Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Xuất thân: Nguyễn Dữ là con trai cả của Tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu, xuất thân trong một gia đình khoa bảng ở Hải Dương.
- Học vấn: Ông thông minh, chăm học, đọc nhiều, nhớ nhiều, có vốn hiểu biết rộng.
- Quan nghiệp: Sau khi đỗ Cử nhân, ông từng làm quan cho nhà Mạc, rồi về làm Tri huyện dưới thời nhà Lê nhưng không lâu sau thì xin cáo quan về ở ẩn núi rừng Thanh Hóa vì bất mãn với thời cuộc suy thoái.
- Cuộc đời ẩn dật: Ông trải qua nhiều năm sống ẩn dật, không đặt chân đến thị thành, an hưởng tuổi già bên sách vở và văn chương, thể hiện tinh thần độc lập, không màng danh lợi.
- Ưu thời mẫn thế: Dù ẩn dật, ông vẫn có tấm lòng ưu thời mẫn thế, quan tâm đến thời cuộc và số phận con người.
- Tư tưởng thân dân: Nguyễn Dữ có tư tưởng thân dân sâu sắc, thể hiện trong tác phẩm của mình.
- Lý tưởng sĩ phu: Ông thể hiện lý tưởng của người sĩ phu ẩn dật, lấy văn chương làm sự nghiệp, nối nghiệp gia đình.
- Tác phẩm chính: Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Truyền kỳ mạn lục, tập hợp 20 truyện ngắn viết bằng chữ Hán.
- Thể loại: Truyền kỳ là thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại, trong đó thế giới con người và thế giới cõi âm có sự giao thoa, tạo nên yếu tố kỳ ảo, li kì hấp dẫn.
- Nội dung: Truyện của Nguyễn Dữ thể hiện nhiều khía cạnh của đời sống, bao gồm:
- Phơi bày chế độ chính trị đen tối, đả kích thói xấu của quan lại.
- Nói lên số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
- Phản ánh đời sống và lý tưởng của con người.
- Lời bình: Một đặc điểm độc đáo của Truyền kỳ mạn lục là sự hiện diện của lời bình ở cuối nhiều truyện, thể hiện quan điểm, suy tư và tấm lòng của tác giả.
+ “Họ đều là những người nông dân nghèo thương con”. Nhưng tình thương con của mỗi người có biểu hiện và kết cục khác nhau: chị Dậu thương con mà không bảo vệ được con, phải bán con lấy tiền nộp sưu cứu chồng; lão Hạc phải tìm đến cái chết để giữ mảnh vườn cho con; còn ông Hai, khi nghe tin làng theo giặc lại lo cho con vì chúng nó cũng là con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...Rõ ràng, ông đặt tình cảm riêng trong mối quan hệ với làng, với nước; ông hiểu danh dự của mỗi con người – dù còn ít tuổi – cũng gắn với danh dự của làng, gắn với vận mệnh của đất nước.
+ “Họ đều có sức phản kháng, đấu tranh”. Trong hoàn cảnh xã hội trước Cách mạng tháng Tám, chị Dậu phản kháng một cách tự phát, để bảo vệ chồng trước sự dã man vô nhân đạo của những kẻ đại diện cho cái gọi là “nhà nước” bấy giờ. Còn ông Hai, ông có ý thức trách nhiệm với làng, có tinh thần kháng chiến rất rõ ràng: ông trực tiếp tham gia các hoạt động kháng chiến ở làng, ông muốn trở về làng để được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…khi đi tản cư ông vẫn lo cho các công việc kháng chiến ở làng.
- Đặc biệt, cần phân tích để thấy những chuyển biến “rất mới” trong tình cảm của ông Hai đối với làng. Ở ông Hai, “tình yêu làng mang tính truyền thống đã hòa nhập với tình yêu nước trong tinh thần kháng chiến của toàn dân tộc”.
+ Tình yêu làng thể hiện ở việc hay khoe làng của ông. Phân tích để thấy sự thay đổi ở việc khoe làng ấy: trước Cách mạng, ông khoe sự giàu có, hào nhoáng của làng; sau Cách mạng tháng Tám, ông khoe không khí cách mạng ở làng ông…Ông tin vào ý thức cách mạng của người dân làng ông cũng như thắng lợi tất yếu nếu giặc đến làng nên nghe giặc “rút ở Bắc Ninh, về qua làng chợ Dầu…” thì ông hỏi ngay “ta giết được bao nhiều thằng?”.
+ Tình yêu làng gắn với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin đồn làng theo giặc. Từ khi chợt nghe tin đến lúc về nhà, nhìn lũ con; rồi đến những ngày sau…nỗi tủi hổ ám ảnh ông Hai thật nặng nề, mặc cảm tội lỗi ngày một lớn hơn. Tình yêu làng, yêu nước của ông còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông thấy tuyệt vọng vì ở nơi tản cư có tin không đâu chứa người làng Chợ Dầu. Lòng trung thành với cách mạng, với đất nước thật mạnh mẽ, hiểu rõ những điều quý giá mà cách mạng đã mang lại cho mình cũng như trách nhiệm với cách mạng nên ông Hai đã quyết định dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
+ Tình cảm với kháng chiến, với cụ Hồ của ông Hai được thể hiện cảm động, chân thành khi ông tâm sự với đứa con út. Và, tinh thần kháng chiến, niềm tự hào về làng Chợ Dầu kháng chiến được thể hiện cụ thể khi ông Hai nghe tin cải chính về làng.
- Phân tích để thấy “nguyên nhân của những đổi thay rất mới đó ở nhân vật ông Hai”. Những đổi thay đó là do tác động của hoàn cảnh lịch sử. Sự mở rộng và thống nhất giữa tình yêu quê hương với tình yêu đất nước là nét rất mới trong nhận thức và tình cảm của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám mà nhà văn Kim Lân đã thể hiện qua nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy có được bởi cách mạng đã mang lại cho người nông dân cuộc sống mới, họ được giác ngộ và cũng có ý thức tự giác vươn lên cho kịp thời đại. Vậy nên, tầm nhìn, suy nghĩ của ông Hai đã được mở rộng, đúng đắn.
Đoạn trích:
*"Ở đâu năm cửa, nàng ơi?
Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng?
Sông nào bên đục bên trong?
Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh?
Đền nào thiêng nhất xứ Thanh?
Ở đâu lại có cái thành tiên xây?
Thành Hà Nội năm cửa, chàng ơi!
Sông Lục Đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng.
Nước sông Thương bên đục bên trong,
Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh.
Đền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh,"*
1. Thể loại của văn bản
- Thể loại: Văn bản tục ngữ – ca dao – dân ca (hoặc văn bản tản văn ca ngợi truyền thống, cảnh vật, địa danh).
- Trong văn học Việt Nam, đây là thể loại văn miêu tả – biểu cảm dân gian, dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu câu hỏi – trả lời.
2. Đặc điểm nghệ thuật của thể loại trong văn bản
- Câu hỏi – trả lời: Các câu hỏi mở đầu tạo nhịp điệu, lôi cuốn người đọc, rồi phần trả lời nêu danh thắng, địa danh, thần tích.
- Hình ảnh cụ thể, giàu tượng trưng: Mỗi địa danh đi kèm chi tiết đặc trưng (thành năm cửa, sông sáu khúc, núi thắt cổ bồng) → giúp người đọc hình dung sinh động.
- Ngôn ngữ dân gian, nhịp điệu tự nhiên: Dễ nhớ, dễ thuộc, mang tính truyền miệng.
- Ca ngợi và tôn vinh: Văn bản ca ngợi vẻ đẹp, sự thiêng liêng, giá trị văn hóa – lịch sử của đất nước.
3. Nội dung của văn bản
- Miêu tả và ca ngợi các danh lam, địa danh nổi tiếng: Thành Hà Nội, sông Lục Đầu, núi Tản Viên, đền Sòng.
- Nêu bật đặc trưng thiên nhiên, kiến trúc và thần tích đi kèm, thể hiện tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc.
4. Ý nghĩa rút ra
- Giáo dục lòng tự hào dân tộc, trân trọng văn hóa, lịch sử và các danh thắng của đất nước.
- Nhắc nhở thế hệ trẻ về giá trị truyền thống, tinh thần bảo vệ và gìn giữ quê hương.
- Gợi ý rằng việc nhận biết, hiểu và tôn vinh quê hương là cách giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
a, Phương thức : tự sự
b, tiền đúng là thứ khiến con người ta mù oán về nó, nó khiến con người mất hết lí trí. Nhiều người vì tiền mà còn hi sinh cả hạnh phúc. Đúng tiền có thể mua được vũ khí nhưng bình yên, hạnh phúc làm sao mà đem ra trao đổi bằng tiền được. Làm sao mà lấy tiền ra đem trao đổi, vì hòa bình là do con người tạo ra chứ không phải tiền.
c, không phải lúc nào tiền cũng có thể đem ra mua bán không phải lúc nào cũng cần dùng. Vì tiền chỉ là một tờ giấy, nó chỉ có giá trị với đồ vật nhưng lại không bao giờ có giá trị với tinh thần.
d, Từ khi đồng tiên có khả năng khiến cuộc sống bạn tốt hơn, bạn càng kiếm được nhiều tiền thì số tiền đó càng được phát triển nhiều hơn và nhanh hơn. Bên cạnh đó, bạn kiếm được càng nhiều tiền thì bạn càng có nhiều tự do: tự do để ở nhà chơi với bọn trẻ, tự do để được nghỉ ngơi và du lịch khắp thế giới hoặc tự do nghỉ việc nếu thật sự không thích. Nếu bạn có bất kỳ một nguồn thu nhập nào, bạn đã có thể bắt đầu vun đắp cho sự giàu có của mình ngay từ hôm nay. Có thể, mỗi lần bạn chỉ để dành được vài trăm ngàn đồng, nhưng mỗi sự đầu tư này là một viên gạch tạo nên nền tảng của sự tự do về tài chính của bạn.Kiếm được nhiều tiền không giúp bạn giải quyết được hết những vấn đề. Đồng tiền là một chiếc kính phóng đại, nó sẽ giúp bạn nhìn rõ hơn và thúc đẩy mọi việc. Nếu bạn không có khả năng kiếm được đủ tiền để trang trải thì cuộc sống của bạn sẽ thật tồi tệ. Nhưng vấn đề quan trọng không phải là số lượng tiền bạn kiếm được mà chính ở chỗ bạn đã được dạy cách tiêu tiền như thế nào.
Nhà triết gia Francis Bacon từng khẳng định: “Sách làm đầy đủ con người.” Quả thật, sách không chỉ là kho tàng tri thức, mà còn là nhịp cầu nối liền tâm hồn con người qua mọi thời đại. Mỗi trang sách mở ra như một cánh cửa nhiệm màu, đưa ta vượt qua ngưỡng thời gian và không gian để chạm đến những miền đất xa lạ, gặp gỡ những tâm hồn đã từng sống, từng yêu, từng đau khổ và từng hiến dâng. Có khi đó là ngọn đuốc sử thi, soi rọi những trận chiến, những khát vọng tự do và ý chí trường tồn; có khi lại là tiếng thở dài khẽ khàng trong những trang nhật ký, hé lộ sự mong manh, hữu hạn của kiếp người; và cũng có khi là lời ca ngân nga trong thơ, chở nặng thương nhớ, niềm tin cùng những giấc mơ chưa bao giờ tắt. Sách lưu giữ hộ ta những giọt lệ của nhân loại, đồng thời truyền lại ngọn lửa niềm tin và ý chí sống cho hôm nay. Đọc sách là đối thoại với muôn đời, là học cách đồng cảm với một con người xa lạ tận chân trời, là lắng nghe tiếng vọng của chính mình giữa vô biên tri thức và cảm xúc. Chính trong hành trình ấy, ta nhận ra một sự thật giản dị mà lớn lao: con người, dù cách biệt bao nhiêu về thời đại, văn hóa hay số phận, vẫn gặp nhau ở một điểm chung bất diệt – khát vọng sống, khát vọng yêu thương và khẳng định ý nghĩa đời mình. Và khi khép lại trang sách, ta mới hiểu: điều kỳ diệu nhất không phải là tri thức đã được lưu giữ, mà là sự sống trong ta vừa được đánh thức – sự sống biết cảm, biết nghĩ, biết yêu và biết nối dài ước mơ nhân loại.