Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Để giảm thiểu nguy cơ thừa cân, béo phì chúng ta cần:
- Kiểm soát cân nặng hợp lí.
- Xây dựng chế độ ăn uống phù hợp với thể trạng và độ tuổi.
- Thường xuyên vận động, thể dục thể thao.
- Ăn ngủ đúng giờ, lập kế hoach đồng hồ sinh học hợp lí, hiệu quả.
- Hạn chế thức ăn nhanh, chiên rán ngập dầu, chiên lại nhiều lần
-Kiểm soát cân nặng hợp lí
-Có chế độ ăn uống, ngủ nghỉ điều độ
-Thường xuyên tập luyện thể dục thể thao
Để có sức khỏe tốt em đã:
- Thường xuyên tập thể dục thể thao.
- Giữ gìn cơ thể sạch sẽ, vệ sinh cơ thể hàng ngày.
- Ăn uống đủ chất.
- Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng.
Giữ gìn cơ thể sạch sẽ, khoẻ mạnh lại có tác dụng phòng bệnh do virus vì khi cơ thể khỏe mạnh, hệ miễn dịch của cơ thể sẽ hoạt động tốt.
• Biện pháp để có sức khỏe tốt:
- Ăn uống khoa học, hợp lí, hợp vệ sinh.
- Tạo môi trường sống sạch, hạn chế tác nhân gây đột biến.
- Luyện tập, nghỉ ngơi khoa học, tinh thần thoải mái.
- Khám sức khỏe định kì.
• Giữ gìn cơ thể sạch sẽ, khỏe mạnh lại có tác dụng phòng bệnh do virusvì giữ gìn cơ thể sạch sẽ, khỏe mạnh giúp cơ thể tăng cường hệ miễn dịch chống lại tác nhân gây bệnh là virus.
1. Cổ con người cần cs cấu trúc giống con Cú hoặc không xương <== bất khả thi
2. Nếu con người đạt đến ngưỡng bất tử thì cơ thể sinh học của họ đã tiến hóa được mấy bậc so với ban đầu?( xem ALL TOMOROW, bạn sẽ biết cái giá nha!)
Khái niệm bậc tiến hóa không được sử dụng chính thức trong sinh học vì tiến hóa là một quá trình liên tục không có đích đến hay "bậc thang". Tuy nhiên, nếu dùng nó để mô tả một trạng thái bất tử sinh học (nghĩa là tế bào không lão hóa và có khả năng tự phục hồi vô hạn), thì sự thay đổi này sẽ là một bước nhảy vọt (qualitative leap) vô cùng lớn, có thể được coi là:
- Một kỷ nguyên tiến hóa mới: Nó sẽ là một thay đổi cấp độ ngang bằng với sự xuất hiện của tế bào nhân chuẩn hay sự chuyển đổi từ sinh vật đơn bào sang đa bào.
- Thay đổi về cơ chế sinh học cốt lõi: Để đạt được bất tử, cơ thể phải giải quyết được những vấn đề cơ bản như: rút ngắn Telomere (gây lão hóa tế bào), tích tụ đột biến DNA, và tổn thương ty thể. Việc giải quyết được những vấn đề này sẽ đánh dấu sự thay đổi toàn bộ quy trình sao chép và sửa chữa tế bào – một sự khác biệt cơ bản về mặt sinh học.
Trong bối cảnh khoa học viễn tưởng, có thể gọi đó là Bậc 2.0 hoặc một loài mới (ví dụ: gấu nước ( ngủ đông vĩnh hằng) hoặc sứa ( đánh đổi = trí tuệ để đạt đc trạng thái bất tử), vì nó đã vượt qua hạn chế cơ bản nhất của sự sống trên Trái Đất là cái chết do lão hóa.
3. Tại sao khi tiến hóa con người lại "bỏ quên" mắt, thái dương, mũi (sụn mũi), gáy – những nơi nguy hiểm nếu bị tác động?
Thực tế, tiến hóa không "bỏ quên" các bộ phận này, mà là ưu tiên những đặc điểm mang lại lợi thế sinh tồn và sinh sản lớn hơn:
- Đầu và khuôn mặt: Vùng này là nơi tập trung các giác quan và bộ não. Dù dễ bị tổn thương, khả năng nhìn, nghe, ngửi, và suy nghĩ mang lại lợi thế lớn đến mức đánh đổi sự dễ bị tổn thương là đáng chấp nhận.
- Mắt (nhãn cầu): Lớp bảo vệ duy nhất là xương hốc mắt mỏng và mí mắt. Việc có mắt nằm ở vị trí cho tầm nhìn rộng và 3D (quan trọng cho săn bắt và tránh nguy hiểm) được ưu tiên hơn là việc bao bọc nó bằng một lớp giáp dày đặc.
- Thái dương: Đây là nơi hợp nhất của bốn xương sọ và khá mỏng (xương cánh bướm), nhưng nó là điểm yếu ít bị va đập trực diện nhất. Về mặt tiến hóa, ưu tiên bảo vệ vỏ não (phần trên) và cuống não (phần dưới) là quan trọng hơn.
- Sụn mũi: Sụn mũi mềm dẻo giúp hấp thụ lực va đập tốt hơn là xương cứng, tránh làm gãy xương hộp sọ. Hơn nữa, mũi lồi ra để làm ấm và lọc không khí trước khi đưa vào phổi, một chức năng sinh tồn quan trọng.
- Gáy: Vùng này cần tính linh hoạt để đầu có thể xoay 180 độ. Nếu gáy được bảo vệ bằng xương dày đặc, khả năng di chuyển và phản ứng sẽ bị hạn chế, làm giảm khả năng thoát hiểm trong tự nhiên. Linh hoạt trong trường hợp này mang lại lợi thế lớn hơn là bảo vệ cứng nhắc.
Tóm lại, tiến hóa là một quá trình đánh đổi (trade-off): sự tối ưu hóa chức năng và tăng khả năng sinh tồn tổng thể thường được ưu tiên hơn là bảo vệ vật lý tuyệt đối của mọi bộ phận. ( VD: Hiện nay, 1 số bộ phận như ngón chân, tai, v.v. Bởi công nghê sẽ thay thế và lm bộ phận đấy k còn gtri và sẽ bị đào thải trong tương lai giống như đuôi hay xương ở bộ phận sinh sản.)
4. Nếu mắt có một hệ miễn dịch khác với cơ thể thì phải chăng ban đầu mắt từ đâu ra?
Câu hỏi này liên quan đến một hiện tượng sinh học có thật gọi là Đặc quyền Miễn dịch (Immune Privilege).
- Mắt có "Đặc quyền Miễn dịch": Mắt (cụ thể là tiền phòng và thủy tinh thể) không hoàn toàn không có miễn dịch, mà là có một hệ miễn dịch được điều chỉnh đặc biệt. Nó được gọi là "đặc quyền" vì cơ thể sẽ không gây ra phản ứng viêm mạnh trong mắt khi có vật lạ hoặc kháng nguyên.
- Lý do: Phản ứng viêm là cách cơ thể chống lại mầm bệnh, nhưng nó cũng gây sưng và tổn thương mô. Trong mắt, ngay cả một phản ứng viêm nhỏ cũng có thể gây mờ đục hoặc mù lòa vĩnh viễn. Vì vậy, tiến hóa đã tạo ra cơ chế để giảm thiểu phản ứng viêm tại đây, ưu tiên bảo toàn thị lực.
Về nguồn gốc của mắt:
- Việc có "đặc quyền miễn dịch" không có nghĩa là mắt có nguồn gốc khác biệt với phần còn lại của cơ thể. Mắt phát triển từ mô thần kinh và mô trung bì của phôi thai, giống như nhiều bộ phận khác.
- "Đặc quyền miễn dịch" là một sự thích nghi tiến hóa (evolutionary adaptation), một cơ chế sinh học được phát triển sau khi mắt đã hình thành, nhằm giải quyết vấn đề "làm sao để bảo vệ thị lực khỏi chính hệ miễn dịch của cơ thể".
Nói cách khác, mắt không "từ đâu ra" một cách biệt lập, mà là một cơ quan được tiến hóa với một chiến lược bảo vệ độc đáo để giữ gìn chức năng của nó.
( mình dùng CHATGPT để khái quát còn phần cuối cs 1 số cái là mình tự viết nha)
Trả lời:
- Men tiêu hóa thực chất là các enzyme có vai trò xúc tác cho quá trình phân giải thức ăn.
- Dưới tác động của các men tiêu hóa, thức ăn được cắt nhỏ các liên kết trong thức ăn trở thành các dạng nhũ tương giúp cho lớp niêm mạc ruột có thể hấp thụ một cách dễ dàng vào máu, nuôi dưỡng cơ thể.
Vì mỗi phân tử thì sẽ có một trung tâm hoạt động khác nhau để kết hợp với cơ chất nhất định, nên khi trung tâm hoạt động bị thay đổi hình dạng không phù hợp với cơ chất thì sẽ làm cho enzym trở nên bất hoạt và không thể thay đổi cơ chất
Khi sử dụng các loại thuốc tiêu diệt các loài động vật kí sinh (giun tròn) thường ảnh hưởng đến sức khỏe của con người hơn so với các loại kháng sinh được sử dụng để chữa bệnh do vi khuẩn gây ra là vì:
- Động vật kí sinh (giun tròn) và người đều là các sinh vật được cấu tạo từ các tế bào nhân thực nên cơ chế tác động của thuốc tiêu diệt các loài động vật kí sinh (giun tròn) ít nhiều cũng sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Ví dụ: Thuốc Fugacar được bào chế ở dạng viên nén nhai làm giảm hấp thu glucose, cạn dự trữ glycogen, giảm ATP nguồn cung cấp năng lượng cho kí sinh trùng. Tuy nhiên, dạ dày của người sử dụng cũng chịu tác dụng của thuốc.
- Trong khi đó, vi khuẩn là tế bào nhân sơ, có cấu tạo khác nhiều so với tế bào nhân thực. Do đó, người ta có thể điều chế các loại thuốc kháng sinh chỉ ảnh hưởng đến tế bào vi khuẩn mà không ảnh hưởng đến tế bào của người dựa trên những điểm sai khác đó.
- Protein tham gia cấu trúc lên các các bào quan và bộ khung tế bào, tham gia cấu tạo nên các enzyme xúc tác cho các phản ứng trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng trong tế bào. Do đó, nếu thiếu hụt protein, cơ thể sẽ không có nguyên liệu và năng lượng để xây dựng cơ thể, khiến cơ thể gầy yếu, chậm lớn.
Giải thích vì sao khi có phần ăn theo protein thì cơ thể đặc biệt là trẻ em thường gây yếu chậm lớn hay bị phù nề và dễ mắc bệnh truyền nhiễm
Tác hại khi cơ thể con người bị thiếu sắt, iod và calcium:
- Khi thiếu sắt cơ thể sẽ bị thiếu máu, trao đổi chất suy giảm, kém trí nhớ, hệ miễn dịch suy yếu, tạo ra các bệnh liên quan đến huyết áp,.. Phụ nữ mang thai có nguy cơ bị sảy thai.
- Khi thiếu iod gây bệnh bướu cổ, trí tuệ kém phát triển, giao tiếp kém, trao đổi chất kém, hay mệt mỏi,...
- Khi thiếu calcium sẽ gây ra các bệnh như còi xương, loãng xương,...; giảm chức năng của hệ miễn dịch,...ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thần kinh, rối loạn giấc ngủ, co giật cơ;