quyết nước tươí vào mùa khô và ít nhiêù điều tiết dòng chảy, kiểm soát lũ
->phục vụ đời sống kinh tế - xã hôị, an ninh - quốc phòng

2 tháng 5 2018

Thủy điện là nguồn điện có được từ năng lượng nước. Đa số năng lượng thủy điện có được từ thế năng của nước được tích tại các đập nước làm quay một tuốc bin nước và máy phát điện. Kiểu ít được biết đến hơn là sử dụng năng lượng động lực của nước hay các nguồn nước không bị tích bằng các đập nước như năng lượng thủy triều. Thủy điện là nguồn năng lượng có thể hồi phục.

Năng lượng lấy được từ nước phụ thuộc không chỉ vào thể tích mà cả vào sự khác biệt về độ cao giữa nguồn và dòng chảy ra. Sự khác biệt về độ cao được gọi là áp suất. Lượng năng lượng tiềm tàng trong nước tỷ lệ với áp suất. Để có được áp suất cao nhất, nước cung cấp cho một turbine nước có thể được cho chảy qua một ống lớn gọi là ống dẫn nước có áp (penstock).

Ngoài nhiều mục đích phục vụ cho các mạng lưới điện công cộng, một số dự án thủy điện được xây dựng cho những mục đích thương mại tư nhân. Ví dụ, việc sản xuất nhôm đòi hỏi tiêu hao một lượng điện lớn, vì thế thông thường bên cạnh nhà máy nhôm luôn có các công trình thủy điện phục vụ riêng cho chúng. Tại Cao nguyên Scotland đã có các mô hình tương tự tại Kinlochleven và Lochaber, được xây dựng trong những năm đầu thế kỷ 20. Tại Suriname, đập hồ van Blommestein và nhà máy phát điện được xây dựng để cung cấp điện cho ngành công nghiệp nhôm Alcoa.

Ở nhiều vùng tại Canada (các bang British Columbia,Manitoba, Ontario, Québec, Newfoundland và Labrador) thủy điện được sử dụng rất rộng rãi tới mức từ "hydro" đã được dùng để chỉ bất kỳ nguồn điện nào phát ra từ nhà máy điện. Những nhà máy phát điện thuộc sở hữu nhà nước tại các tỉnh đó được gọi là BC Hydro, Manitoba Hydro, Hydro One(tên chính thức "Ontario Hydro"), Hydro-Québec và Newfoundland và Labrador Hydro. Hydro-Québec là công ty sản xuất thủy điện lớn nhất thế giới, với tổng công suất lắp đặt năm 2005 đạt 31.512 MW.

- Việc xây dựng các công trình thủy điện ở Tây Nguyên đã giúp hàng ngàn hộ dân được sử dụng điện, góp phần rút ngắn khoảng cách vùng miền, từng bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Là đòn bẩy tích cực trong chiến lược nâng cao dân trí, phát triển kinh tế văn hoá vùng sâu, vùng xa của Đảng và Nhà nước.
- Bên cạnh đó, công trình thuỷ điện ở đây sau khi đưa vào vận hành khai thác, sẽ được hoà vào lưới điện quốc gia, góp phần ổn định lưới điện của các địa phương ở Tây NGuyên nói riêng và lưới điện quốc gia nói chung.

- Thế nhưng, cũng chính những công trình này đã đẩy nhiều danh thắng nổi tiếng vào tình trạng kêu cứu, ảnh hưởng đến môi trường và mất rừng. Việc triển khai nhiều dự án thủy điện ở khu vực này đã có những tác động tiêu cực tới môi trường sinh thái.

Ý nghĩa các công trình thủy điện ở Tây Nguyên:
- Khai thác được trữ năng thuỷ điện: cao nguyên xếp tầng, 3 hệ thống sông lớn
- Đảm bảo năng lượng cho vùng, là cơ sở để phát triển công nghiệp của vùng, đặc biệt là công nghiệp khai thác, chế biến bô xít
phát triển thuỷ điện kết hợp thuỷ lơị giúp giải quyết nước tươí vào mùa khô và ít nhiêù điều tiết dòng chảy, kiểm soát lũ
->phục vụ đời sống kinh tế - xã hôị, an ninh - quốc phòng

2 tháng 5 2018

dài quá

 

 Có thể khẳng định rằng, những công trình thủy điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) xây dựng đã làm tốt sứ mệnh của mình là khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Bên cạnh đó, các dự án này còn mang lại lợi ích kinh tế tổng hợp, chống lũ, chống hạn, cung cấp nước tưới cho nông nghiệp cũng như sinh hoạt của nhân dân, đóng góp nguồn ngân sách to lớn cho Nhà nước và địa phương, giúp làm thay đổi bộ mặt hạ tầng kỹ thuật, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Đã đến lúc chúng ta phải công bằng với thủy điện (Tạm kết)

Tiềm năng thủy điện Việt Nam

Việt Nam có diện tích đất liền và các đảo là 331.689 km2, trong đó 4/5 diện tích là núi và rừng. Bên cạnh đó, Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình trên toàn lãnh thổ vào khoảng 1.600 mm, phân bổ không đều theo thời gian và không gian, nhỏ nhất 1.100-1.300 mm, lớn nhất 4.000-4.200 mm. Lượng mưa tập trung từ tháng 5-6 đến tháng 10-11 hàng năm, chiếm khoảng 80-85% lượng mưa cả năm. Mô đun dòng chảy - lưu lượng dòng chảy trải đều trên 1 km2 diện tích trung bình khoảng 35-40 l/s.km2, lớn nhất 80 l/s.km2 và nhỏ nhất chỉ có 10 l/s.km2.

Hệ thống sông ngòi nước ta khá dày đặc, với mật độ 0,5-2 km sông suối trên 1 km2 diện tích lãnh thổ. Ngoài những hệ thống sông lớn như sông Hồng, sông Đà ở miền Bắc, sông Vũ Gia - Thu Bồn ở miền Trung, sông Sê San, Srêpốk ở Tây Nguyên, sông Đồng Nai và hạ lưu sông Mê Kông ở miền Nam, trên toàn lãnh thổ còn có rất nhiều hệ thống sông nhỏ và trung bình, với tổng số 2.171 con sông, chiều dài trên 10 km, hàng năm đổ ra biển khoảng 331 tỷ m3 nước (chưa kể sông Mê Kông).

Theo số liệu tính toán của Trung tâm Nghiên cứu và Thiết kế Thủy điện của Bộ Điện và Than (trước đây) trữ năng lý thuyết của tất cả các sông ngòi Việt Nam có chiều dài trên 10 km, được đánh giá khoảng 300 tỷ kWh. Sự phân bổ nguồn thủy năng của nước ta không đều. Nguồn thủy năng lớn nhất tập trung ở sông Đà (Tây Bắc) với mật độ thủy năng lên đến 2.642 nghìn kWh/km2. Ở miền Nam, sông Đồng Nai có trữ năng lớn thứ 2 cả nước (sau sông Đà), với mật độ thủy năng là 862 kWh/km2. Một số vùng khác mật độ thủy năng tương đối thấp như vùng Đông Bắc 461,6 nghìn kWh/km2, vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh là 583 nghìn kWh/km2, vùng duyên hải miền Trung là 754 nghìn kWh/km2. Tính chung trữ năng lí thuyết của miền Bắc đạt khoảng 181 tỉ kWh, chiếm trên 60 % trữ năng lí thuyết cả nước.

Theo đó, trữ năng kinh tế, kỹ thuật thủy điện của Việt Nam đạt khoảng 81,2 tỷ kWh. Tuy nhiên, theo tài liệu là kết quả làm việc giữa Viện Quy hoạch và Kinh tế Năng lượng của Bộ Năng lượng (trước đây) với Đoàn chuyên gia Liên Xô về thủy điện (năm 1984), trữ năng kinh tế thủy điện Việt Nam là 71,15 tỉ kWh (bao gồm 89 công trình trên 15 dòng sông chính, với tổng công suất 14.754 MW).

Có thể nói, mật độ trữ năng kinh tế, kỹ thuật của Việt Nam thuộc loại cao trên thế giới (bằng 247 nghìn kWh/km2 lãnh thổ), trong khi mật độ thủy năng của thế giới chỉ đạt khoảng 37 nghìn kWh/km2. Đó là lợi thế của nước ta để phát triển nguồn năng lượng sạch và kinh tế.

Quá trình phát triển thủy điện ở Việt Nam

Nhà máy thủy điện đầu tiên ở Việt Nam là thủy điện nhỏ Ankroet (600 kW), còn được gọi là Thủy điện Suối Vàng, do người Pháp xây dựng và cung cấp thiết bị tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (trước năm 1954). Sau đó, tại Buôn Mê Thuật, người Mỹ cho xây dựng thủy điện nhỏ Đray Hlinh, bên bờ sông Srêpốk. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, ở miền Nam, người Nhật cho xây dựng Nhà máy Thủy điện Đa Nhim (160 MW), với 4 tổ máy. Ở miền Bắc, với sự giúp đỡ của Liên Xô, Việt Nam đã xây dựng Nhà máy Thủy điện Thác Bà (108 MW), với 3 tổ máy trên sông Chảy. Như vậy, đây là 2 nhà máy thủy điện cỡ lớn đầu tiên của Việt Nam.

Sau ngày hòa bình thống nhất Đất nước, Đảng và Nhà nước chủ trương tập trung đầu tư xây dựng nguồn điện "ưu tiên phát triển thủy điện" (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV), quyết định đầu tư xây dựng công trình Thủy điện Hòa Bình trên sông Đà (1.920 MW) và công trình Thủy điện Trị An (400 MW) trên sông Đồng Nai.

Tiếp theo là các công trình thủy điện ở miền Trung được xây dựng như: Đray Hlinh (12 MW) trên sông Srêpốk, Vĩnh Sơn (66 MW) trên sông Kôn, Ialy (720 MW) trên sông Sê San, Plei Krông (100 MW) trên sông Sê San, Sông Hinh (70 MW) trên một nhánh sông Ba, A Vương (210 MW), Sê San 3 (260 MW), Sê San 4 (360 MW), An Khê - Kanăk (173 MW).

Các công trình trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn như: A Vương (210 MW), Sông Tranh 2 (190 MW), Sông Bung 2 (100 MW), Sông Bung 4 (156 MW). Ở miền Nam, sau Thủy điện Trị An, một loạt các công trình thủy điện khác được xây dựng như: Thác Mơ trên sông Bé (150 MW), Hàm Thuận - Đa Mi trên sông La Ngà (475 MW), Đại Ninh (300 MW) trên sông Đồng Nai.

Tiếp đó là các công trình Thủy điện Tuyên Quang (342 MW) trên sông Gâm, Ba Hạ (220 MW), Bản Vẽ (320 MW), Quảng Trị (64 MW), Bản Chát (210 MW), Huội Quảng (520 MW) cũng được đầu tư xây dựng.

Thời gian gần đây, ngành điện gần như dành hết nguồn lực, trí tuệ, tinh thần để tập trung vào hai công trình thủy điện lớn của đất nước vào chặng cuối cùng của sự nghiệp phát triển thủy điện. Đó là công trình Thủy điện Sơn La (2.400 MW) và công trình Thủy điện Lai Châu (1.200 MW) trên sông Đà.

Cho đến thời điểm hiện nay, cuối năm 2016, kể cả sau khi đã đưa vào vận hành Thủy điện Trung Sơn (260 MW), chưa kể Thủy điện Thượng Kon Tum (240 MW) là nhà máy thủy điện lớn cuối cùng đang được xây dựng, ngành điện đã hoàn thành 36 nhà máy thủy điện lớn (công suất lớn hơn 50 MW), với tổng công suất 13.000 MW, điện lượng sản xuất được 43,465 tỉ kWh, chiếm 24% điện lượng của hệ thống điện quốc gia.

Tính cả các nhà máy thủy điện do các tập thể và cá nhân ngoài ngành điện xây dựng, cả nước đã xây dựng được 79 nhà máy thủy điện (công suất từ 30 MW trở lên) với tổng công suất là 16.266 MW, tổng điện lượng là 56,732 tỉ kWh.

Nếu tính cả điện lượng của các nhà máy thủy điện nhỏ sản xuất thì tổng điện lượng thủy điện năm 2016 đạt 63,911 tỉ kWh, xấp xỉ bằng 90% trữ năng kinh tế và chiếm 35% tổng điện lượng của hệ thống - một con số hết sức ấn tượng và đầy ý nghĩa. Điều đó thể hiện chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc ưu tiên phát triển thủy điện. Đồng thời, thể hiện tinh thần dám nghĩ dám làm, đổi mới tư duy, sáng tạo của ngành điện trong việc vươn lên làm chủ các dự án thủy điện từ khâu khảo sát, thiết kế, thu xếp nguồn vốn, quản lý dự án, giám sát, nghiệm thu, đưa công trình vào vận hành khai thác.

Bên cạnh sự chủ động vươn lên của ngành điện, chủ trương của Nhà nước đã mở đường cho các ngành, các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng thủy điện.

Việc xây dựng thủy điện lớn trên các dòng sông lớn và sông chính cơ bản đã hoàn tất theo quy hoạch bậc thang các dòng sông. Tuy nhiên, trên các sông nhánh, hoặc sông nhỏ vẫn còn các thủy điện đang được xây dựng. Ngành điện đã và đang đầu tư mở rộng một số nhà máy thủy điện lớn có điều kiện mở rộng như: Thác Mơ, Đa Nhim, Hòa Bình, Ialy. Đồng thời tiến hành nghiên cứu để đầu tư xây dựng một số nhà máy thủy điện tích năng trong tương lai…

Vai trò và tầm quan trọng các dự án thủy điện của EVN

Các nhà máy thủy điện của EVN đóng vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống điện quốc gia. Năm 1990, khi nguồn điện còn hết sức hạn chế, tổng sản lượng điện của hệ thống đạt khoảng 8,7 tỷ kWh thì thủy điện đóng góp 5,4 tỷ kWh, chiếm tỉ trọng 62%. Năm 2000, sản lượng điện toàn hệ thống đạt 27,04 tỷ kWh thì thủy điện EVN cung cấp đến 14,537 tỷ kWh (54%). Năm 2010, toàn hệ thống phát được 100,07 tỷ kWh, thủy điện EVN cung cấp 22,964 tỷ kWh (23%). Năm 2016, tổng sản lượng điện của hệ thống là 182,9 tỷ kWh thì thủy điện EVN cung cấp 43,465 tỷ kWh (23,76%), vv… Qua một vài con số nêu trên để nói lên rằng, tuy đã có nhiều thay đổi về cơ cấu nguồn điện và đa dạng hóa thành phần cung cấp nguồn điện, nhưng thủy điện EVN vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp điện cho hệ thống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế.

Thủy điện EVN đóng vai trò chính trong việc chống lũ cho đồng bằng sông Hồng. Với dung ích cực lớn của 3 hồ chứa Thủy điện Hòa Bình, Sơn La và Lai Châu trên sông Đà lên đến gần 25 tỷ m3nước, có dung tích phòng chống lũ ở 2 hồ Hòa Bình và Sơn La (7 tỷ m3), có khả năng cắt các con lũ hàng năm và giữ được mức nước ở Hà Nội dưới 13,6 m theo quy định. Việc phối hợp chống lũ liên hồ Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang và Thác Bà làm cho mực nước ở đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội càng thêm an toàn.

Hồ chứa Thủy điện Bản Vẽ có dung tích chống lũ tương đối lớn nên nhiều năm nay đã cắt được lũ cho hạ du, đặc biệt là Thành phố Vinh không bị ngập. Các hồ chứa thủy điện trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, như: A Vương, Sông Tranh 2 và Sông Hinh, Sông Ba, vv… mặc dù không có dung tích phòng lũ nhưng nhiều năm nay đã vận hành theo đúng quy trình vận hành tích và xả nước, làm chậm lũ cho hạ du. Các hồ chứa thủy điện trên hệ thống sông Đồng Nai, đặc biệt là hồ chứa Thủy điện Trị An đã làm giảm lũ cho hạ du, đồng thời hạn chế xâm nhập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Các hồ chứa thủy điện EVN còn làm nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho hạ du. Vào mùa khô, hồ chứa Thủy điện Hòa Bình dành hàng tỷ m3 nước, chia làm nhiều đợt, cung cấp nước tưới cho trên 800 nghìn ha ruộng lúa của đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc. Hồ Hòa Bình còn cung cấp nước sinh hoạt cho Thủ đô Hà Nội. Ở miền Trung, hồ chứa công trình Thủy điện An Khê - Kanăk có một ý nghĩa đặc biệt - chuyển nước từ lưu vực thượng nguồn sông Ba ở Gia Lai sang lưu vực sông Kôn để bổ sung nước tưới cho hàng nghìn ha ruộng lúa của...

9 tháng 5 2018

nhà máy thủy điện Hòa Bình có vai trò rất quan trọng trong đất nước đó là nơi cung cấp nước cho đời sống người dân.

9 tháng 5 2018

Xây dựng nhà máy để sản xuất ra dòng điện phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân. Điều hòa nước tưới tiêu cho đồng ruộng. Ngăn chặn lũ lụt cho hạ du. Phát triển chăn nuôi thủy sản và du lịch trên lòng hồ Hòa Bình. Nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình là thành tựu nổi bật trong 20 năm, sau khi thống nhất đất nước. Là công trình tiêu biểu đầu tiên thể hiện thành quả của công cuộc xây dựng

~~hok tốt ~~

27 tháng 4 2018

+ Ngày 6/11/1979, nhà máy Thủy điện Hòa Bình được chính thức xây dựng

+ Ở trên dòng sông Đà, tỉnh Hòa Bình

+ Trong 15 năm

+ Liên Xô là người đã cộng tác với ta

27 tháng 4 2018

xay sau 15 nam cong tac la lien xo

Trường ca chinh phục sông Đà Sông Đà bắt nguồn từ vùng núi Vân Nam, Trung Quốc, chảy vào nước ta qua huyện Mường Tè của tỉnh Lai Châu. Do chảy trên vùng núi cao, có độ dốc lớn của miền Tây Bắc, nên Sông Đà được xếp vào loại “sông hung dữ bậc nhất ở Đông Dương” với trữ năng thủy điện dồi dào. Con người đã viết lên bản trường ca chinh phục sông Đà và ba nhà máy thủy điện...
Đọc tiếp

Trường ca chinh phục sông Đà Sông Đà bắt nguồn từ vùng núi Vân Nam, Trung Quốc, chảy vào nước ta qua huyện Mường Tè của tỉnh Lai Châu. Do chảy trên vùng núi cao, có độ dốc lớn của miền Tây Bắc, nên Sông Đà được xếp vào loại “sông hung dữ bậc nhất ở Đông Dương” với trữ năng thủy điện dồi dào. Con người đã viết lên bản trường ca chinh phục sông Đà và ba nhà máy thủy điện Hòa Bình, Sơn La và Lai Châu. Công trình huyền thoại Thủy điện Hòa Bình được hoàn thành 20-12-1994 sau 10 năm thiết kế, 15 năm xây dựng. Tham gia công trình có gần 40.000 cán bộ, kĩ sư, công nhân lao động, trong đó có gần 900 chuyên gia Liên Xô. Thủy điện Sơn La-bậc thang thứ hai trên dòng sông Đà, là công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á được xây dựng tại xã Ít Ong, huyện Mường La (Sơn La). Công trình này thể hiện sự trưởng thành vượt bậc của đội ngũ làm thủy điện Việt Nam. Thủy điện Lai Châu đặt tại xã Nậm Hàng (Mường Tè, Lai Châu), là bậc thang cao nhất và cũng là nốt nhạc cuối cùng của bạn trường ca chinh phục sông Đà. Dự kiến công trình sẽ được hoàn thành vào năm 2017. Một chuyên gia người Nga sau nhiều năm gắn bó với dòng sông Đà đã chia sẻ rằng ông bị ba công trình thủy điện trên dòng sông Đà “mê hoặc” vì chúng như ba nốt nhạc kỳ diệu đã và đang tiếp tục được viết nên bởi những người làm điện Việt Nam. (Theo Ngọc Loan)

a) Vì sao con người lại xây dựng các nhà máy thủy điện trên sông Đà? ……………………………………………………………………………

b) Công trình thủy điện nào là công trình được xây dựng đầu tiên? ………………………………………………………………………………………………………..

c) Em có suy nghĩ gì về khả năng chinh phục thiên nhiên của con người được thể hiện qua việc xây dựng những công trình thủy điện vĩ đại? ……………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………

0
11 tháng 11 2017

Thủy điện Lai Châu;Sơn La;Hòa Bình.

31 tháng 7 2018

Nguồn : Zing

Suốt cả quá trình hoạt động, Nguyễn Huệ Quang Trung rất chú ý tới con người xứ Nghệ. Đặc điểm riêng của điều kiện tự nhiên và truyền thống đấu tranh anh dũng lâu đời đã tạo cho người dân ở đây có được những bản lĩnh đáng quý là dám chịu hy sinh tất cả, một lòng một dạ ủng hộ những nghĩa cử anh hùng, chiến đấu để giành lại cuộc sống thanh bình, thịnh vượng cho quê hương, đất nước.

Nguyễn Huệ Quang Trung nhìn thấy rõ thế chiến lược của vùng đất Dũng Quyết, đã hạ chiếu: "Nay kinh đô Phú Xuân hình thế trắc trở, nay trị Bắc Hà, sự thế rất khó khăn. Theo đình thần nghĩ rằng: Chỉ đóng đô ở Nghệ An là độ đường vừa cân, vừa có thể khống chế được trong Nam ngoài Bắc và sẽ làm cho người tứ phương đến kêu kiện tiện việc đi về... Nhớ lại buổi hồi loạn kỳ trước, lúc qua Hoành Sơn. Quả cung đã từng mở xem địa đồ. Thấy ở huyện Chân Lộc, xã Yên Trường, hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng. Có thể chọn để xây dựng kinh đô mới, thực là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy”.

Vùng đất có hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng ở xã Yên Trường, huyện Chân Lộc là vùng đất nằm giữa núi Dũng Quyết và núi Kỳ Lân nay thuộc phường Trung Đô, TP Vinh. Nguyễn Huệ đã giao cho Trấn Thủ Thận và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiệp tổ chức xây dựng thành Phượng Hoàng Trung Đô.

Thành ngoài của Phượng Hoàng Trung Đô xây bằng đất, đá ong, hình tứ giác chu vi khoảng 2.820m, bờ thành cao từ 3-4 m, diện tích rộng 22 ha. Bao quanh phía ngoài thành có con hào rộng khoảng 30 m, sâu từ 2,5-3 m.

Thành nội xây bằng gạch vỗ và đá ong, chu vi 1.680 m cao 2 m. Trong thành nội có tòa lầu rộng 3 tầng, phía trước có bậc tam cấp bằng đá ong, phía sau có hai dãy hành lang nối liền với điện Thái Hòa là nơi dùng cho việc thiết triều của vua Quang Trung.

Chỉ hơn 1 năm sau, ngày 5/10 năm Kỷ Dậu, trong tờ chiếu gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, một lần nữa Nguyễn Huệ - Quang Trung khẳng định việc xây dựng bằng được Phượng Hoàng Trung Đô để đóng đô ở Nghệ An “Trẫm 3 lần xa giá Bắc Thành. Tiên sinh đã chịu bàn chuyện thiên hạ. Người xưa bảo rằng “một lời nói mà dấy nổi cơ đồ”. Tiên sinh hẳn có thế, chứ không phải là hạng người chỉ bo bo làm việc gần mình mà thôi... Trẫm nay đóng đô ở Nghệ An, cùng tiên sinh gần gũi. Rồi đây Tiên sinh hãy ra giúp nhau để trị nước...”.

Den tho Vua Quang Trung - diem nhan du lich thanh Vinh hinh anh 1
Đồng chí Vương Đình Huệ - Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Kinh tế Trung ương
dâng hương trước Đền thờ Hoàng đế Quang Trung.

Theo tư liệu trong các thư tịch còn giữ được, vua Quang Trung đã làm việc ở Phượng Hoàng Trung Đô ít nhất là hai lần.

Tiếc rằng, Vua Quang Trung đột ngột qua đời vào ngyà 29/7 năm Nhâm Tý (1792) nên chưa kịp dời đô từ Phú Xuân ra Phượng Hoàng Trung Đô.

Phượng Hoàng Trung Đô là chứng tích hào hùng thể hiện tầm nhìn văn hóa của Nguyễn Huệ Quang Trung trong quá trình đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng cuộc sống thái bình, ấm no cho dân tộc Việt Nam.

Đến đền thờ vua Quang Trung trên núi Dũng Quyết

Thể theo nguyện vọng của nhân dân, để tỏ lòng biết ơn vị anh hùng áo vải dân tộc, UBND tỉnh Nghệ An đã ra quyết định ngày 23/7/2004 xây dựng đền thờ Vua Quang Trung tại địa phận khối 2 phường Trung Đô, thành phố Vinh.

Đền tọa lạc trên đỉnh thứ 2 núi Dũng Quyết có độ cao 97 m so với mặt nước biển, thuộc vùng đất linh thiêng được vua Quang Trung chọn đóng đô cách đây hơn 220 năm. Công trình được khánh thành vào ngày 7/5/2008. Đền có qui mô lớn, khuôn viên rộng, kiến trúc đẹp; có tòa hạ điện, trung điện, thượng điện, tả vu, hữu vu, cổng tam quan, các đồ lễ tế khí … được phục chế theo văn hóa thời nhà Nguyễn.

Đây là một công trình văn hóa tâm linh gắn với du lịch, đáp ứng nhu cầu du khách trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng, tưởng niệm công ơn của Hoàng đế Quang Trung và thưởng ngoạn cảnh quan một vùng văn vật có sông núi hữu tình, vùng đất địa linh nhân kiệt giàu chất sử thi, đậm đà bản sắc xứ Nghệ. Đứng trên địa phận đền thờ vua Quang Trung chúng ta có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn được toàn cảnh thành phố Vinh, núi Hồng sông Lam, biển Cửa Lò, đảo Ngư, đảo Mắt, làng Tiên Điền quê hương đại thi hào Nguyễn Du, quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Den tho Vua Quang Trung - diem nhan du lich thanh Vinh hinh anh 2
Đền thờ hoàng đế Quang Trung (Núi Dũng Quyết, TP. Vinh). Ảnh: Sỹ Minh.

Toàn bộ ngôi đền được làm bằng gỗ lim. Lối đi, bó vỉa, sân đền được lát đá Thanh Hóa tạo nên vẻ uy nghi, hiện đại nhưng không kém phần cổ kính. Hệ thống vì kèo kết cấu của đền kiểu giá chiêng chồng rường, chạm khắc họa tiết theo phong cách thời Nguyễn. Mái lợp ngói mũi hài, gồm hai lớp: ngói chiếu, ngói cót, nền được lát gạch bát tràng kiểu cổ phục chế từ Hà Tây. Tường xây gạch bát, cửa đi, cửa sổ kiểu bức màn thượng song hạ bản...

Đền có hai lối ra vào ở hai bên, chính giữa là nghi môn ngoại (Nghi môn tứ trụ) được thiết kế kiến trúc kiểu 2 tầng 8 mái theo Dịch học.

Tiếp đó là bình phong tứ trụ được dựng ngay trên trục chính đạo, được làm bằng đá chạm trổ rất công phu và đẹp. Hai bên bình phong khắc triện gấm, ở giữa là cuốn thư, trung tâm có hai chữ Thọ Đế. Phía trên nữa là hình rồng chầu mặt nguyệt. Dưới cùng là chân quỳ dạ cá, chạm hổ phù. Hai bên có hai con nghê đứng chầu, tượng trưng cho vai trò người bảo vệ kiểm soát linh hồn người ra vào.

Den tho Vua Quang Trung - diem nhan du lich thanh Vinh hinh anh 3
Đền thờ vua Quang Trung trên đỉnh Dũng Quyết, một địa chỉ văn hóa mới dựng lại trên nền của di sản văn hóa Phương Hoàng Trung đô xưa.

Qua bình phong tứ trụ là hai nhà bia ngoảnh mặt vào nhau song song với trục chính đạo. Nhà bia phía bên trái khắc bài “Công trạng vua Quang Trung”, nhà bia bên phải khắc bài “Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về Quang Trung”. Nối tiếp là nhà tả vu, hữu vu.

Qua khu vực này là nhà bái đường rộng lớn còn gọi là tiền đường, nơi để sửa soạn lễ, chỉnh trang trước khi hành lễ. Nhà Tiền đường có thể được xem là trung tâm của ngôi đền được thiết kế theo lối kiến thúc dân gian Việt Nam gồm ba gian hai chái, với bốn hàng cột.

Các khu nhà hậu đường, nghi môn đều có kiến trúc hai tầng, tám mái, các đỉnh, góc mái chạm hình rồng phượng uốn cong tạo nên thế uy nghiêm. Theo luật phong thủy, việc bố trí như vậy để ngăn cản tà khí…

Đền thờ Quang Trung được khởi công xây dựng trong thời gian 3 năm, với tổng giá trị đầu tư xây dựng công trình hơn 22 tỷ đồng, do Công ty cổ phần xây dựng công trình văn hoá thuộc Bộ văn hoá - thông tin đảm nhận thi công. Đây là 1 trong 36 hạng mục công trình của quần thể di tích lịch sử Lâm viên núi Dũng Quyết.

Xứ Nghệ có nhiều cảnh sông núi hữu tình, nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng đã được nhiều người biết đến. Không chỉ có vậy mà hiện nay đến Nghệ An du khách không thể không đến thăm viếng đền thờ vua Quang Trung - một công trình văn hóa tâm linh với nhiều nét huyền bí uy nghi.

Từ ngày khánh thành, đền thờ vua Quang Trung đến nay đã có hàng nghìn du khách trong và ngoài nước đến thăm viếng. Các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Chính phủ như Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng… cũng từng đến viếng đền. Mỗi dịp Tết đến xuân về, hàng nghìn người thập phương đổ về đây để tế lễ và thưởng ngoạn cảnh đẹp của đất trời.

31 tháng 7 2018
  1. Núi Dũng Quyết có 4 chi: Long thủ (đầu rồng), Phượng Dực (cánh phượng), Kỳ Lân (con Mèo) và quy bối (con Rùa). Người xưa gọi đây là đất tứ linh bởi có đủ Long, Ly, Quy, Phượng. Núi Dũng Quyết từ buổi đầu dựng nước và giữ nước đã là vị trí yết hầu trên con đường thiên lý xuyên việt, trở thành căn cứ quân sự trọng yếu.
           Cuối thế kỷ XVII- thế kỷ XVIII chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng toàn diện và sâu sắc. Đất nước bị nội chiến chia cắt. Yên Trường (Vinh) là vị trí tranh chấp quyết liệt của tập đoàn Trịnh - Nguyễn. Đồn Thủy, Lũy Ông Ninh và vùng núi Dũng Quyết là đại bản doanh của chúa Trịnh Toàn. 
           Năm 1786, sau khi đánh tan quân chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Nguyễn Huệ- Người anh hùng áo vải đất Tây Sơn- lên ngôi Hoàng đế lấy tên hiệu là Quang Trung, đã kéo quân ra Bắc dẹp chúa Trịnh. Trong những lần nghỉ chân ở đất Nghệ An, thế đất và lòng dân của vùng Yên Trường đã được Hoàng đến Quang Trung đặc biệt quan tâm với “hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng có thể chọn để xây dựng kinh đô mới”. Nhà Vua cho rằng nếu đóng đô ở đây vừa“khống chế được trong Nam, ngoài Bắc, vừa tiện cho Người tứ phương đến kêu kiện đi về “. Như vậy “ trước là vì xã tắc sơn hà, thứ đến là vì lương dân trăm họ “ Hoàng đế Quang Trung đã quyết định chọn vùng đất Yên Trường để lập Phượng Hoàng Trung Đô. Công việc xây dựng kinh đô đang tiến hành dang dở thì Quang Trung băng hà. Mặc dù Kinh Đô chưa được xây dựng xong nhưng từ đây Vinh trở thành mốc son lịch sử được chọn làm Kinh Đô cho cả nước và cũng chính thức trở thành Trấn sở Nghệ An.

       Phượng Hoàng Trung Đô là kinh thành do Hoàng đế Quang Trung (tức Nguyễn Huệ, 1752-1792) cho xây dựng bên dòng sông Lam và núi Dũng Quyết (Nay là thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Việt Nam). Thành được xây vào năm 1788. Tại đây, vua Quang Trung đã tập trung 10 vạn quân trước khi tiến ra Bắc để giành lại thành Thăng Long lúc bấy giờ đang bị quân Thanh xâm chiếm. Ngôi thành này dự định được xây dựng để thay thế kinh đô Phú Xuân, được đặt tên theo ý nghĩa chim Phượng Hoàng, một loài chim trong truyền thuyết, có sức mạnh vô song, tung hoành trong trời đất. Trung Đô còn có ý nghĩa là kinh đô nằm giữa vùng lãnh thổ do Hoàng đế Quang Trung kiểm soát.

       Phượng Hoàng Trung Đô được xây dựng ở núi Dũng Quyết gồm có hai làn thành gọi là Thành ngoại và Thành nội, chu vi: 2820 m, diện tích: 22 ha. Phía ngoài có hào rộng 3 m, sâu 3 m, thành cao 3-4 m. Thành Nội xây bằng gạch vồ và đá ong, chu vi gần 1680 m, cao 2 m, cửa lớn mở ra hai hướng tây và đông. Trong thành nội có toà lầu rồng, cao 3 tầng, trước có bậc tam cấp bằng đá ong, sau có hai dãy hành lang nối liền với Điện Thái Hoà dùng cho việc thiết triều. Sách La Sơn phu tử nói rõ thêm: Núi Mèo (tức Kỳ Lân) làm nền cho đồn gác, thành phía Nam chấp vào núi ấy. Mặt Đông bắc lấy núi Quyết (Phượng Hoàng) làm thành. Cũng theo sách La Sơn phu tử, về kích thước của thành Ngoại, ngoài các vách núi làm bức luỹ tự nhiên, còn phải đắp bờ thành nam dài 300 m, bờ thành tây dài 450 m. Bề đứng ở những đoạn phải đắp cũng rất cao vì để hài hoà với vách núi.
       Để ghi nhớ công lao to lớn của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ- Hoàng đế Quang Trung, được Chính phủ cho phép - tỉnh Nghệ An và thành phố Vinh đã xây dựng Đền thờ Hoàng đế Quang Trung trên Núi Dũng Quyết, có ý nghĩa về lịch sử văn hóa, du lịch tâm linh, góp phần giáo dục truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Kế thừa truyền thống hào hùng của dân tộc, những người dân trên mảnh đất Phượng Hoàng Trung Đô đã nối tiếp nhau ra sức sản xuất, chiến đấu lập nên nhiều chiến công xuất sắc.
       Tháng 7/ 1924, Đảng Tân Việt đã được thành lập trên núi Con Mèo.
       Ngày 1/5/1930, một cuộc biểu tình đã nổ ra tại Ngã Ba Bến Thủy dưới chân núi Dũng Quyết mở đầu cho cao trào Xô - Viết Nghệ Tĩnh 30- 31.
       Tháng 6/1957, Bác Hồ về thăm Nhà máy điện Vinh dưới chân núi Dũng Quyết
      Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở vùng đất này đã xuất hiện những tập thể anh hùng như Nhà máy điện Vinh, Nhà máy gỗ Vinh, phà Bến Thủy...

        Di tích Núi Dũng Quyết và Phượng Hoàng Trung Đô mãi là niềm tự hào của nhân dân thành phố Vinh và nhân dân Nghệ An.

                                                                                Nhớ Tk cho mình ngen OK !

4 tháng 4 2018

khởi công:6/11/1979

khánh thành:20/12/1994

4 tháng 4 2018

15 năm nhé k nha

21 tháng 4 2018

A nha

mik nhanh nhất đó

15 tháng 4 2020

1. D.Nhựa

2. Sông Đà

Câu 1: Trong các vật dưới đây, vật nào cách điện?

A. Đồng           B. Sắt.         C. Nhôm.         D. Nhựa

Câu 2: nhà máy thuỷ điện Hoà Bình được xây dựng trên côn sông nào?

Trả lời:

Nhà máy Thủy điện Hoà Bình được xây dựng tại hồ Hòa Bình, tỉnh Hòa Bìnhtrên dòng sông Đà thuộc miền bắc Việt Nam. Đây là nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á từ năm 1994 đến 2012 (phá vỡ bởi Nhà máy thủy điện Sơn La). Nhà máy thủy điện Hòa Bình do Liên Xô giúp đỡ xây dựng và hướng dẫn vận hành.

P/s: (câu 2)Theo Wikipedia~

                                                              ~Học tốt!~

12 tháng 3 2018

1: quân địch 

2:bỏ đi

4: Ông

5:Ông

12 tháng 3 2018

( 1 ) : phản công 

( 2 ) : của ông 

( 3 ) :  Ông 

( 4 ) :  Ông 

TK mk nha !!!