K
Khách
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Các câu hỏi dưới đây có thể giống với câu hỏi trên
PT
0
H
3
DT
9 tháng 3 2022
sự kiện trọng đại lịch sử :phong trào cách mạng nổ ra mạnh mẽ
dấu ấn của nhân dân Nam Kỳ
địa điểm ở Nghệ An và Hà Tĩnh
L
9 tháng 3 2022
Sự kiện: Lần đầu giai cấp công nhân VN biểu tình kỉ niệm ngày Quốc Tế Lao động, thể hiện tình đoàn kết cách mạng với nhân dân lao động thế giới
Có thể tham khảo thêm ạ!
Phong trào đấu tranh ngày 01/5/1930 đã mở đầu cho cao trào cách mạng 1930 - 1931. Lần đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng và hướng dẫn, vận động của Công hội đỏ, công nhân cùng nông dân mít tinh biểu tình kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5, đấu tranh đòi quyền lợi, bày tỏ tình đoàn kết với CNLĐ thế giới.


*Sự khác nhau giữa quan điểm của Darwin với Lamarck là: -Lamarck cho rằng: loài hươu cao cổ có cổ dài dần lên do thường xuyên vươn cổ để ăn lá cao, đặc điểm thu được trong đời sống được di truyền cho đời sau. -Darwin cho rằng: trong quần thể hươu ban đầu đã có biến dị về độ dài cổ, những cá thể cổ dài hơn có lợi thế sống sót và sinh sản, qua chọn lọc tự nhiên nhiều thế hệ hình thành loài hươu cao cổ cổ dài.
theo Lamarck:
hươu cao cổ vươn cổ ăn lá cao → cổ dài dần trong đời sống.
đặc điểm thu được do luyện tập (cổ dài) được di truyền cho đời sau.
theo Darwin:
ban đầu quần thể hươu đã có sẵn biến dị: con cổ dài, con cổ ngắn.
trong điều kiện thiếu thức ăn, hươu cổ dài sống sót và sinh sản nhiều hơn.
chọn lọc tự nhiên giữ lại hươu cổ dài → dần dần cả loài cổ dài.
-điểm khác nhau cốt lõi:
Lamarck: biến đổi do tập quán sống, di truyền đặc tính thu được.
Darwin: tiến hóa do chọn lọc tự nhiên tác động lên biến dị sẵn có.
Quan điểm của Darwin khác Lamarck ở chỗ: Darwin cho rằng loài hươu cao cổ có cổ dài là do chọn lọc tự nhiên: trong quần thể vốn đã có biến dị, những cá thể cổ dài hơn dễ sống sót và sinh sản, dần dần hình thành loài cổ dài. Lamarck cho rằng hươu vươn cổ nhiều để ăn lá cao, cổ dài ra trong đời sống cá thể và đặc điểm đó được di truyền cho thế hệ sau.
Tóm lại: Lamarck nhấn mạnh sự thay đổi chủ động của cá thể, còn Darwin nhấn mạnh chọn lọc các biến dị sẵn có trong quần thể
Quan điểm của Lamarck
Qua nhiều thế hệ → hình thành hươu cao cổ.
Cơ chế: Tập quán – sử dụng cơ quan nhiều thì phát triển.
Quan điểm của Darwin
Qua chọn lọc tự nhiên, hươu cổ dài ngày càng chiếm ưu thế.
Cơ chế: Biến dị di truyền + chọn lọc tự nhiên.
quan điểm landmark: ko có loài nào bị đào thải mà biến đổi dần để thích nghi với môi trường
quan điểm darwin: những loài ko thích nghi đc sẽ bị đào thải
Lamarck: Cho rằng hươu cổ ngắn thường xuyên vươn cổ để ăn lá cao nên cổ dài dần ra, và đặc điểm "cổ dài do tập luyện" này di truyền cho đời sau. Darwin: Cho rằng trong đàn hươu ban đầu đã có những con cổ dài và cổ ngắn (biến dị). Khi thức ăn dưới thấp khan hiếm, những con cổ dài có lợi thế sinh tồn cao hơn, truyền lại gene cổ dài cho thế hệ sau. Qua nhiều thế hệ, tỉ lệ hươu cổ dài chiếm ưu thế tuyệt đối.
Lamarck: Cho rằng hươu cổ dài là do tổ tiên chúng cố gắng vươn cổ để ăn lá trên cao, làm cổ dài ra và di truyền lại. Darwin: Cho rằng trong đàn hươu ban đầu có cả con cổ dài và cổ ngắn. Con cổ dài ăn được nhiều lá hơn, sống tốt hơn (chọn lọc tự nhiên), nên giữ lại được đặc điểm đó, còn con cổ ngắn bị chết dần.
Darwin cho rằng sự hình thành loài hươu cao cổ là kết quả của chọn lọc tự nhiên dựa trên các biến dị di truyền trong khi Lamrck cho rằng đó là kết quả của sự tập luyện và truyền lại các đặc điểm thu được
Theo Lamarck: Hươu cao cổ có cổ dài là do chúng thường xuyên vươn cổ để ăn lá trên cao. Đặc điểm cổ dài được tích lũy trong đời sống cá thể và di truyền lại cho thế hệ sau (sự di truyền các tính trạng mắc phải). Theo Darwin: Trong quần thể hươu cao cổ ban đầu đã tồn tại những cá thể có cổ dài tự nhiên do biến dị di truyền. Khi thức ăn khan hiếm, những cá thể cổ dài có lợi thế hơn trong việc kiếm ăn, sống sót và sinh sản. Chọn lọc tự nhiên đã giữ lại các cá thể cổ dài, loại bỏ các cá thể cổ ngắn, làm cho đặc điểm cổ dài trở nên phổ biến trong quần thể.
Lamarck cho rằng sinh vật chủ động thay đổi do nhu cầu môi trường và di truyền đặc điểm tập nhiễm, trong khi Darwin khẳng định tiến hóa diễn ra qua chọn lọc tự nhiên, giữ lại các biến dị ngẫu nhiên có lợi.
Quan điểm của Lamarck cho rằng :
—Nguyên nhân: do thay đổi tập quán hoạt động ( hươu vươn cổ để ăn lá trên cây cao).
—Cơ chế: cổ dài ra do vươn nhiều, đặc điểm này di truyền cho đời sau (sự rèn luyện).
—Vai trò ngoại cảnh: môi trường chủ động gây ra các thay đổi trên cơ thể sinh vật.
—Kết quả: mọi cá thể hươu đều biến đổi để có cổ dài hơn.
Quan điểm của Darwin cho rằng :
—Nguyên nhân: do sự xuất hiện của các biến dị cá thể khác nhau trong quần thể.
—Cơ chế : những con cổ dài lấy được thức ăn nên sống sót và sinh sản; con cổ ngắn bị đào thải (chọn lọc tự nhiên).
—Vai trò ngoại cảnh : môi trường đóng vai trò là bộ lọc, chọn lọc những cá thể có biến dị có lợi.
—Kết quả: chỉ những cá thể mang biến dị phù hợp mới tồn tại và hình thành loài mới.
Lamarck cho rằng hươu cổ dài ra do thói quen vươn cổ ăn lá cao và di truyền đặc điểm thu được. Trong khi Darwin(thuyết chọn lọc tự nhiên) cho rằng trong quần thể đã có sẵn biến dị cổ dài/ngắn, những con cổ dài thích nghi hơn nên sống sót và sinh sản nhiều hơn
Quan điểm của Lamarck
Nguyên nhân do điều kiện môi trường thay đổi thức ăn ở dưới thấp han hiếm hươu phải thường xuyên vươn cổ để ăn lá trên cao
Cơ chế việc tập quán sử dụng cơ quan làm cho cổ dài ra những đặc điểm thu được trong đời sống cá thể này sẽ di chuyển lại cho thế hệ sau
Kết quả trải qua nhiều thế hệ cổ hươu ngày càng dài ra. Lamarck cho rằng sinh vật chủ động thay đổi để thích nghi
Quan điểm của Darwin
Nguyên nhân trong quá trình hươu ban đầu đã tồn tại các biến dị di truyền ngẫu nhiên có con cổ dài có con cổ ngắn
Cơ chế khi môi trường thay đổi những con có biến dị cổ dài sẽ lợi thế lấy được thức ăn sống sót và sinh sản tốt hơn những con cổ ngắn không cạnh tranh được sẽ bị đào thải
Kết quả qua nhiều thế hệ các biến dị có lợi cổ dài được tích lũy và di truyền dẫn đến hình thành loài hươu cao cổ như ngày nay
Lamrck:
- Những con hươu cổ ngắn không ăn được lá cây trên cao ; Để ăn được lá, hươu phải vươn cao cổ ; Những biến đổi nhỏ trong cơ thể ( cổ dài ) được tích lũy dần thành những biến đổi lớn ,sâu sắc; Qua nhiều thế hệ hình thành loài hươu cao cổ.
Darwin:
- Quá trình sinh sản đã phát sinh nhiều biến dị sai khác về kích thước cổ giữa các cá thể thuộc loài hươu ; Cá thể hươu nào có cổ dài ăn được lá cây trên cao thì sống sót , còn những cá thể huơu cổ ngắn không ăn được lá trên cây cao thì sẽ chết; Qua nhiều thế hệ ,kết quả hình thành loài hươu cổ dài ăn được lá trên cây cao.
Quan điểm của Darwin :
- trong quần thể ban đầu đã có biến dị cá thể
- khi môi trường thay đổi chọn lọc tự nhiên giữ lại những con cổ dài
- qua nhiều thế hệ con cổ dài được tích lũy và hình thành loài hưu cao cổ ngày nay
Quan điểm của Lamarck
- do tập quán hoạt động hưu thường xuyên vươn cổ để ăn lá trên cao dẫn đến cổ dài dần
- biến đổi do môi trường và thói quen
- di truyền đặc tính thu được cổ dài do vuơn nhiều được truyền cho đời sau
Quan điểm của Lamarck
Nn :ngoại cảnh khôg đồng nhất và thường xuyên thay đổi./cơ chế TH: mỗi sinh vật luôn chủ động thích ứng với sự thay đổi của môi trường sống cách thay đổi tập quán hoạt động của các cơ quan.
Quan điểm của Darwin
Nn:đó biến dị cá thể là vô hướng./cơ chế TH:chọn lọc tự nhiên đào thải
Darwin nhấn mạnh chọn lọc tự nhiên dựa trên biến dị di truyền sẵn có, trong khi Lamac (Lamarck) tin vào sự nỗ lực cá nhân và di truyền các đặc điểm tập nhiễm (đời sau hưởng cổ dài do cha mẹ vươn
Darwin cho rằng không phải mọi biến đổi trên cơ thể đều được di truyền, tích luỹ mà chỉ có những biến dị di truyền có lợi cho bản thân sinh vật mới được chọn lọc tự nhiên giữ lại tạo điều kiện cho nó trở nên phổ biến trong loài
Về biến dị: Lamarck cho rằng hươu cổ ngắn chủ động vươn cổ để ăn lá trên cao khiến cổ dài ra (tập quán hoạt động). Ngược lại, Darwin cho rằng trong quần thể hươu ban đầu đã có sẵn các biến dị di truyền khác nhau (con cổ dài, con cổ ngắn). Về cơ chế tiến hóa: Lamarck tin vào sự di truyền các đặc tính thu được trong đời sống cá thể (cổ dài ra do vươn thì đời con sẽ có cổ dài). Darwin khẳng định sự tiến hóa thông qua chọn lọc tự nhiên: những con có biến dị cổ dài có lợi thế kiếm ăn sẽ sống sót và sinh sản tốt hơn. Về vai trò môi trường: Với Lamarck, môi trường thay đổi khiến sinh vật phải chủ động thay đổi để thích nghi. Với Darwin, môi trường đóng vai trò là bộ lọc, đào thải những cá thể có biến dị không phù hợp (cổ ngắn) và giữ lại những cá thể có biến dị phù hợp (cổ dài). Kết quả: Qua nhiều thế hệ, Darwin cho rằng các biến dị có lợi được tích lũy dần dần, dẫn đến sự hình thành loài hươu cao cổ như ngày nay.
Sự khác biệt đó là : quan điểm của Lamarck là vì tập tính và đi truyền còn Darwin là vì biến dị và chọn lọc tự nhiên
Quan điểm của Darwin về sự hình thành loài hươu cao cổ là do chọn lọc tự nhiên giữ lại những cá thể có đặc điểm thích nghi và kết quả hình thành loài mới thích nghi. Còn quan điểm của Lamarck là do sinh vật chủ động thích ứng với sự thay đổi của môi trường nên không có loài nào bị đào thải
quan điểm của Darwin khác Lamarck là ông cho rằng hươu cao cổ tiến hoá do chọn lọc tự nhiên còn Lamarck cho rằng hươu cao cổ tiến hoá do tập quán hoạt động, chịu sự tác động của ngoại cảnh
Quan điểm của Lamarck là sự di truyền các đặc tính đạt được còn quan điểm của Darwin là chọn lọc tự nhiên
- Quan điểm của Lamarck (Thuyết tiến hóa cổ điển):
- Ông cho rằng hươu cổ ngắn phải liên tục vươn cổ để ăn lá trên cao, làm cổ dài ra dần trong suốt cuộc đời của chúng.
- Những đặc điểm "tập quán" này được di truyền trực tiếp cho thế hệ sau (di truyền các đặc tính thu được).
- Quan điểm của Darwin (Thuyết chọn lọc tự nhiên):
- Quần thể hươu ban đầu đã có sẵn các biến dị di truyền khác nhau (con cổ dài, con cổ ngắn).
- Chọn lọc tự nhiên đóng vai trò sàng lọc: Những cá thể có cổ dài sẽ có lợi thế về nguồn thức ăn, sống sót tốt hơn và sinh sản nhiều hơn.
- Qua nhiều thế hệ, những cá thể mang biến dị có lợi (cổ dài) ngày càng chiếm ưu thế và tích lũy dần, dẫn đến sự hình thành loài hươu cao cổ ngày nay.
Bảng so sánh tóm tắt Đặc điểmQuan điểm của LamarckQuan điểm của DarwinNguyên nhân
Do sự thay đổi chậm chạp của ngoại cảnh hoặc tập quán hoạt động.
Do các biến dị cá thể xuất hiện ngẫu nhiên trong quá trình sinh sản.
Cơ chế
Sử dụng hoặc không sử dụng các cơ quan (vươn cổ).
Chọn lọc tự nhiên (đào thải cá thể yếu, giữ lại cá thể thích nghi).
Kết quả
Mọi cá thể trong loài đều biến đổi đồng loạt để thích nghi.
Chỉ những cá thể mang biến dị thích nghi mới được giữ lại và nhân rộng.
Sự khác nhau giữa quan điểm của Darwin với Lamarck là: -Lamarck cho rằng: loài hươu cao cổ có cổ dài dần lên do thường xuyên vươn cổ để ăn lá cao, đặc điểm thu được trong đời sống được di truyền cho đời sau. -Darwin cho rằng: trong quần thể hươu ban đầu đã có biến dị về độ dài cổ, những cá thể cổ dài hơn có lợi thế sống sót và sinh sản, qua chọn lọc tự nhiên nhiều thế hệ hình thành loài hươu cao cổ cổ dài.
Sự khác nhau giữa quan điểm của Darwin với Lamarck là:
-Lamarck cho rằng: loài hươu cao cổ có cổ dài dần lên do thường xuyên vươn cổ để ăn lá cao, đặc điểm thu được trong đời sống được di truyền cho đời sau.
-Darwin cho rằng: trong quần thể hươu ban đầu đã có biến dị về độ dài cổ, những cá thể cổ dài hơn có lợi thế sống sót và sinh sản, qua chọn lọc tự nhiên nhiều thế hệ hình thành loài hươu cao cổ cổ dài.
Darwin cho rằng sự biến dị ngẫu nhiên (cổ dài/ngắn) có sẵn trong quần thể, và chọn lọc tự nhiên chỉ giữ lại những con cổ dài có lợi.
Lamarck cho rằng hươu cao cổ là kết quả của việc tập luyện vươn cổ trong khi Darwin cho rằng đó là kết quả của việc sàng lọc những cá thể có lợi thế về chiều dài cổ trong tự nhiên
Quan điểm của Lamarck: Hươu cổ ngắn cố gắng vươn cổ để ăn lá cây cao, cổ dài thêm sau mỗi thế hệ dùng thừa thì phát triển, tính trạng thu được di truyền Quan điểm của Darwin: Trong quần thể ban đầu có hươu cổ ngắn và cổ dài, hươu cổ dài có lợi thế sống sót, sinh sản nhiều hơn, qua nhiều thế hệ đặc tính cổ dài được chọn lọc và giữ lại, hình thành loài hiện