K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

13 tháng 4

câu 1: Di tích lịch sử là những nơi lưu giữ lại dấu tích của quá khứ nó không chỉ mang lại giá trị về vật chất mà còn mang ý nghĩa tinh thần to lớn ,những câu chuyện hào hùng của dân tộc. Thế nhưng, hiện nay rất nhiều di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng do tác động của con người và môi trường. Để khắc phục tình trạng này, trước hết chúng ta cần nâng cao ý thức của mỗi người, đặc biệt là giới trẻ, trong việc giữ gìn và bảo vệ di sản bằng những việc như: không xả rác, không vẽ bậy hay làm hư hại các hiện vật. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách đầu tư hợp lí cho việc trùng tu, tôn tạo di tích một cách khoa học, giữ nguyên giá trị vốn có. Các cơ quan chức năng cũng cần tăng cường quản lí, xử lí nghiêm những hành vi vi phạm để răn đe. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ vào bảo tồn và quảng bá di tích cũng là giải pháp hiệu quả, giúp di sản đến gần hơn với mọi người. Là một học sinh, em nhận thấy bản thân cần có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn các di tích lịch sử, từ những hành động nhỏ như giữ vệ sinh chung khi tham quan, tìm hiểu và giới thiệu cho bạn bè về giá trị của di sản. Vì vậy chúng ta cần chung tay bảo vệ giữ gìn, mỗi người cần có ý thức, các di tích lịch sử sẽ luôn được bảo tồn và trường tồn cùng thời gian.

câu 2:

Bài thơ “Đường vào Yên Tử" của Hoàng Quang Thuận đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa thanh tịnh, đồng thời gợi lên chiều sâu văn hóa ,tâm linh của vùng đất thiêng Yên Tử. Bài thơ được viết theo thể thơ 7 chữ, tái hiện con đường hành hương lên Yên Tử với những dấu ấn của thời gian và con người.

" Đường vào Yên Tử có khác xưa

vẹt đá mòn chân lễ hội mùa

trập trùng núi biếc cây xanh lá

Đàn bướm tung bay trong nắng vàng"

ở 4 câu thơ đầu này tác giả đã miêu tả con đường đi đến Yên Tử với những dấu ấn vừa quen thuộc vừa mới mẻ. Câu thơ "Đường vào Yên Tử có khác xưa" gợi lên sự thay đổi theo và từ đó khiến chúng ta tò mò hơn về vẻ đẹp hiện tại. Sau đó là câu "vẹt đá mòn chân lễ hội mùa" gợi lên không gian Yên Tử là một nơi thiêng liêng , nơi mà có nhiều khác đến thăm quan thể hiện được sức thu hút lâu dài của Yên Tử.Hai câu tiếp theo mở rông được khung cảnh thiên nhiên với màu xanh trập trùng của rừng núi và hình ảnh " Đàn bướm tung bay trong nắng vàng" đầy sức sống, tạo nên không gian trong trẻo , tươi tắn rộn ràng mà vẫn thanh bình.

" cây rừng phủ núi thành từng lớp

muôn vạn đài sen mây đong đưa

trông như đám khói người Dao vậy

thấp thoáng trời cao những mái chùa."

ở 4 câu cuối này , vẫn là khắc hoạ vẻ đẹp của Yên Tử nhưng có gắn với tâm linh. Hình ảnh" cây rừng phủ núi thành từng lớp" tạo nên sự bao trùm dày đặc của thiên nhiên. Ở hình ảnh "muôn vạn đài sen mây đong đưa" sử dụng yếu tố tạo sự liên tưởng độc đáo , cảm giác thơ mộng và huyền ảo. Đặc biệt , có thêm hình ảnh" trông như đám khói người Dao vậy" tác giả đã đưa đời sống nhân dân vào bức tranh thiên nhiên làm cho cảnh vật thêm gần gũi và chân thực. Kết thúc bài bằng " thấp thoáng trời cao những mái chùa." làm cho bài thơ gợi lên điểm đến linh thiêng. Hình ảnh chùa ẩn hiện giữa mây không chỉ là một hình ảnh đẹp mà còn mang ý nghĩa giá trị sâu sắc về tâm linh trong đời sống.

Bài thơ được sử dụng ngôn ngữ tinh tế giàu tính biểu cảm tạo nên không gian thơ mộng vừa thực vừa ảo , ngoài ra kết cấu thơ chặt chẽ dẫn dắt người đọc từ cảnh vật đến cảm xúc về tâm linh . Có biện pháp tu từ được sử dụng là hình ảnh ẩn dụ miêu tả sinh độnglafm nổi bật vẻ đẹp của Yên Tử và những người tu hành đến nơi đây.

"Đường vào Yên Tử" là bài thơ không chỉ ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên mà còn thể hiện ý nghĩa sâu sắc về sự giác ngộ Phật pháp. Nghệ thuật tinh tế cùng nội dung giàu cảm xúc đã làm nên ý nghĩa giá trị của tác phẩm. Bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc về một Yên Tử linh thiêng, nơi con người tìm về bình an và giác ngộ.



13 tháng 4

Câu 1:

Hiện nay những di tích lịch sử đang dần bị suy thoái và hỏng hóc như chùa thầy (Hà Nội) bị hư hỏng do biến cố thời gian mà không được sử lí . Trước thực trạng ấy em mạnh dạng đưa ra một số giải pháp để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử.Về phía nhà nước cần đầu tư xây dựng và nâng cấp những di tích lịch sử quá xuống cấp. Ngoài ra các cơ quan chức năng cần quản lý chặt chẽ và xử lý nghiêm các hành vi phá hoại di tịch lịch sử. Nhà trường cần có những buổi ngoại khóa tuyên truyền cho học sinh về việc bảo vệ các di tích lịch sử. Cuối cùng mỗi chúng ta cần nâng cao ý thức bảo vệ và giữ gìn di tích khi tham quan không nên xả rác hay vẽ bậy làm hư hại các hiện vật quý giá. Tóm lại việc bảo vệ các di tích lịch sử là trách nhiệm của tất cả mọi người. Nên chúng ta cùng chung tay giữ gìn để các di tích sẽ luôn tồn tại

Câu 2:

Tác giả Hoàng Quang Thuận là một tác giả đa tài sự xuất sắc ấy được thế hiện một cách rõ nét qua bài thơ "Đường vào Yên Tử ". Bài thơ được sáng tác tại Thiền Viện Trúc Lâm khi ông hành hương đến viếng Phật Hoàng Trần Nhân Tông . Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú chữ đặc sắc . Tác phẩm nói lên vẻ đẹp hùng vĩ và thiêng liêng của vùng đất thiêng Yên Tử qua đó nói lên tình yêu ,sự tôn trọng thiên nhiên của tác giả .

Hai câu thơ đầu (câu đề) mở ra khung cảnh thiên nhiên của núi Yên Tử hiện lên một cách trân thực : "Đường vào Yên Tử có khác xưa; Vệt đá mòn chân lễ hội mùa " . Trước hết, con đường "có khác xưa " thể hiện sự lâu đời của Yên Tử qua bao năm tháng vẫn vẹn nguyên. Chi tiết "vệt đá mòn chân lễ hội mùa " nhằm nói lên sự đông đúc nhộn nhịp của những du khách đến với Yên Tử. Từ đó nhằm ca ngợi sự lâu đời và thiêng liêng của chốn Yên Tử .

Ở hai câu tiếp theo (câu thực) :"trập trùng núi biếc cây xanh lá ;Đàn bướm tung bay trong nắng trưa ". Hình ảnh "trập trùng núi, cây xăng, đàn bướm tung bay trong nắng " thể hiện khung cảnh thiên nhiên hiện ra một cách trân thực, tạo nên khung cảnh tươi sáng, thơ mộng.

Kế tiếp là hai câu luận :"Cây rừng phủ núi thành từng lớp; Muôn vạn đài sen mây đong đưa ". Hình ảnh "mây đong đưa ";"cây rừng phủ núi " thể hiện khung cảnh hùng vĩ ,thiêng liêng của Yên Tử khiến chúng ta có những cảm nhận trân thực về thiên nhiên Yên Tử .

Cuối cùng là hai câu kết :"Trông như đám khói người Dao vậy; Thấp thoáng trời cao những mái chùa ". Chi tiết "Đám khói người Dao " làm không gian thêm phần thiêng liêng và mờ ảo. Những mái chùa "thấp thoáng trời cao những mái chùa " càng làm nổi bật vẻ đẹp tâm linh của Yên Tử nơi gắn liền với tín ngưỡng của con người .

Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên Hùng vĩ với vẻ đẹp tâm linh của Yên Tử. Qua đó thế hiện thông điệp hãy biết trân trọng thiên nhiên gìn giữ những di tích lịch sử mà cha ông đã để lại .

Bài thơ không chỉ làm người đọc ấn tượng với nội dung mà còn làm người đọc ấn tượng với những nghệ thuật đặc sắc. Biện pháp tu từ ẩn dụ "đám khói người Dao " ẩn dụ về phong tục đốt lá cây rừng làm rẫy của người Dao từ đó nói lên sự tinh tế và hiểu biết sâu rộng của tác giả. Ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi giúp bài thơ thêm phần trân thực và sâu sắc .Thể thơ thất ngôn bát cú tạo âm điệu đặc sắc với luật bằng trắc đặc trưng kết hợp với vần lưng, vần chân tạo nên âm điệu trầm bổng phù hợp với không khí thiêng liêng huyền bí của Yên Tử .

Tóm lại, Đường vào Yên Tử không chỉ là bức tranh thiên nhiên đẹp mà còn là một hành trình sâu sắc của tác giả. Qua đó, Hoàng Quang Thuận đã thể hiện tình yêu thiên nhiên và sự trân trọng những di tích lịch sử linh thiêng




13 tháng 4

Câu 1:

Để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử, cần có những giải pháp đồng bộ và lâu dài. Trước hết, Nhà nước cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác trùng tu, bảo tồn, đồng thời kiểm tra, giám sát chặt chẽ để tránh việc tu sửa sai lệch làm mất đi giá trị nguyên gốc. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ di tích cho người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, để họ hiểu được ý nghĩa lịch sử và văn hóa của những công trình này. Việc quản lý khách tham quan cũng rất quan trọng, cần có quy định rõ ràng nhằm hạn chế các hành vi xâm hại như vẽ bậy, xả rác, phá hoại cảnh quan. Ngoài ra, có thể ứng dụng công nghệ hiện đại trong việc lưu trữ, số hóa dữ liệu di tích để phục vụ công tác bảo tồn và quảng bá. Cuối cùng, việc huy động sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội sẽ góp phần tạo nên sức mạnh chung trong việc gìn giữ và phát huy giá trị của các di tích lịch sử cho các thế hệ mai sau.

Câu 2:

Bài thơ “Đường vào Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận là một bức tranh thiên nhiên giàu chất thơ, đồng thời gợi lên không gian linh thiêng của chốn Phật giáo. Qua những vần thơ giàu hình ảnh, tác giả đã thể hiện vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của Yên Tử cùng với cảm xúc thành kính, hướng về cõi tâm linh.

Trước hết, bài thơ khắc họa con đường vào Yên Tử mang dấu ấn thời gian và con người. Hình ảnh “vẹt đá mòn chân lễ hội mùa” gợi lên dòng người hành hương đông đúc, bền bỉ qua năm tháng. Điều đó không chỉ cho thấy sự nổi tiếng của Yên Tử mà còn thể hiện truyền thống tín ngưỡng lâu đời của dân tộc.

Thiên nhiên Yên Tử hiện lên vô cùng sống động và giàu sức gợi. Những “trập trùng núi biếc”, “đàn bướm tung bay trong nắng trưa” tạo nên một khung cảnh vừa rộng lớn vừa tràn đầy sức sống. Đặc biệt, hình ảnh “cây rừng phủ núi thành từng lớp” kết hợp với “muôn vạn đài sen mây đong đưa” đã vẽ nên một không gian huyền ảo, thanh tịnh, đậm chất Phật giáo. Mây được ví như “đài sen” khiến cảnh vật trở nên thiêng liêng, thoát tục.

Không chỉ dừng lại ở đó, tác giả còn sử dụng phép so sánh độc đáo,“trông như đám khói người Dao vậy”. Hình ảnh này vừa gần gũi, chân thực, vừa giàu liên tưởng, góp phần làm nổi bật nét đặc trưng của vùng núi rừng. Kết thúc bài thơ là hình ảnh “thấp thoáng trời cao những mái chùa”, gợi cảm giác yên bình, linh thiêng, như dẫn dắt con người đến gần hơn với cõi tâm linh.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhiều biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ; nhịp thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển. Tất cả tạo nên một âm hưởng sâu lắng, phù hợp với không gian thiền định của Yên Tử.

Nhìn chung, “Đường vào Yên Tử” không chỉ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên mà còn thể hiện chiều sâu văn hóa và tâm linh của dân tộc. Bài thơ để lại trong lòng người đọc ấn tượng về một danh thắng vừa hùng vĩ vừa thanh tịnh, đồng thời khơi gợi niềm tự hào và ý thức trân trọng những giá trị truyền thống.

câu 1:

Để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ. Bảo tồn và phục hồi là ưu tiên, sử dụng vật liệu và kỹ thuật phù hợp. Nâng cao ý thức cộng đồng qua tuyên truyền, giáo dục. Quản lý chặt chẽ từ nhà nước, chính quyền địa phương về quy hoạch, kiểm soát, xử lý xâm hại. Phát huy giá trị gắn với du lịch bền vững, đầu tư cơ sở hạ tầng đi kèm bảo tồn, khai thác hợp lý. Ứng dụng khoa học công nghệ trong giám sát, phục hồi. Huy động nguồn lực xã hội từ các tổ chức, cá nhân. Xây dựng quy chế hoạt động rõ ràng. Sự phối hợp chặt chẽ là chìa khóa để di sản được bảo tồn.


13 tháng 4

câu 1:

Di tích lịch sử từ quá khứ còn lưu lại đến tận bây giờ là những công trình, đồ vật vô cùng quý giá và cần được con người bảo tồn, nhưng hiện nay nó đang bị xuống cấp nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Để hạn chế tình trạng này, trước hết ta cần nâng cao ý thức của cộng đồng, đặc biệt là những khách tham quan, thông qua tuyên truyền và giáo dục về giá trị của di sản. Mỗi người cần có trách nhiệm giữ gìn, không xả rác bừa bãi, không vẽ bậy hay làm hư hại công trình. Bên cạnh đó, Nhà nước cần đầu tư kinh phí hợp lý cho việc sửa chữa và bảo vệ, bảo tồn theo đúng nguyên tắc khoa học, tránh sửa chữa tùy tiện làm mất đi giá trị nguyên gốc. Việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong bảo quản, như số hóa dữ liệu hay giám sát bằng camera, là giải pháp khá hiệu quả nên áp dụng. Ngoài ra, cần tăng cường công tác quản lý, xử phạt nghiêm các hành vi xâm hại di tích. Cuối cùng, việc kết hợp bảo tồn với phát triển du lịch bền vững sẽ vừa tạo nguồn thu phát triển kinh tế, vừa góp phần duy trì và phát huy giá trị của các di tích lịch sử đến mọi người và đến sau này, chính vì thế mà ta hãy chung tay bảo vệ các di tích lịch sử nhé.

câu 2:

Yên Tử không chỉ là một danh thắng vĩ đại mà còn là "đất tổ" của Phật giáo Việt Nam. Viết về vùng đất thiêng liêng này, nhà thơ Hoàng Quang Thuận trong tác phẩm "Đường vào Yên Tử" đã phác họa một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa thanh tịnh, mang đậm màu sắc thiền định đẹp đẽ. bài thơ mang nét đặc sắc độc đáo mà tinh tế về nội dung. như đầu tiên tác giả đã khẳng định về vẻ đẹp vĩnh cửu của Yên Tử. Tác giả mở đầu bằng một câu hỏi tu từ đầy gợi cảm: "Đường vào Yên Tử có khác xưa". Câu hỏi không cần lời đáp, bởi ngay sau đó là những hình ảnh chứng minh sự trường tồn của cảnh vật. Hình ảnh "vẹt đá mòn chân lễ hội mùa" gợi lên sức sống mãnh liệt của một vùng đất tâm linh, nơi dấu chân người đi hội qua bao đời đã tạc vào đá núi. Bức tranh thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp đa tầng, đa sắc như: Màu sắc: Sự kết hợp giữa sắc "biếc" của núi, "xanh" của lá và sắc "trắng" tinh khiết của mây trời. bài thơ tràn đầy sức sống với hình ảnh "đàn bướm tung bay trong nắng trưa" mang lại nét sinh động, mềm mại cho sự uy nghiêm của núi rừng.Sự giao thoa văn hóa: Hình ảnh "đám khói người Dao" đốt lá làm rẫy tạo nên nét ấm cúng, gắn kết giữa thiên nhiên hùng vĩ và nhịp sống con người bản địa. Cuối cùng, linh hồn của bài thơ nằm ở hình ảnh "thấp thoáng trời cao những mái chùa". Nó cho thấy sự hòa quyện tuyệt đối giữa tôn giáo và thiên nhiên, nơi mái chùa không tách biệt mà ẩn hiện như một phần tất yếu của đất trời Yên Tử. Bên cạnh nội dung đặc sắc mang đậm nét thanh tịnh giản dị mà đẹp đẽ ấy là nét đặc sắc về nghệ thuật. đầu tiên ta phải kể đến bài thơ sử dụng thể thơ tự do với ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi hình.Tác giả không miêu tả chi tiết mà dùng những hình ảnh biểu trưng như "vẹt đá", "đài sen", "mái chùa" để tạo nên không gian cao rộng, thanh khiết. tác giả còn kết hợp biện pháp tu từ so sánh một cách tinh tế, so sánh hình ảnh "Muôn vạn đài sen mây đong đưa" là một sự liên tưởng thú vị. Mây không chỉ là hiện tượng thiên nhiên mà được thi vị hóa thành những đài sen – biểu tượng của Phật giáo, làm tăng thêm vẻ thiêng liêng cho vùng núi này. Nhịp thơ chậm rãi, nhẹ nhàng như bước chân của

12 tháng 4

câu 1

Di tích lịch sử là "cuốn sử sống" lưu giữ những giá trị văn hóa và tinh thần vô giá của dân tộc, nhưng hiện nay nhiều di tích đang đứng trước nguy cơ xuống cấp trầm trọng. Để bảo vệ những di sản này, chúng ta cần thực hiện các giải pháp đồng bộ. Trước hết, về phía nhà nước, cần có quy hoạch bảo tồn khoa học, thực hiện trùng tu định kỳ dựa trên nguyên tắc tôn trọng tối đa yếu tố gốc, tránh việc "làm mới" di tích một cách tùy tiện. Thứ hai, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, đưa ra những chế tài xử phạt thật nghiêm khắc đối với các hành vi xâm hại di tích như viết vẽ bậy, xả rác hay lấn chiếm đất đai. Thứ ba, giáo dục và tuyên truyền đóng vai trò then chốt. Khi cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, hiểu được giá trị của di sản, họ sẽ hình thành ý thức tự giác bảo vệ. Cuối cùng, cần đẩy mạnh xã hội hóa, kêu gọi nguồn lực đầu tư từ các doanh nghiệp và tổ chức để có ngân sách ứng dụng công nghệ hiện đại vào việc bảo tồn. Chỉ khi có sự chung tay của cả cộng đồng, những giá trị lịch sử mới có thể trường tồn cùng thời gian.

câu 2

Hoàng Quang Thuận là một hồn thơ gắn bó sâu nặng với vùng đất Phật linh thiêng. Trong tập "Thi vân Yên Tử", bài thơ "Đường vào Yên Tử" nổi lên như một bức tranh thủy mặc hữu tình, vừa mang vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, vừa đậm chất thiền định thanh tao. Về mặt nội dung, bài thơ mở ra bằng một cái nhìn hoài niệm nhưng đầy sức sống: "Đường vào Yên Tử có khác xưa / Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa". Hình ảnh "vẹt đá" không chỉ gợi tả sự trôi đi của thời gian mà còn minh chứng cho niềm tin bất diệt của con người qua nhiều thế hệ hành hương. Thiên nhiên Yên Tử hiện lên với những gam màu tươi sáng, tràn đầy nhựa sống: núi biếc, cây xanh lá, và những đàn bướm dập dìu trong nắng trưa. Đặc biệt, câu thơ "Muôn vạn đài sen mây đong đưa" là một liên tưởng nghệ thuật độc đáo. Những đám mây trắng lững lờ trên đỉnh núi được ví như những tòa sen, tạo nên một không gian thoát tục, đưa con người rời xa chốn bụi trần. Hình ảnh "đám khói người Dao" và "thấp thoáng mái chùa" ở cuối bài như một nốt trầm mặc, khẳng định sự hòa quyện tuyệt đối giữa con người, thiên nhiên và đời sống tâm linh. Về mặt nghệ thuật, tác giả sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu tính tạo hình. Các từ láy như "trập trùng", "đong đưa", "thấp thoáng" được sử dụng tinh tế, tạo nên nhịp điệu nhẹ nhàng như hơi thở của núi rừng. Bút pháp chấm phá đặc trưng của thơ ca truyền thống được kết hợp với phép so sánh hiện đại, khiến bức tranh Yên Tử vừa gần gũi, vừa lung linh huyền ảo. Tóm lại, qua bài thơ, Hoàng Quang Thuận không chỉ miêu tả một danh thắng mà còn gửi gắm vào đó lòng thành kính và sự trân trọng đối với di sản văn hóa dân tộc. Bài thơ giúp người đọc cảm nhận được sự bình yên trong tâm hồn và khơi dậy ý thức gìn giữ vẻ đẹp của "đất tổ" Phật giáo Việt Nam.

Câu1:

Đoạn văn

Để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử, cần thực hiện những giải pháp thiết thực và lâu dài. Trước hết nhà nước nên tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác trùng tu, bảo tồn theo đúng nguyên tắc khoa học, tránh sửa chữa tùy tiện làm mất đi giá trị nguyên gốc. Bên cạnh đó cần ban hành các luật pháp để bảo vệ các di tích xử lý nghiêm các hành vi gây tổn hại đến các di tích, tích cực tuyên truyền và giáo dục cho người dân. Giúp họ hiểu hơn về tầm quan trọng của các di tích lịch sử, văn hóa. Ngoài ra việc kết hợp giữa du lịch và giữ gìn là hướng đi hiệu quả, nâng cao ý thức bảo vệ , Giữ gìn. các địa phương cũng nên huy động bảo vệ và gìn giữ. Chỉ khi có sự chung tay đoàn kết của xã hội thì các di tích lịch sử mới được giữ gìn lâu dài cho các thế hệ mai sau.


13 tháng 4

Câu 1:

Từ trước đến nay, các di tích lịch sử luôn đóng vai trò là "trang sử sống" lưu giữ bản sắc dân tộc Việt Nam. Nhưng giờ đây, các di tích ấy lại đang bị xuống cấp nghiêm trọng,đòi hỏi chính quyền cần khẩn cấp thực hiện các biện pháp giữ gìn, bảo tồn hay tôn tạo,hạn chế sự xuống cấp của các di tích . Vậy, để hạn chế sự xuống cấp đó ,mỗi người trong chúng ta cần làm gì? Trước hết,đối với chính quyền, cần tăng cường nguồn vốn từ ngân sách, tu bổ nhưng vẫn giữ được nguyên trạng. Năm 2025, dự án trùng tu quần thể di tích quốc gia Đền Đuổm , Thái Nguyên là minh chứng tích cực cho việc bảo tồn văn hóa. Việc trùng tu không làm mất đi vẻ đẹp vốn có, vẫn giữ được giá trị văn hóa của dân tộc Việt. Bên cạnh đó, cũng cần nâng cao trách nhiệm quản lý ở địa phương , xử lý nghiêm các hành vi phá hoại di tích. Đối với xã hội, cần tuyên truyền trách nhiệm bảo vệ các di tích cho người dân, vận động người dân tiến hành dọn dẹp xung quanh các khu di tích để đảm bảo mĩ quan. Còn đối với mỗi cá nhân, cần nhận thức được trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ của mình đối với các di tích lịch sử, lên án , tố cáo các hành vi phá hoại di tích.Có thể thấy rằng, việc bảo vệ các di tích lịch sử đang là một vấn đề cấp thiết trong đời sống hiện đại. Mỗi cá nhân cần có ý thức bảo vệ và giữ gìn di tích lịch sử để những di tích ấy trở thành niềm tự hào và cũng là cội nguồn cho thế hệ mai sau.

Câu 2:

Hoàng Quang Thuận là nhà thơ nổi tiếng với giọng thơ lãng mạn nhưng sâu lắng về thiên nhiên và văn hóa tâm linh. Bài thơ "Đường vào Yên Tử" được sáng tác theo thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật là một minh chứng rõ ràng bởi nó đã đã khắc họa được vẻ đẹp non thiêng vốn có của núi Yên Tử. Với bút pháp tả cảnh tinh tế và hình ảnh thơ giàu sức gợi, bài thơ đã gây ra ấn tượng mạnh mẽ cho độc giả.

Bài thơ "Đường vào Yên Tử" của Hoàng Quang Thuận là một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp mang đậm tình yêu thiên nhiên của ông. Bài thơ mở đầu với khung cảnh tấp nập của chốn đây "Đường vào Yên Tử có khác xưa /Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa." Nhà thơ gợi lên sự so sánh giữa Yên Tử trong quá khứ - chốn tu tâm thiền tịnh và Yên Tử hiện tại -đã được tôn tạo. Sự khác biệt ở đây không phải là làm mất đi vẻ đẹp vốn có mà là sự phát triển dễ tiếp cận hơn. Hình ảnh "vẹt đá mòn chân" thể hiện dấu ấn thời gian hằn lên từng vệt đá, mang theo sự thành tâm của du khách khi leo núi, tạo ra sự gắn bó thân thuộc giữa vùng đất thiêng với con người .Đến hai câu thơ tiếp theo "Trập trùng núi biếc xanh cây lá /Đàn bướm tung bay trong nắng trưa" nhà thơ đã miêu tả được cảnh sắc hùng vĩ, thanh bình và tràn đầy sức sống của núi thiêng Yên Tử vào buổi trưa. Hình ảnh đàn bướm tung bay trong nắng càng làm cho câu thơ thêm sinh động, gợi cảm, thể hiện vẻ đẹp kì vĩ nên thơ của vùng đất này. Tiếp đến là hai câu thơ "Cây rừng phủ kín thành từng lớp, muôn vàn đài sen mây đong đưa" gợi nên vẻ kì vĩ, bên cạnh đó là sự kết hợp của hình ảnh "muôn vàn đài sen" và "mây đong đưa" tạo cho người đọc cảm giác thanh tịnh chốn Thiền môn. Đối với hai câu kết: "Trông như đám khói người Dao vậy /Thấp thoáng trời cao những mái chùa". Câu thơ đã sử dụng phép tu từ so sánh độc đáo . Khói nơi núi rừng Yên Tử được ví với khói bếp của người Dao gợi lên sự ấm áp, mộc mạc của núi rừng .Hình ảnh những mái chùa thấp thoáng gợi lên vẻ đẹp mơ hồ, ẩn hiện càng làm tăng vẻ linh thiêng nơi Yên Tử thiền tịnh. Có thể nói, bài thơ "Đường vào Yên Tử " là một tuyệt tác về non thiêng Yên Tử kì vĩ, gợi nên vẻ đẹp hài hoà, thiêng liêng và cổ kính .Qua đây, ta cũng thấy được tình yêu say đắm non thiêng Việt Nam của tác giả Hoàng Quang Thuận.

Không chỉ dừng lại ở phần nội dung đặc sắc, bài thơ "Đường vào Yên Tử" của Hoàng Quang Thuận còn mang đến những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc .Bài thơ còn sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa "mây đong đưa" trong câu thơ "Muôn vàn đài sen mây đong đưa" làm tăng vẻ kì vĩ và thanh tịnh của Yên Tử. Với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bài thơ luôn tuân thủ bố cục, cách gieo vần và luật bằng trắc. Về cách ngắt nhịp, các câu thơ trong bài ngắt nhịp 3/4 tạo sự uyển chuyển, ngôn ngữ thơ nhẹ nhàng mà sâu lắng, hình ảnh thơ cũng giàu sức gợi hình, gợi cảm.

Bài thơ "Đường vào Yên Tử " của nhà thơ Hoàng Quang Thuận là một bức tranh nên thơ nhưng cũng đầy hùng vĩ, tràn đầy sức sống của non thiêng Yên Tử. Bài thơ cũng là lời khẳng định chắc chắn giá trị bền vững của Yên Tử trong lòng người đọc và trong nền văn hóa Việt Nam.

13 tháng 4

Câu 1:

Di tích lịch sử là những công trình có giá trị quan trọng nên cần được bảo vệ để tránh bị xuống cấp.Trước hết nhà nước cần quan tâm đầu tư kinh phí để sửa chữa và cần có quy định rõ ràng quản lý chặt chẽ để ngăn chặn các hành vi làm hại đến di tích lịch sử ví dụ như: vẽ bậy, phá hoại,... bên cạnh đó ý thức của người dân và khách tham quan cũng rất quan trọng, mỗi người cần phải có ý thức giữ gìn vệ sinh, không xả rác , không làm ảnh hưởng đến các di tích chung. Chúng ta có thể áp dụng một số biện pháp như: lắp camera, đặt biển báo nhắc nhở,... để nâng cao hiệu quả bảo vệ . Vì vậy việc khai thác du lịch cùng cần được hợp lí, tránh làm ảnh hưởng đến di tích. Nếu thực hiện tối các biện pháp trên các di tích lịch sử sẽ bảo tồn được lâu dài.

Câu 2:

Bài thơ Đường vào Yên Tử của Hoàng Quang Thuận đã viết lên vẻ đẹp của con đường Yên tử bằng hình ảnh dản dị mà gợi cảm.qua đó người đọc cảm nhận được thiên nhiên nơi đây rất tươi đẹp và thanh tịnh.

Bài thơ đã tái hiện lại bức tranh thiên nhiên yên tử đầy vẻ đẹp. Những hình ảnh như "trập trùng suối biếc"," cây xanh lá", đàn bướm tung bay " đã gợi lên hình cảnh núi rừng rộng lớn, xanh tươi và giàu sức sống. Vẻ đẹp thiên nhiên hiện ra đầy hùng vĩ vừa gần gũi. Bên cạnh đó, cảnh vật mang vẻ đẹp huyền ảo qua hình ảnh"muôn vạn đài sen mây đong đưa ", khiến người đọc liên tưởng đến chốn bồng lai tiên cảnh. Hình ảnh"thấp thoáng trời cao những mái chùa " đã làm nổi bật yếu tố tâm linh, cho thấy yên tử không chỉ đẹp ở phong cảnh mà còn là nơi linh thiêng. Bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu nhưng giàu hình ảnh , bài thơ có sử dụng biện pháp so sánh"trông như đám khói người Dao vậy " đã tạo nên nét độc đáo, giúp người đọc dễ hình dung cảnh mây núi bồng bềnh. Nhịp thơ nhẹ nhàng, chậm rãi phù hợp với không gian Yên tĩnh của núi rừng.

Ta thấy bài thơ ĐƯỜNG VÀO YÊN TỬ đã thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên và giá trị tâm linh của yên tử.qua đó tác giả này tỏ sự yêu mến, trân trọng đối với cảnh đẹp quê hương, đồng thời cho người đọc niềm tự hào về những danh lam thắng cảnh của đất nước ta.

Câu 1

Việc bảo tồn các di tích lịch sử là trách nhiệm trung của toàn xã hội nhằm gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử quý báu cho thế hệ mai sau .Để hạn chế sự xuống cấp của các di tích,cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp hợp lý .

Nâng cao ý thức và ý thức cộng đồng là nền tảng quan trọng nhất cần tăng cường giáo dục lịch sử và văn hóa thông qua các chương trình ngoại khóa , các phương tiện truyền thông để người dân đặc biệt là thế hệ trẻ , hiểu rõ giá trị của di sản và tự giác tham gia bảo vệ.Cần xây dựng và thực thi nghiêm ngặt các quy định pháp luật về bảo tồn di sản , sử lý nghiêm chặt các hành vi phá hoại di tích .cần xã hội hóa công tác bảo tồn bằng cách khuyến khích các tổ chức doanh nghiệp và cá nhân tham gia tài trợ và đóng góp quỹ để phát triển khu di tích bền vững hơn .

Khi kết hợp hài hòa giữa quản lý nhà nước chặt chẽ khoa học kỹ thuật tiên tiến và sự tham gia tích cực của cộng đồng chúng ta mới có thể gìn giữ mãi những giá trị lịch sử này.

Câu 1

Di tích lịch sử là những nhân chứng vô giá của quá khứ, là sợi dây kết nối với thế hệ hiện tại với cội nguồn dân tộc. Tuy nhiên, nhiều đi tích đang ngày càng xuống cấp do tác động của thời gian, thiên nhiên và cả sự thiếu í thức của con người. Để hạn chế tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ và hiểu quả. Trước hết, cần nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của bảo tồn di sản. Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục cần được đẩy mạnh, đặc biệt là trong trường học, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ giá trị lịch sử, văn hóa của di tích và có ý thức trách nhiệm giữ gìn. Bên cạnh đó, công tác bảo tồn, trùng tu di tích cần được đầu tư đúng mức và thực hiện một cách khoa học, bài bản. Các cơ quan chức năng cần có kế hoạch cụ thể, phân bố nguồn kinh phí hợp lý, đồng thời huy động sự tham gia của cộng đồng, các tổ chức xã hội vào việc bảo vệ di tích. Việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong giám sát, bảo quản và phục hồi di tích cũng là một hướng đi cần thiết. Cuối cùng, cần có những quy định pháp luật chặt chẽ và xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi phá hoại di tích lịch sử. Sự phối hợp giữa chính quyền, người dân và các chuyên gia sẽ góp phần quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy giá trị của các di tích cho muôn đời sau.

Câu 2

Hoàng Quang Thuận được biết đến với những vần thơ mang đậm hơi thở thiền định và tình yêu sâu nặng với những giá trị tâm linh dân tộc. Bài thơ "Đường vào Yên Tử" trích trong tập “Thi vân Yên Tử” là một minh chứng tiêu biểu, phác họa nên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng và không gian thoát tục của vùng đất thiêng. Mở đầu bài thơ, tác giả khẳng định sự thay đổi của thời gian: “Đường vào Yên Tử có khác xưa / Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa”. Hình ảnh “vẹt đá mòn chân” không chỉ gợi lên sự lâu đời mà còn khẳng định sức sống bền bỉ của niềm tin tôn giáo qua bao thế hệ. Dẫu cảnh vật có “khác xưa” về hạ tầng hay diện mạo, nhưng lòng người hướng về cõi Phật vẫn vẹn nguyên, nồng nhiệt. Càng đi sâu vào hành trình, thiên nhiên Yên Tử hiện ra đầy sức sống: “Trập trùng núi biếc cây xanh lá Đàn bướm tung bay trong nắng trưa” Cách sử dụng từ láy “trập trùng” phối hợp với gam màu “biếc”, “xanh” tạo nên một không gian bao la, tràn đầy sinh khí. Hình ảnh “đàn bướm tung bay” trong nắng trưa mang lại nét động cho bức tranh tĩnh lặng, khiến cảnh vật trở nên gần gũi, giao hòa. Tác giả không chỉ quan sát bằng mắt mà còn cảm nhận bằng tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp nguyên sơ của núi rừng. Nét đặc sắc nhất về nghệ thuật nằm ở những câu thơ cuối, nơi thực và ảo đan xen: “Cây rừng phủ núi thành từng lớp Muôn vạn đài sen mây đong đưa Trông như đám khói người Dao vậy Thấp thoáng trời cao những mái chùa” Phép so sánh độc đáo “muôn vạn đài sen mây” đã nâng tầm cảnh thực lên cõi tiên cảnh. Mây trắng bồng bềnh được hình dung như những tòa sen của chư Phật, tạo nên không khí trang nghiêm mà thanh thoát. Sự liên tưởng giữa mây và “đám khói người Dao” đem lại hơi ấm của sự sống con người vùng cao, khiến không gian tâm linh không trở nên lạnh lẽo. Hình ảnh “những mái chùa” thấp thoáng ẩn hiện nơi tầng mây cao chót vót là điểm kết hoàn hảo, khẳng định vẻ đẹp huyền ảo, linh thiêng của "đất tổ Phật giáo Việt Nam". Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn với ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh và sức gợi. Các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ được vận dụng tự nhiên, giúp người đọc dễ dàng hình dung ra vẻ đẹp của danh thắng Yên Tử. Tóm lại, qua “Đường vào Yên Tử”, Hoàng Quang Thuận không chỉ miêu tả một chuyến đi mà còn thể hiện một tâm hồn giao thoa giữa thiên nhiên và đạo pháp. Bài thơ khơi gợi trong lòng người đọc niềm tự hào về cảnh sắc quê hương và lòng tôn kính đối với những giá trị văn hóa, tâm linh của dân tộc.

Câu 1:

Di tích lịch sử là thứ quan trọng của đất nước ,giúp con người hiểu về lịch sử và văn hoá.Nhưng nhiều di tích đang bị xuống cấp vì nhiều lý do như:người dân không biết dữ gìn,thiên tai, hoặc du lịch quá nhiều,làm hư hại.Để hạn chế sự xuống cấp của di tích,mọi người cần làm những việc như sau:Tuyên truyền cho người dân biết về giá trị, và ý nghĩa của di tích,để người dân biết bảo vệ.Chính quyền cần đầu tư tiền vào việc sửa chữa và bảo tồn di tích,in những biển báo để hướng dẫn cho người tham quan để họ không làm hỏng di tích. Nếu mỗi người dân chung tay cùng bảo vệ,thì di tích lịch sử sẽ được giữ gìn tốt hơn, và còn lại lâu dài cho thế hệ sau.

Câu 2:

Bài thơ này tả cảnh đường lên Yên Tử, một nơi linh thiêng trên đỉnh núi. Nội dung bài thơ nói về vẻ đẹp thiên nhiên và cảm giác yên bình khi lên núi. Cảnh được tả rất sinh động: "Vết đá mòn chân lết hội mùa", "Trập trùng núi biếc cấy xanh lá". Những hình ảnh này cho thấy núi rừng Yên Tử rất đẹp và có nhiều cây xanh.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng nhiều từ ngữ tả cảnh hay, như "đàn bướm tung bay trong nắng trưa", làm cho người đọc cảm nhận được bầu không khí trong lành. Hình ảnh "cây rừng phủ núi thành từng lớp" tạo cảm giác núi rừng rất rộng lớn và hùng vĩ.

"Đường vào Yên Tử" là bài thơ đẹp về cảnh và ý nghĩa, sử dụng ngôn ngữ sinh động để tả thiên nhiên và văn hóa núi rừng.





















Hiện nay, các di tích lịch sử đang phải đối mặt với nguy cơ xuống cấp nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân từ môi trường. Thế nên việc bảo tồn và giữ gìn di tích không chỉ là trách nhiệm của các nhà lãnh đạo,mà còn là nghĩa vụ của mỗi con người. Để hạn chế tình trạng xuống cấp của các di tích lịch sử , con người nên đưa ra các biện pháp quản lý như ngăn chặn hành vi khai thác trái phép di tích, nghiên cứu, khảo sát ,từ đó sẽ đưa ra vấn đề và giải pháp để giải quyết vấn đề. Ngoài ra chúng ta cũng cần phải ứng dụng công nghệ và hợp tác quốc tế,nhắm khôi phục,trùng tu di sản cũng như học hỏi kinh nghiệm , đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần không ngừng phát triển du lịch,tạo sự kết nối giữa du khách và di sản văn hoá .Cuối cùng,quan trọng nhất là nâng cao nhận thức của con người về trách nhiệm của bản thân đối với việc gìn giữ giá trị văn hoá di sản

13 tháng 4

Câu 1

Các di tích lịch sử là tài sản vô giá của dân tộc,nhưng hiện nay đang bị xuongs cấp nghiêm trọng. Để hạn chế tình trạng này cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết cần nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ di tích, không xả rác, không vẽ bậy hay pha hoại công trình. Bên cạnh đó, Nhà nước cần đầu tư kinh phí để trùng tu, tôn tạo di tích một cách khoa học, tránh làm sai lệch giá trị nguyên bản. Ngoài ra, cần tăng cường công tác quản lí, có chế tài xử phạt nghiêm đối với những hành vi xâm hại di tích. Việc tuyên truyền, giáo dục trong nhà trường và xã hội cũng rất quan trọng nhằm giúp thế hệ trẻ hiểu và trân trọng giá trị lịch sử. Không chỉ vậy có thể kết hợp phát triển du lịch bền vững để vừa quảng bá di tích, vừa tạo nguồn kinh phí bảo tồn. Mỗi cá nhân cần có trách nhiệm chung tay gìn giữ để các di tích lịch sử luôn được bảo tồn và phát huy giá trị lâu dài.

Câu 2

Bài thơ Đường vào Yên Tử của Hoàng Quang Thuận đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên Yên Tử vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng, đồng thời thể hiện cảm xúc thành kính của con người trước chốn linh thiêng. Trước hết, về nội dung, bài thơ tái hiện con đường hành hương lên Yên Tử với vẻ đẹp giàu sức gợi. Những hình ảnh như “vệt đá mòn chân lễ hội mùa”, “trập trùng núi biếc cây xanh lá” đã gợi ra không gian rộng lớn, trải dài theo bước chân người hành hương. Thiên nhiên hiện lên sống động với “đàn bướm tung bay trong nắng trưa”, tạo cảm giác nhẹ nhàng, thanh thoát. Đặc biệt, hình ảnh “mây dong đưa” được so sánh “như đám khói người Dao” vừa gần gũi vừa độc đáo, làm nổi bật nét đặc trưng vùng núi. Không gian ấy càng trở nên linh thiêng khi xuất hiện “những mái chùa thấp thoáng trời cao”, gợi cảm giác thanh tịnh, hướng con người về cõi tâm linh. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng nhiều hình ảnh giàu tính tạo hình và sức gợi cảm. Các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ được vận dụng linh hoạt, giúp cảnh vật trở nên sinh động và có hồn. Ngôn ngữ thơ giản dị nhưng tinh tế, giàu nhạc điệu, tạo nên sự hài hòa giữa cảnh và tình. Nhịp thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển

13 tháng 4

Câu 1: (2,0điểm)

Bài làm

Kiểm tra và quản lí chặt chẽ các đoàn khách du lịch về thăm quan khu di tích lịch sử hạn chế động chạm và xả rác bừa bãi , vẽ bậy , đục đẽo,..., vào các địa điểm ví dụ như lư hương , các chuông và những vườn hoa , vườn cây. Các giải pháp đưa ra trùng tu, tu dưỡng và chăm sóc, đặt các biển cảnh báo tại những nơi trọng yếu và nhắc nhở chỉ dẫn cho các đoàn tham quan

13 tháng 4

Câu 1(2 đ)

Ngày nay có nhiều di tích lịch sử đang dần xuống cấp trầm trọng .vậy chúng ta cần có những giải pháp nào ? chúng ta cần tìm ra các giải pháp hợp lí để bảo vệ các di tích lịch sử. Đầu tiên điều đáng quan trọng là nhà nước cần đầu tư kinh phí để sửa chữa cũng như trùng tu lại một cách khoa học để tránh làm mất giá trị ban đầu.Bên cạnh đó cũng cần nâng cao ý thức của người dân và các du khách đến thăm quan về việc giữ gìn và bảo vệ di tích lịch sử như không xả rác , không động chạm cũng như không vẽ bậy lên các di tích lịch sử .Ngoài ra chúng ta cần tổ chức các buổi tuyên truyền và giáo dục cho các thế hệ trẻ về các di tích .Mỗi người cần có ý thức trong việc bảo vệ di sản như vậy các di tích cũng sẽ được bảo vệ và gìn giữ lâu dài.

Câu 2(4đ)


13 tháng 4


Câu 1:

Di tích lịch sử là những “chứng nhân” quý giá của quá khứ, nhưng hiện nay nhiều nơi đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Để hạn chế tình trạng này, trước hết cần nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ di sản. Mỗi người dân và du khách phải có trách nhiệm giữ gìn, không xả rác, không viết vẽ bậy lên các công trình. Bên cạnh đó, Nhà nước cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác trùng tu, bảo tồn theo hướng khoa học, tránh làm sai lệch giá trị nguyên gốc của di tích. Công tác quản lí cũng cần chặt chẽ hơn, có quy định rõ ràng và xử phạt nghiêm các hành vi phá hoại. Ngoài ra, việc kết hợp phát triển du lịch bền vững với bảo tồn di tích sẽ giúp vừa quảng bá giá trị lịch sử vừa tạo nguồn kinh phí để duy tu. Cuối cùng, giáo dục thế hệ trẻ về ý nghĩa của các di tích cũng là giải pháp lâu dài, giúp hình thành ý thức gìn giữ di sản dân tộc. Chỉ khi có sự chung tay của toàn xã hội, các di tích lịch sử mới được bảo vệ và lưu giữ bền vững theo thời gian.

Câu 2:

Hoàng Quang Thuận là nhà thơ nổi tiếng với giọng thơ lãng mạn nhưng sâu lắng về thiên nhiên và văn hóa tâm linh. Bài thơ "Đường vào Yên Tử" được sáng tác theo thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật là một minh chứng rõ ràng bởi nó đã đã khắc họa được vẻ đẹp non thiêng vốn có của núi Yên Tử. Với bút pháp tả cảnh tinh tế và hình ảnh thơ giàu sức gợi, bài thơ đã gây ra ấn tượng mạnh mẽ cho độc giả.


Bài thơ "Đường vào Yên Tử" của Hoàng Quang Thuận là một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp mang đậm tình yêu thiên nhiên của ông. Bài thơ mở đầu với khung cảnh tấp nập của chốn đây "Đường vào Yên Tử có khác xưa /Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa." Nhà thơ gợi lên sự so sánh giữa Yên Tử trong quá khứ - chốn tu tâm thiền tịnh và Yên Tử hiện tại -đã được tôn tạo. Sự khác biệt ở đây không phải là làm mất đi vẻ đẹp vốn có mà là sự phát triển dễ tiếp cận hơn. Hình ảnh "vẹt đá mòn chân" thể hiện dấu ấn thời gian hằn lên từng vệt đá, mang theo sự thành tâm của du khách khi leo núi, tạo ra sự gắn bó thân thuộc giữa vùng đất thiêng với con người .Đến hai câu thơ tiếp theo "Trập trùng núi biếc xanh cây lá /Đàn bướm tung bay trong nắng trưa" nhà thơ đã miêu tả được cảnh sắc hùng vĩ, thanh bình và tràn đầy sức sống của núi thiêng Yên Tử vào buổi trưa. Hình ảnh đàn bướm tung bay trong nắng càng làm cho câu thơ thêm sinh động, gợi cảm, thể hiện vẻ đẹp kì vĩ nên thơ của vùng đất này. Tiếp đến là hai câu thơ "Cây rừng phủ kín thành từng lớp, muôn vàn đài sen mây đong đưa" gợi nên vẻ kì vĩ, bên cạnh đó là sự kết hợp của hình ảnh "muôn vàn đài sen" và "mây đong đưa" tạo cho người đọc cảm giác thanh tịnh chốn Thiền môn. Đối với hai câu kết: "Trông như đám khói người Dao vậy /Thấp thoáng trời cao những mái chùa". Câu thơ đã sử dụng phép tu từ so sánh độc đáo . Khói nơi núi rừng Yên Tử được ví với khói bếp của người Dao gợi lên sự ấm áp, mộc mạc của núi rừng .Hình ảnh những mái chùa thấp thoáng gợi lên vẻ đẹp mơ hồ, ẩn hiện càng làm tăng vẻ linh thiêng nơi Yên Tử thiền tịnh. Có thể nói, bài thơ "Đường vào Yên Tử " là một tuyệt tác về non thiêng Yên Tử kì vĩ, gợi nên vẻ đẹp hài hoà, thiêng liêng và cổ kính .Qua đây, ta cũng thấy được tình yêu say đắm non thiêng Việt Nam của tác giả Hoàng Quang Thuận.


Không chỉ dừng lại ở phần nội dung đặc sắc, bài thơ "Đường vào Yên Tử" của Hoàng Quang Thuận còn mang đến những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc .Bài thơ còn sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa "mây đong đưa" trong câu thơ "Muôn vàn đài sen mây đong đưa" làm tăng vẻ kì vĩ và thanh tịnh của Yên Tử. Với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bài thơ luôn tuân thủ bố cục, cách gieo vần và luật bằng trắc. Về cách ngắt nhịp, các câu thơ trong bài ngắt nhịp 3/4 tạo sự uyển chuyển, ngôn ngữ thơ nhẹ nhàng mà sâu lắng, hình ảnh thơ cũng giàu sức gợi hình, gợi cảm.


Bài thơ "Đường vào Yên Tử " của nhà thơ Hoàng Quang Thuận là một bức tranh nên thơ nhưng cũng đầy hùng vĩ, tràn đầy sức sống của non thiêng Yên Tử. Bài thơ cũng là lời khẳng định chắc chắn giá trị bền vững của Yên Tử trong lòng người đọc và trong nền văn hóa Việt Nam.

14 tháng 4

Câu 2.

Hoàng Quang Thuận là một hồn thơ gắn liền với những giá trị tâm linh và vẻ đẹp của danh thắng Việt Nam. Trong tập "Thi vân Yên Tử", bài thơ "Đường vào Yên Tử" nổi lên như một bức tranh thủy mặc hữu tình, vừa mang nét hùng vĩ của thiên nhiên, vừa đượm vẻ bảng lảng của chốn thiền môn thanh tịnh. Qua ngòi bút tài hoa, tác giả đã dẫn dắt người đọc bước vào hành trình tìm về cõi Phật bằng cả thị giác và cảm xúc chân thành.

Về nội dung , bài thơ là sự giao hòa tuyệt vời giữa cảnh sắc thiên nhiên và không gian văn hóa tâm linh. Ngay từ câu mở đầu, tác giả khẳng định sự thay đổi của thời gian: "Đường vào Yên Tử có khác xưa". Sự "khác" ấy không làm mất đi vẻ tôn nghiêm mà trái lại, nó càng tô đậm sức sống bền bỉ của một vùng đất thánh qua hình ảnh "vẹt đá mòn chân lễ hội mùa". Hình ảnh những phiến đá mòn dấu chân người đi lễ hội gợi lên sự sùng đạo, lòng thành kính của bao thế hệ con người Việt Nam. Cảnh vật hiện ra với vẻ đẹp tràn đầy sức sống của "núi biếc", "cây xanh lá" và sự sinh động của "đàn bướm tung bay". Không gian không tĩnh lặng u tịch mà rộn ràng, rạng rỡ dưới ánh nắng trưa. Đặc biệt, hình ảnh "muôn vạn đài sen mây đong đưa" là một liên tưởng độc đáo, biến những đám mây trắng trên đỉnh núi thành những tòa sen của đức Phật, làm cho cảnh vật thiên nhiên nhuốm màu thiêng liêng. Kết thúc bài thơ là hình ảnh những mái chùa thấp thoáng giữa trời cao, gợi mở về một thế giới thoát tục, nơi con người tìm thấy sự bình an trong tâm hồn.

Về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp tả cảnh và tả tình. Tác giả sử dụng hệ thống từ láy giàu giá trị tạo hình như "trập trùng", "đong đưa", "thấp thoáng" để vẽ nên một không gian đa chiều, có độ cao của núi, độ sâu của rừng và sự huyền ảo của mây trời. Biện pháp so sánh "trông như đám khói người Dao vậy" không chỉ giúp người đọc hình dung ra vẻ mờ ảo của sương khói Yên Tử mà còn gợi nhắc đến hơi ấm của cuộc sống con người, làm cho cõi tiên trở nên gần gũi với cõi thực. Nhịp điệu thơ chậm rãi, khoan thai như bước chân của người lữ khách đang thong dong tự tại trên con đường hành hương.

Tóm lại, "Đường vào Yên Tử" không chỉ đơn thuần là một bài thơ miêu tả cảnh đẹp mà còn là tiếng lòng của một người con hướng thiện. Bằng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi, Hoàng Quang Thuận đã tôn vinh vẻ đẹp của non thiêng Yên Tử, đồng thời khơi dậy trong lòng người đọc niềm tự hào về cảnh sắc và truyền thống văn hóa tâm linh của dân tộc. Bài thơ xứng đáng là một đóa hoa thơm trong vườn thơ thiền hiện đại.

Câu 1.

Di tích lịch sử là "nhân chứng" sống động cho dòng chảy văn hóa của dân tộc, nhưng hiện nay nhiều di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Để khắc phục tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Đầu tiên, cơ quan quản lý cần chú trọng công tác duy tu, bảo dưỡng định kỳ thay vì đợi đến khi hư hỏng nặng mới đại tu. Quá trình trùng tu phải dựa trên cơ sở khoa học, tôn trọng tối đa các yếu tố nguyên gốc, tránh việc "trẻ hóa" di tích một cách tùy tiện làm mất đi giá trị cốt lõi. Thứ hai, cần đẩy mạnh giáo dục di sản trong nhà trường và cộng đồng để hình thành ý thức tự giác bảo vệ ở mỗi cá nhân. Những hành vi như viết vẽ bậy hay xâm phạm không gian di tích cần bị lên án và xử lý nghiêm khắc theo quy định pháp luật. Thứ ba, việc xã hội hóa công tác bảo tồn, thu hút các nguồn lực kinh tế từ các tổ chức và doanh nghiệp sẽ giúp giải quyết bài toán thiếu hụt kinh phí bảo trì. Cuối cùng, phát triển du lịch phải đi đôi với bảo tồn, cần điều tiết lượng khách tham quan phù hợp để giảm áp lực lên cấu trúc di tích. Chỉ khi có sự chung tay của cả Nhà nước và nhân dân, các di sản mới có thể trường tồn cùng thời gian.

14 tháng 4

câu 1

các di tích lịch sử như Hội An đang dần xuống cấp trước tác động của thời gian và con người vì vậy cần có những giải pháp cần thiết để . trước hết, nhà nước cần tăng cường đầu tư kinh phí cho việc trùng tu bảo tồn theo đúng nguyên tắc khoa học giữ gìn tối đa giá trị nguyên gốc. đồng thời cần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục để nâng cao ý thức của người dân và du khách tránh các hành vi xâm hại như xả rác vẩy lên di tích bên cạnh đó việc quản lý hoạt động du lịch cũng cần chặt chẽ hạn chế tình trạng quá tải gây hư hỏng công trình ngoài ra có thể ứng dụng công nghệ hiện đại để giám sát lưu trữ và phục dựng di tích khi cần thiết quan trọng hơn mỗi cá nhân cần tự ý thức bảo vệ bởi di tích không chỉ là dấu ấn của quá khứ mà còn là tài sản vô giá của dân tộc cho các thế hệ sau

câu 2

bài thơ đường vào Yên tử của Hoàng Quang Thuận đã khắc họa vẻ đẹp thiên nhiên và không khí Linh thiêng của non thiêng Yên tử một cách nhẹ nhàng và sâu. trước hết, về nội dung tác giả đã tái hiện con đường lên Yên tử với những hình ảnh quen thuộc nhưng giàu sức gợi .đó là "vết đá mòn chân lễ hội" gợi lên dấu ấn của bao người hành hương qua thời gian. cảnh thiên nhiên hiện lên tươi đẹp với" cây xanh lá ", "đàn bướm tung bay ",tạo cảm giác vừa sinh động vừa yên bình. đặc biệt, hình ảnh "muôn vàn đài sen mây đong đưa " gợi liên tưởng đến chốn bồng lai ,làm nổi bật vẻ đẹp Thanh tịnh của nơi đây .

về nghệ thuật ,bài thơ sử dụng nhiều hình ảnh giàu tính gợi hình, gợi cảm ,kết hợp với biện pháp so sánh như "trông như đám khói người dao " khiến cảnh vật trở nên gần gũi .ngôn ngữ thơ giản dị nhưng giàu chất thơ giúp người đọc dễ cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên và không khí linh thiêng .ngoài ra giọng điệu nhẹ nhàng tha thiết cũng góp phần thể hiện tình cảm yêu mến trân trọng của tác giả đối với Yên tử.

bài thơ không chỉ miêu tả cảnh đẹp mà còn thể hiện được vẻ đẹp văn hóa tâm linh của Yên tử .qua đó người đọc thêm yêu thiên nhiên và trân trọng những giá trị truyền thống của dân tộc

15 tháng 4

Các di tích lịch sử là những “chứng nhân” quý giá của quá khứ, vì vậy việc bảo vệ chúng là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Trước hết, cần nâng cao ý thức của người dân và du khách thông qua tuyên truyền, giáo dục, giúp mọi người hiểu rõ giá trị và có thái độ trân trọng di sản. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có các biện pháp quản lí chặt chẽ, đầu tư kinh phí tu bổ, phục hồi di tích đúng cách, tránh tình trạng xuống cấp hoặc bị biến dạng. Việc khai thác du lịch cũng cần đi đôi với bảo tồn, hạn chế tác động tiêu cực từ lượng khách quá đông. Ngoài ra, cần xử lí nghiêm các hành vi xâm hại di tích như vẽ bậy, phá hoại hay buôn bán trái phép trong khu vực bảo tồn. Cuối cùng, mỗi cá nhân, đặc biệt là học sinh, cần góp phần nhỏ bằng cách giữ gìn vệ sinh, không làm hư hại công trình khi tham quan. Chỉ khi có sự chung tay của cả cộng đồng, các di tích lịch sử mới được gìn giữ lâu dài.

Câu 1 (khoảng 200 chữ): Việc các di tích lịch sử ngày càng xuống cấp đang trở thành vấn đề đáng lo ngại, đòi hỏi những giải pháp thiết thực và lâu dài. Trước hết, cần nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ di sản thông qua giáo dục và tuyên truyền. Khi người dân hiểu được giá trị lịch sử và văn hóa của di tích, họ sẽ có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn. Bên cạnh đó, cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lý, trùng tu và bảo tồn di tích theo đúng quy trình khoa học, tránh tình trạng sửa chữa tùy tiện làm mất đi giá trị nguyên gốc. Việc đầu tư kinh phí hợp lý cũng là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo công tác bảo tồn được thực hiện hiệu quả. Ngoài ra, cần kiểm soát hoạt động du lịch tại các di tích, hạn chế tình trạng quá tải, xả rác và tác động tiêu cực từ con người. Cuối cùng, việc ứng dụng công nghệ vào bảo tồn như số hóa dữ liệu di tích cũng là một hướng đi cần thiết. Chỉ khi có sự chung tay của toàn xã hội, các di tích lịch sử mới có thể được gìn giữ bền vững cho các thế hệ mai sau. Câu 2 (khoảng 400 chữ): Bài thơ “Đường vào Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng, đồng thời thể hiện cảm xúc thành kính, hướng về chốn thiêng liêng Yên Tử. Về nội dung, bài thơ tái hiện khung cảnh đường vào Yên Tử với sự biến đổi theo thời gian. Hình ảnh “có khác xưa” gợi cảm giác vừa quen thuộc vừa đổi thay, phản ánh sự tác động của thời gian và con người lên cảnh vật. Thiên nhiên hiện lên sống động qua những chi tiết giàu sức gợi: núi biếc trập trùng, cây xanh bạt ngàn, bướm bay trong nắng trưa. Đặc biệt, hình ảnh “muôn vạn đài sen mây đong đưa” mang ý nghĩa biểu tượng, gợi liên tưởng đến cõi Phật thanh tịnh, thiêng liêng. Không gian ấy vừa thực vừa ảo, vừa gần gũi vừa huyền diệu. Bên cạnh đó, hình ảnh “khói người Dao” tạo nên nét văn hóa đặc trưng vùng cao, làm cho bức tranh thiên nhiên thêm phần sinh động và có chiều sâu. Kết thúc bài thơ là hình ảnh “thấp thoáng trời cao những mái chùa”, gợi cảm giác linh thiêng, thanh tịnh, đồng thời thể hiện sự giao hòa giữa thiên nhiên và yếu tố tâm linh. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh và giàu sức gợi. Các biện pháp tu từ như so sánh (“trông như đám khói người Dao”) và ẩn dụ (“đài sen mây”) đã góp phần làm nổi bật vẻ đẹp vừa thực vừa mộng của cảnh vật. Nhịp thơ nhẹ nhàng, linh hoạt, kết hợp với việc sử dụng nhiều từ láy và hình ảnh giàu tính tạo hình đã tạo nên âm hưởng trầm lắng, sâu lắng. Bố cục bài thơ theo trình tự quan sát từ gần đến xa, từ thấp đến cao, giúp người đọc như được dẫn dắt từng bước trên con đường hành hương. Tóm lại, bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên đặc sắc mà còn là biểu hiện của tâm hồn hướng thiện, tìm về chốn thanh tịnh. Qua đó, tác giả đã thể hiện tình yêu thiên nhiên, niềm kính ngưỡng và sự gắn bó sâu sắc với non thiêng Yên Tử.

câu 1

Bảo tồn di tích lịch sử không chỉ là giữ gìn những viên gạch, mảng tường mà là bảo vệ linh hồn của dân tộc. Tuy nhiên, hiện nay nhiều di tích đang xuống cấp nghiêm trọng, đòi hỏi những giải pháp cấp thiết. Trước hết, giải pháp then chốt nhất nằm ở ý thức cộng đồng. Cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để mỗi cá nhân hiểu rằng di tích là tài sản chung không thể thay thế, từ đó chấm dứt các hành vi thiếu văn hóa như viết vẽ bậy hay xả rác. Thứ hai, công tác trùng tu phải được thực hiện một cách khoa học, có sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành nhằm đảm bảo giữ nguyên giá trị cốt lõi, tránh việc "làm mới" di tích một cách tùy tiện. Bên cạnh đó, Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý, xử phạt nghiêm minh các hành vi xâm phạm và tăng cường đầu tư ngân sách cho việc bảo trì thường xuyên. Cuối cùng, phát triển du lịch bền vững gắn liền với bảo tồn sẽ tạo ra nguồn lực kinh tế để tái đầu tư. Chỉ khi có sự chung tay giữa Nhà nước và nhân dân, những giá trị lịch sử mới có thể trường tồn cùng thời gian.

câu 2

Bài làm

Yên Tử không chỉ là một danh thắng vĩ đại mà còn là "đất tổ" của Phật giáo Việt Nam. Qua ngòi bút của Hoàng Quang Thuận trong bài thơ "Đường vào Yên Tử", vẻ đẹp nơi đây hiện lên vừa hùng vĩ, vừa thoát tục, lay động lòng người. Về nội dung, bài thơ là một hành trình khám phá cảnh sắc thiên nhiên gắn liền với tâm linh. Ngay từ những câu đầu, tác giả đã gợi mở một không gian đầy sức sống: "Đường vào Yên Tử có khác xưa Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa" Hình ảnh "vẹt đá mòn chân" không chỉ tả thực những dấu chân của hàng triệu tín đồ qua bao thế hệ, mà còn khẳng định sức sống bền bỉ của một trung tâm văn hóa tâm linh. Càng đi sâu vào, bức tranh thiên nhiên càng mở ra đa tầng, đa sắc với "núi biếc", "cây xanh lá" và "đàn bướm tung bay". Đó là một sự chuyển động nhẹ nhàng, thanh thoát giữa nắng trưa tĩnh lặng. Đặc biệt, hai câu cuối là điểm nhấn tâm linh sâu sắc: "Muôn vạn đài sen mây đong đưa / Trông như đám khói người Dao vậy". Hình ảnh mây được ví như "đài sen" gợi sự thanh cao, thoát tục, kết hợp với hình ảnh "khói người Dao" tạo nên nét gần gũi, ấm áp của sự sống con người nơi đại ngàn. Về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ bút pháp chấm phá tinh tế. Tác giả sử dụng các từ láy như "trập trùng", "đong đưa", "thấp thoáng" để tạo nhịp điệu uyển chuyển, gợi tả sự huyền ảo của không gian. Cách dùng hình ảnh so sánh độc đáo giữa cái vô hình (mây) với cái hữu hình (đài sen, đám khói) giúp người đọc hình dung rõ nét sự giao thoa giữa cõi thực và cõi tiên. Giọng thơ thành kính, nhẹ nhàng thể hiện rõ cái tâm của người hành hương khi về với Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Tóm lại, qua "Đường vào Yên Tử", Hoàng Quang Thuận không chỉ vẽ lại một bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ mà còn truyền tải được cái thần, cái hồn của vùng đất thánh. Bài thơ khơi gợi trong lòng người đọc niềm tự hào và ý thức giữ gìn những di sản quý báu của cha ông.



15 tháng 4

câu 1:
Để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp thiết thực. Trước hết, Nhà nước cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác trùng tu, tôn tạo di tích theo hướng khoa học, tránh làm sai lệch giá trị nguyên gốc. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống pháp luật chặt chẽ, xử lí nghiêm các hành vi xâm hại, phá hoại di tích. Việc nâng cao ý thức của cộng đồng cũng vô cùng quan trọng: mỗi người dân cần có trách nhiệm giữ gìn, không vẽ bậy, xả rác hay tác động tiêu cực đến di tích. Ngoài ra, nên đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong trường học và xã hội để mọi người hiểu rõ giá trị lịch sử – văn hóa của di tích. Việc kết hợp bảo tồn với phát triển du lịch bền vững cũng là một hướng đi hiệu quả, vừa tạo nguồn kinh phí vừa nâng cao ý thức bảo vệ. Cuối cùng, cần ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lí và phục dựng di tích. Chỉ khi có sự chung tay của Nhà nước và toàn xã hội, các di tích lịch sử mới được bảo vệ lâu dài.

Câu 2 :
Bài thơ “Đường vào Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa nên thơ, đồng thời gợi lên nét đẹp văn hóa tâm linh đặc sắc của vùng đất Yên Tử.

Trước hết, về nội dung, bài thơ mở ra một không gian vừa quen vừa lạ: “Đường vào Yên Tử có khác xưa”. Câu thơ gợi sự đổi thay của cảnh vật và dấu ấn thời gian in đậm trên từng bước chân. Hình ảnh “vệt đá mòn chân lễ hội mùa” cho thấy nơi đây là chốn hành hương đông đúc, gắn với đời sống tâm linh của con người. Thiên nhiên Yên Tử hiện lên sống động với màu xanh bạt ngàn của rừng núi, với “đàn bướm tung bay trong nắng trưa”, tạo cảm giác tươi sáng, tràn đầy sức sống. Không gian được mở rộng qua các lớp núi, lớp rừng chồng điệp, vừa thực vừa huyền ảo. Đặc biệt, hình ảnh “muôn vạn đài sen mây dong đưa” gợi vẻ đẹp thanh tịnh, thiêng liêng, như đưa con người bước vào cõi Phật. Bóng dáng con người xuất hiện qua chi tiết “đám khói người Dao vẫy”, vừa chân thực vừa gợi nét văn hóa vùng cao. Kết thúc bài thơ là hình ảnh “những mái chùa thấp thoáng trời cao”, nhấn mạnh vẻ đẹp linh thiêng của Yên Tử – nơi hội tụ giữa đất trời và tâm linh.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi. Các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ (“đài sen mây”) giúp cảnh vật trở nên lung linh, huyền ảo. Nhịp thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, phù hợp với bước chân hành hương chậm rãi. Cách kết hợp giữa tả thực và gợi tả tạo nên chiều sâu cho bức tranh thiên nhiên.

Như vậy, “Đường vào Yên Tử” không chỉ là bức tranh phong cảnh đẹp mà còn là lời ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và giá trị văn hóa tâm linh của Yên Tử, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Câu 1:

Các di tích lịch sử là tài sản vô giá của dân tộc, nhưng hiện nay đang bị xuống cấp nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân. Để hạn chế tình trạng này, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, Nhà nước cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác trùng tu, bảo tồn di tích một cách khoa học, tránh làm biến dạng giá trị nguyên gốc. Bên cạnh đó, cần siết chặt công tác quản lý, xử lí nghiêm các hành vi xâm hại như vẽ bậy, phá hoại hay xây dựng trái phép trong khu di tích. Một giải pháp quan trọng khác là nâng cao ý thức của người dân và du khách thông qua tuyên truyền, giáo dục về giá trị lịch sử – văn hóa của di tích. Ngoài ra, có thể kết hợp phát triển du lịch bền vững, vừa khai thác giá trị kinh tế vừa bảo vệ di sản. Cuối cùng, cần huy động sự chung tay của cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, trong việc giữ gìn và phát huy các di tích. Chỉ khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước và người dân, các di tích lịch sử mới được bảo vệ lâu dài.

Câu 2:

Bài thơ “Đường vào Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận đã khắc họa vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của non thiêng Yên Tử, qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên và niềm tự hào về di sản văn hóa dân tộc. Trước hết, về nội dung, bài thơ mở ra bức tranh thiên nhiên giàu sức sống. Ngay từ đầu, tác giả đã gợi sự đổi thay của cảnh vật qua câu thơ: “Đường vào Yên Tử có khác xưa”. Hình ảnh “Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa” không chỉ tả thực con đường đá mà còn gợi dấu ấn của bao bước chân hành hương qua năm tháng. Không gian thiên nhiên hiện lên rộng lớn, tươi đẹp qua các câu: “Trập trùng núi biếc cây xanh lá / Đàn bướm tung bay trong nắng trưa”. Những hình ảnh này làm nổi bật vẻ đẹp tràn đầy sức sống của núi rừng Yên Tử. Bên cạnh đó, vẻ đẹp Yên Tử còn mang nét huyền ảo, thơ mộng. Điều này được thể hiện qua các câu thơ: “Cây rừng phủ núi thành từng lớp / Muôn vạn đài sen mây đong đưa”. Hình ảnh “đài sen” là một liên tưởng độc đáo, khiến mây trời trở nên thanh khiết, mang màu sắc Phật giáo. Đặc biệt, phép so sánh trong câu “Trông như đám khói người Dao vậy” vừa gần gũi vừa làm nổi bật vẻ bảng lảng, mờ ảo của cảnh vật. Kết thúc bài thơ, hình ảnh “Thấp thoáng trời cao những mái chùa” đã nhấn mạnh nét linh thiêng, gợi sự giao hòa giữa thiên nhiên và đời sống tâm linh. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh. Các biện pháp tu từ như so sánh (“Trông như đám khói người Dao vậy”), liên tưởng (“Muôn vạn đài sen mây đong đưa”) đã góp phần tạo nên bức tranh thiên nhiên sinh động, giàu sức gợi. Nhịp thơ nhẹ nhàng, linh hoạt, kết hợp hài hòa giữa tả cảnh và gợi tình, giúp người đọc cảm nhận rõ vẻ đẹp đa chiều của Yên Tử

“Đường vào Yên Tử” không chỉ là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn là lời ngợi ca một vùng đất linh thiêng của dân tộc. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu quê hương và niềm trân trọng đối với những giá trị văn hóa truyền thống.


15 tháng 4

Em làm ra giấy

15 tháng 4

Câu 1:

Các di tích lịch sử là tài sản vô giá của dân tộc, nhưng hiện nay đang bị xuống cấp nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau. Để hạn chế tình trạng này, trước hết cần nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ di tích. Mỗi người dân, đặc biệt là khách tham quan, phải có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh, không xâm hại, phá hoại các công trình lịch sử. Bên cạnh đó, Nhà nước cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác trùng tu, tôn tạo di tích một cách khoa học, tránh làm sai lệch giá trị nguyên gốc. Việc đào tạo đội ngũ chuyên môn về bảo tồn cũng rất cần thiết để đảm bảo quá trình tu sửa đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục trong trường học và trên các phương tiện truyền thông để nâng cao nhận thức xã hội. Cuối cùng, cần có chế tài xử phạt nghiêm minh đối với những hành vi xâm hại di tích. Khi có sự chung tay của cả cộng đồng và Nhà nước, các di tích lịch sử sẽ được bảo vệ và phát huy giá trị lâu dài.

Câu 2:

Bài làm

Bài thơ "Đường vào Yên Tử" của Hoàng Quang Thuận đã khắc họa một cách sinh động vẻ đẹp thiên nhiên và không gian tâm linh nơi non thiêng Yên Tử, qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên và niềm tự hào về quê hương đất nước.

Trước hết, về nội dung, bài thơ mở ra một khung cảnh vừa quen thuộc vừa mới mẻ: “Đường vào Yên Tử có khác xưa”. Câu thơ gợi lên sự đổi thay của thời gian, nhưng vẫn giữ được nét linh thiêng vốn có. Hình ảnh “vệt đá mòn chân lễ hội mùa” không chỉ tả thực con đường mà còn gợi nhắc đến dòng người hành hương đông đúc qua năm tháng, tạo nên dấu ấn văn hóa đặc sắc. Thiên nhiên Yên Tử hiện lên tràn đầy sức sống với “cây xanh lá”, “đàn bướm tung bay trong nắng trưa”, tất cả tạo nên một bức tranh tươi sáng, giàu sức gợi. Đặc biệt, hình ảnh “muôn vạn đài sen mây đong đưa” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, gợi không gian thanh tịnh, thoát tục, đậm chất Phật giáo. Qua đó, tác giả không chỉ miêu tả cảnh sắc mà còn thể hiện cảm nhận tinh tế về vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và đời sống tâm linh.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng nhiều hình ảnh giàu tính tạo hình và giàu sức liên tưởng. Các biện pháp tu từ như so sánh (“trông như đám khói người Dao vẫy" giúp cảnh vật trở nên sinh động, gần gũi. Ngôn ngữ thơ giản dị nhưng giàu nhạc điệu, góp phần tạo nên cảm xúc nhẹ nhàng, sâu lắng. Bút pháp tả cảnh ngụ tình được vận dụng linh hoạt, qua đó thể hiện tâm hồn nhạy cảm và tình yêu thiên nhiên tha thiết của tác giả. Nhịp thơ chậm rãi, êm đềm cũng góp phần tái hiện không gian thanh tịnh, linh thiêng của chốn núi rừng Yên Tử.

Tóm lại, bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp mà còn là sự kết tinh của cảm xúc và suy tư về giá trị văn hóa, tâm linh. Qua đó, người đọc thêm yêu và trân trọng vẻ đẹp của danh thắng Yên Tử cũng như truyền thống văn hóa dân tộc.

16 tháng 4

Câu 1 :

Di tích lịch sử là những giá trị quý báu của dân tộc, tuy nhiên hiện nay nhiều di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Để hạn chế tình trạng này, cần có những giải pháp thiết thực và đồng bộ. Trước hết, Nhà nước cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác trùng tu, bảo tồn các di tích, đồng thời quản lí chặt chẽ, tránh việc tu sửa sai lệch làm mất đi giá trị nguyên gốc. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, về việc bảo vệ di sản văn hóa. Mỗi cá nhân khi tham quan di tích cần có ý thức giữ gìn vệ sinh, không xâm hại hay phá hoại cảnh quan. Ngoài ra, việc kết hợp phát triển du lịch bền vững với bảo tồn di tích cũng rất quan trọng, vừa tạo nguồn kinh phí vừa góp phần quảng bá giá trị lịch sử. Cuối cùng, cần xử lí nghiêm những hành vi vi phạm để răn đe. Chỉ khi có sự chung tay của toàn xã hội, các di tích lịch sử mới được bảo tồn lâu dài.


Câu 1:

Di tích lịch sử là tài sản vô giá của quốc gia, nhưng trước tác động của thời gian và con người, nhiều di tích đang xuống cấp nghiêm trọng, đòi hỏi những giải pháp cấp thiết và đồng bộ. Trước hết, Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường ngân sách cho việc bảo tồn và thực hiện công tác trùng tu định kỳ. Việc trùng tu phải được thực hiện bởi những chuyên gia có chuyên môn cao, đảm bảo giữ nguyên trạng các giá trị gốc, tránh tình trạng "làm mới" di tích một cách tùy tiện. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong nhà trường và cộng đồng là vô cùng quan trọng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân. Khi mỗi người dân hiểu được giá trị lịch sử và lòng tự hào dân tộc, họ sẽ trở thành những "người gác đền" tự nguyện bảo vệ di tích. Cuối cùng, cần phát triển du lịch bền vững, kiểm soát lượng khách tham quan và xử lý nghiêm các hành vi xâm hại, vẽ bậy hay xả rác tại khu di tích. Chỉ khi có sự chung tay của cả cộng đồng, những giá trị lịch sử của cha ông mới có thể trường tồn cùng thời gian.

Câu 1.

Di tích lịch sử là "cuốn sử sống" lưu giữ linh hồn và bản sắc của dân tộc, nhưng trước sự tàn phá của thời gian và tác động tiêu cực của con người, nhiều di tích đang xuống cấp nghiêm trọng. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước và cộng đồng.Thứ nhất, Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường ngân sách và huy động nguồn lực xã hội hóa cho việc trùng tu, tôn tạo di tích. Việc duy tu phải được thực hiện bởi các chuyên gia có chuyên môn cao, đảm bảo nguyên tắc giữ gìn tối đa các giá trị nguyên gốc, tránh tình trạng "làm mới" di tích. Thứ hai, ứng dụng công nghệ hiện đại như số hóa 3D để lưu trữ tư liệu và giám sát tình trạng di tích định kỳ, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời. Thứ ba, quan trọng nhất là nâng cao ý thức của người dân và khách du lịch. Cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về giá trị di sản trong trường học và tại địa phương; đồng thời xử lý nghiêm các hành vi xâm hại di tích như viết vẽ bậy, xả rác hay tự ý thay đổi kiến trúc. Cuối cùng, việc phát triển du lịch phải đi đôi với bảo tồn bền vững, tránh khai thác quá mức làm quá tải sức chịu đựng của di sản. Bảo vệ di tích không chỉ là bảo vệ quá khứ mà còn là giữ gìn tài sản cho muôn đời sau.

Câu 2.

Hoàng Quang Thuận là một hồn thơ gắn bó sâu sắc với những giá trị tâm linh và di sản dân tộc. Trong tập “Thi vân Yên Tử”, bài thơ “Đường vào Yên Tử” nổi lên như một bức tranh sơn thủy hữu tình, vừa mang vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, vừa thấm đượm không gian thoát tục của cõi Phật. ​Về mặt nội dung, bài thơ là hành trình cảm xúc của tác giả khi đối diện với vẻ đẹp của vùng đất thiêng. Ngay từ những câu thơ đầu, người đọc đã cảm nhận được dấu ấn thời gian và sự tiếp nối của lòng thành kính qua hình ảnh "Vệt đá mòn chân lễ hội mùa". Dù cảnh vật có "khác xưa", nhưng dòng người trảy hội vẫn bền bỉ, tạc vào đá núi niềm tin tín ngưỡng sâu sắc. Bức tranh thiên nhiên Yên Tử hiện lên đầy sức sống với những gam màu tươi sáng: màu "biếc" của núi, màu "xanh" của lá và sắc nắng vàng rực rỡ có đàn bướm tung bay. Đó không chỉ là cảnh thực mà còn là một không gian tràn đầy sinh khí. Càng lên cao, vẻ đẹp càng trở nên hư ảo, mang đậm chất thiền với hình ảnh những tầng mây như "muôn vạn đài sen". Sự xuất hiện thấp thoáng của những mái chùa giữa trời cao đã hoàn thiện bức tranh, khẳng định vẻ đẹp tĩnh lặng, trang nghiêm và thoát tục của danh thắng này. ​Về mặt nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp tả thực và lãng mạn. Tác giả sử dụng các từ láy gợi hình như "trập trùng", "đong đưa", "thấp thoáng" giúp cảnh vật trở nên sống động, có chiều sâu và nhịp điệu. Đặc biệt, biện pháp so sánh, liên tưởng độc đáo đã nâng tầm ý thơ: mây trắng được ví như "đài sen", gợi sự thanh cao; làn mây bay lại được ví như "đám khói người Dao" đốt lá rừng, tạo nên sự gần gũi, ấm áp hơi thở cuộc sống vùng cao. Thể thơ tám chữ với nhịp điệu chậm rãi, trang trọng rất phù hợp để diễn tả không gian tĩnh lặng và lòng thành kính của người đi lễ Phật. ​Tóm lại, qua bài thơ “Đường vào Yên Tử”, Hoàng Quang Thuận không chỉ khắc họa một hành trình địa lý mà còn mở ra một hành trình tâm linh. Với ngôn từ tinh tế và hình ảnh chọn lọc, bài thơ đã khơi gợi trong lòng người đọc niềm tự hào về cảnh sắc quê hương và lòng ngưỡng vọng trước những giá trị văn hóa, tâm linh cao quý của dân tộc.


19 tháng 4

C1 giải pháp bảo tồn di tích lịch sử , nâng cao ý thức cộng đồng , tăng cường quản lý nhà nước , xã hội hóa bào tồn

C2 cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ , sự giao hòa giữa con người và thần linh , thể thơ và nhịp điệu , ngôn ngữ , hình ảnh giàu tính biểu tượng

16 tháng 9 2025

Câu 1:

Nhân vật người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm là hình ảnh tiêu biểu cho nỗi đau của người vợ có chồng ra trận trong thời loạn lạc. Qua từng câu thơ, nỗi cô đơn, buồn tủi và khao khát hạnh phúc lứa đôi hiện lên một cách sâu sắc. Chồng ra đi, người chinh phụ sống trong cảnh “phòng không”, lẻ loi, nhớ nhung da diết. Nàng không chỉ đau vì phải xa cách người thương mà còn vì nỗi lo lắng, thấp thỏm cho sự an nguy của chồng nơi chiến trường. Những hành động như “gảy đàn”, “thắp đèn”, “trông cửa” chỉ càng làm nổi bật nỗi nhớ và sự trống trải trong tâm hồn. Tâm trạng của nàng là sự giằng xé giữa bổn phận với đất nước và khát vọng hạnh phúc cá nhân. Thông qua hình ảnh người chinh phụ, tác giả không chỉ bày tỏ nỗi thương cảm với số phận người phụ nữ trong chiến tranh mà còn ngầm lên án những cuộc chiến phi nghĩa, đẩy con người vào cảnh chia lìa, đau khổ. Nhân vật người chinh phụ vì vậy trở thành biểu tượng cho nỗi đau thầm lặng và phẩm chất thủy chung của người phụ nữ xưa.

Câu 2:

Khi đọc Chinh phụ ngâm, ta không chỉ cảm nhận được nỗi cô đơn của người vợ có chồng ra trận mà còn thấy rõ những mất mát, đau thương mà chiến tranh để lại cho con người. Hình ảnh người chinh phụ ngày ngày ngóng trông chồng giữa chốn khuê phòng lạnh lẽo là minh chứng rõ nét cho bi kịch chia lìa mà chiến tranh gây nên. Không chỉ có sự xa cách, chiến tranh còn gieo rắc cái chết, tàn phá hạnh phúc và để lại những vết thương không thể xóa nhòa trong lòng người.

Chiến tranh là kẻ thù lớn nhất của hòa bình, là nguyên nhân sâu xa của đau thương và chia cắt. Bao nhiêu người con đã ngã xuống nơi chiến trường, bao nhiêu mái ấm tan vỡ, bao nhiêu bà mẹ, người vợ, đứa trẻ sống trong nước mắt và hy vọng mỏi mòn. Không chỉ trong văn chương mà cả trong lịch sử dân tộc và thế giới, chiến tranh luôn để lại những hậu quả nặng nề về thể xác lẫn tinh thần. Nó không chỉ tàn phá làng mạc, thành phố mà còn cướp đi những giá trị nhân văn cao đẹp của con người: tình yêu, lòng nhân ái, hạnh phúc và sự bình yên.

Ngày hôm nay, chúng ta may mắn được sống trong hòa bình – thành quả của biết bao máu xương, hy sinh của cha ông. Vì vậy, thế hệ trẻ càng cần phải ý thức sâu sắc về giá trị của cuộc sống hòa bình và trách nhiệm giữ gìn nó. Trân trọng hòa bình không chỉ là biết ơn quá khứ mà còn là hành động thiết thực trong hiện tại: sống nhân ái, học tập, lao động, cống hiến để xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ và không còn chỗ cho bạo lực hay hận thù. Mỗi người trẻ cần trở thành một "chiến sĩ" gìn giữ hòa bình – bằng tri thức, bằng tình yêu thương, bằng sự tỉnh táo trước cái xấu, cái ác, và bằng tiếng nói phản đối mọi hành vi chia rẽ, kỳ thị hay kích động chiến tranh.

Chiến tranh là bài học đau đớn của nhân loại, còn hòa bình là khát vọng ngàn đời của con người. Bởi thế, chỉ khi biết trân trọng sự yên bình đang có, thế hệ trẻ hôm nay mới thực sự xứng đáng với sự hy sinh của cha ông và góp phần gìn giữ một tương lai không còn bóng dáng chiến tranh.

16 tháng 9 2025

Câu 1:

Trong đoạn trích Chinh phụ ngâm, hình ảnh người chinh phụ hiện lên đầy đau khổ, xót xa. Người chinh phụ sống trong cảnh chia xa, nhiều năm mong ngóng tin chồng nhưng tin tức vẫn bặt vô âm tín: “Trải mấy xuân tin đi tin lại, / Tới xuân này tin hãy vắng không”. Nỗi mong chờ ấy khiến nàng luôn dõi theo từng cánh nhạn, từng áng mây, thậm chí gieo bói cầu tin, viết thư rồi lại mở ra trong tuyệt vọng. Nỗi nhớ thương khiến nàng trở nên gầy guộc, xiêm áo lỏng lẻo, bước chân nặng nề dạo hiên vắng, ngồi sau rèm buồn bã. Cô đơn đến mức, người chinh phụ phải mượn cả ngọn đèn để trò chuyện: “Đèn có biết dường bằng chẳng biết / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”. Qua hình ảnh này, ta thấy rõ thân phận nhỏ bé, bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến khi chồng ra trận: họ chỉ biết chờ đợi, hy sinh trong cô quạnh và đau thương. Đồng thời, tác phẩm cũng gợi cho người đọc niềm cảm thương sâu sắc đối với những phận người bị chiến tranh làm cho chia lìa, bất hạnh.

16 tháng 9 2025

Câu 1. Đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ sau khi đọc bài thơ “Mẹ”

Bài thơ Mẹ của Bằng Việt khắc họa hình ảnh người mẹ hiền hậu, tận tụy và giàu tình yêu thương dành cho con. Khi đọc bài thơ, em cảm nhận được nỗi nhớ da diết của người con với mẹ và quê hương, nhất là trong bối cảnh chiến tranh, gian khó. Từng câu chữ đều gợi lên hình ảnh mẹ lặng lẽ chăm sóc con, từ những món ăn bình dị như canh tôm nấu khế, khoai nướng, ngô bung, đến những hành động âm thầm nhưng đầy tình thương. Cách tác giả miêu tả chi tiết, giàu hình ảnh đã làm nổi bật sự hy sinh thầm lặng của mẹ, đồng thời thể hiện tình cảm sâu nặng của con đối với mẹ. Em thấy xúc động khi hình dung mẹ già chịu đựng gian khó nhưng vẫn quan tâm từng hơi thở, từng bước đi của con, và nỗi nhớ mẹ khiến con cảm thấy đất nước trở nên gần gũi, ấm áp. Bài thơ khiến em hiểu hơn giá trị của tình mẫu tử thiêng liêng, đồng thời nhắc nhở em trân trọng, biết ơn những công lao và tình thương vô bờ của cha mẹ.


Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) về ý nghĩa của lòng biết ơn trong cuộc sống

Lòng biết ơn là một trong những giá trị đạo đức cao đẹp, giúp con người sống nhân hậu, chân thành và có trách nhiệm với bản thân và người khác. Bài thơ Mẹ của Bằng Việt đã gợi lên lòng biết ơn của người con đối với mẹ. Nhân vật trữ tình xúc động trước những hy sinh, lo toan và tình yêu thương vô bờ bến của mẹ, từ việc chăm sóc, nấu những món ăn bình dị đến sự dạy dỗ, quan tâm từng bước đi của con. Từ câu chuyện này, chúng ta nhận ra rằng biết ơn không chỉ là nhận thức về công lao, tình cảm mà còn là hành động, thái độ trân trọng và đối xử tốt với những người đã yêu thương, giúp đỡ mình.

Lòng biết ơn giúp con người trở nên cao thượng, gắn kết các mối quan hệ và tạo nên một xã hội nhân ái. Người biết ơn sẽ không bao giờ xem nhẹ tình thương, công sức của cha mẹ, thầy cô hay bạn bè, đồng thời biết chia sẻ, giúp đỡ người khác. Ngược lại, thiếu lòng biết ơn dẫn đến ích kỷ, thờ ơ và làm phai nhạt những giá trị tốt đẹp xung quanh. Trong cuộc sống hằng ngày, lòng biết ơn có thể thể hiện qua những lời nói, hành động nhỏ nhưng chân thành, như thăm hỏi cha mẹ, quan tâm bạn bè, trân trọng sự giúp đỡ của người khác.

Như vậy, lòng biết ơn là nền tảng của nhân cách, giúp con người sống có trách nhiệm và giàu tình cảm. Bài thơ Mẹ nhắc nhở mỗi chúng ta hãy luôn biết ơn và trân trọng những người thân yêu, những công lao thầm lặng đã làm nên hạnh phúc và cuộc sống của chúng ta.

11 tháng 4

Câu 1:Đoạn trích "Tổ quốc nhìn từ biển" của Nguyễn Việt Chiến khiến em xúc động sâu sắc về tình yêu quê hương, đất nước. Những hình ảnh về Hoàng Sa, Trường Sa, và những người lính, người dân đã dành trọn trái tim để giữ gìn đất mẹ thiêng liêng. Tác giả đã dùng những câu thơ chân thành, da diết, nhấn mạnh sự thiêng liêng của từng mảnh đất, từng quần đảo của Tổ quốc mà cha ông đã gìn giữ qua bao thế hệ. Những lời ca ngợi về biển cả, về những người con yêu nước khiến em cảm thấy tự hào và trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ đất nước. Đặc biệt, hình ảnh "Lạc Long cha nay chưa thấy trở về" làm em nghĩ về những người anh hùng đã hy sinh vì Tổ quốc. Đoạn trích như lời nhắc nhở chúng em trân trọng và giữ gìn từng mảnh đất thiêng liêng của quê hương, để đất nước luôn bình yên, vững bước trên con đường phát triển.


Câu 2:Trong thời đại hiện nay, du lịch là hoạt động góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, quảng bá văn hóa, nhưng đi đôi với đó là vấn đề ô nhiễm môi trường tại các điểm du lịch. Nhiều khu danh lam thắng cảnh đẹp của Việt Nam đang bị xâm phạm, rác thải, rác thải nhựa, ô nhiễm nguồn nước, đất đai gây ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan và hệ sinh thái. Nguyên nhân chính là ý thức của một bộ phận du khách còn hạn chế, thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh chung, thói quen vứt rác bừa bãi, phá hoại cây cối hoặc lãng phí tài nguyên. Để bảo vệ môi trường, trước tiên cần nâng cao nhận thức của du khách thông qua các chiến dịch tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường. Các cơ quan chức năng cần xây dựng và thực thi quy định nghiêm ngặt về bảo vệ cảnh quan, xử phạt những hành vi gây ô nhiễm. Đồng thời, ban quản lý các điểm du lịch nên lắp đặt thùng rác hợp lý, khuyến khích du khách giữ gìn vệ sinh và có các hoạt động tuyên truyền về ý thức bảo vệ môi trường. Chỉ khi mỗi người đều ý thức rõ trách nhiệm của mình, chúng ta mới có thể giữ gìn vẻ đẹp của các danh lam thắng cảnh, góp phần xây dựng một nền du lịch bền vững, phát triển lâu dài.

11 tháng 4

Câu 1:Nhân vật Hữu Chi trong văn bản thể hiện hình ảnh của một người tàn nhẫn, tham lam vô độ và coi thường đạo lý. Trong câu chuyện, Hữu Chi là biểu tượng của lòng tham không đáy, luôn mong muốn vơ vét của cải, quyền lực bằng mọi giá, bất chấp hậu quả. Sự tham lam của ông khiến ông không từ thủ đoạn, sẵn sàng làm hại người khác để đạt được mục đích cá nhân. Hữu Chi còn thể hiện tính ích kỉ, chỉ biết nghĩ cho bản thân mà không quan tâm đến người khác, kể cả những người thân thiết. Chính vì lòng tham vô độ, tham lam của Hữu Chi đã dẫn đến sự trừng phạt đích đáng của số phận, khiến ông phải nhận lấy hậu quả đau đớn, đắng cay. Nhân vật này phản ánh rõ nét về mặt trái của lòng tham, nhấn mạnh rằng tham lam quá mức không chỉ làm hại chính mình mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Qua đó, câu chuyện gửi gắm bài học về sự cần thiết phải kiểm chế lòng tham, sống có đạo đức, trung thực để tránh những bi kịch đau lòng.


Câu 2:Trong "Chuyện Lý tướng quân," nhân vật Hữu Chi là biểu tượng của lòng tham lam vô độ, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Lòng tham chính là một trong những thói xấu tiêu cực nhất trong đời sống, có thể gây ra nhiều tác hại lớn. Tham lam vật chất khiến người ta vơ vét, tranh giành không ngừng, dẫn đến xung đột, bất công và làm xói mòn đạo đức xã hội. Trong học tập, thái độ ích kỉ, gian lận để đạt thành tích cao cũng là biểu hiện của lòng tham, gây ảnh hưởng tiêu cực đến phẩm chất của người trẻ và uy tín của nhà trường. Lòng tham còn làm con người trở nên thiếu trung thực, sống giả dối, mất đi giá trị đạo đức cốt lõi. Chính vì vậy, cần phải nhận thức rõ tác hại của lòng tham để có biện pháp hạn chế, loại bỏ thói xấu này. Trước hết, cần giáo dục đạo đức từ gia đình, nhà trường, nhằm giúp mỗi người biết trân trọng giá trị của lòng trung thực, trung thành và nhân ái. Thứ hai, cần xây dựng môi trường sống trong sạch, công bằng, tạo điều kiện để mọi người phát triển lành mạnh. Cuối cùng, mỗi cá nhân cần tự ý thức rèn luyện bản thân, kiểm soát lòng tham, sống giản dị, biết đủ, góp phần xây dựng xã hội công bằng, văn minh và hạnh phúc. Chỉ khi con người biết kiểm chế lòng tham, cuộc sống mới trở nên tốt đẹp, hòa bình và thịnh vượng hơn.

27 tháng 8 2019

Có thể nhận thấy được rằng việc chúng ta bảo vệ, chăm sóc trẻ em là một trong những nhiệm quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc, bởi "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai" (UNESCO). Hay như chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói “Trẻ em như búp trên cành” cho nên việc chúng ta yêu thương các em trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội chứ không phải của riêng ai.

    Nhận thấy được rằng chính tương lai của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại phụ thuộc vào sự chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ. Đồng thời nó cũng lại thật phụ thuộc vào sức khoẻ, trí tuệ, năng lực… của thế hệ trẻ. Chúng ta như không thể nào có thể quên được ngay trong "Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường", Bác Hồ viết: "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu". Thông qua lời căn dặn này ta đồng thời cũng có thể nhận thấy được trẻ em là người sẽ quyết định tương lai, vị thế của mỗi dân tộc trên trường quốc tế.

   Quả không sai khi người ta nói chỉ cần xem công tác kiểm tra các vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em của một đất nước thôi thì có thể đánh giá được trình độ văn minh và phần nào bản chất của một xã hội. Ta như nhận thấy được ở đất nước Nhật. Nước Nhật là một quốc gia không có nhiều tài nguyên thiên nhiên trong khi đó lại phải đối mặt với rất nhiều thiên tai như động đất và núi lửa nhưng đất nước vẫn vươn lên trở thành một trong những siêu cường lớn nhất hiện nay. Đó chính là việc nước Nhật luôn luôn coi trọng và phát triển con người. Người Nhật luôn dạy con cái – những thế hệ mầm non tương lai của đất nước họ rất nhiều bài học. Họ thực sự quan tâm đến thế hệ con trẻ và luôn chăm lo đến đời sống của các em. Có như vậy thì đất nước họ mới có thể có được vị thế vững chắc như ngày hôm nay.

    Ta nhận thấy được chính nhờ sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, chính phủ Việt Nam, hay đó cũng còn là chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội đối với trẻ em hiện nay được quan tâm trên nhiều khía cạnh. Trong những năm 1989, Công ước Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em dường như cũng lại ra đời đã ghi nhận các quyền cơ bản của trẻ em như các nhóm quyền sống còn, và có cả các nhóm quyền bảo vệ, nhóm quyền phát triển và nhóm quyền tham gia. Có thể khẳng định được rằng cũng chính công ước này thể hiện sự tôn trọng và quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với trẻ em. Đồng thời nó cũng chính là những điều kiện cần thiết để trẻ em được phát triển đầy đủ trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm. Sự kiện tiếp theo có thể nhận thấy được vào năm 1990 Tuyên bố thế giới… đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể và toàn diện nhằm bảo vệ và chăm sóc trẻ em cùng với một bản kế hoạch hành động khá chi tiết trên từng mặt cơ bản. Dễ dàng nhận thấy được cũng chính tuyên bố này một lần nữa thể hiện sự quan tâm thích đáng của cộng đồng quốc tế đối với các quyền lợi và tương lai của trẻ em.

    Hiện nay ta như nhận thấy được cũng chính vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm. Việt Nam vinh dự và cũng thật tự hào là nước thứ hai trên thế giới kí và phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em. Và ta như thấy được cũng chỉ sau Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em năm 1990, lúc này đây thì Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định Chương trình hành động vì sự sống còn. Đồng thời như cũng thấy được cũng chính quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em Việt Nam từ năm 1991 đến 2000, đặt thành một bộ phận của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trên cơ sở những luật pháp như được ban bố kia thì các ngành, các cấp phải có những hoạt động thật cụ thể để nhằm đảm bảo các quyền lợi của trẻ em như các chính sách hỗ trợ kinh tế đối với trẻ em nghèo để các em có thể đến trường, quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, trường học, thiết bị dạy học… để nâng cao chất lượng giáo dục, kêu gọi các tổ chức xã hội và nhân dân đóng góp xây đựng trường lớp, giúp đỡ trẻ em khuyết tật, đóng góp quỹ vì người nghèo, vì trẻ em bị nhiễm chất độc màu da cam, khuyến khích mở các lớp học tình thương, các trung tâm bảo trợ trẻ em mồ côi, tàn tật, lang thang không nơi nương tựa…

    Trẻ em cũng cần được yêu thương và chăm sóc cho nên những hành động có hại hay mang đến những tổn thương cho các em cần được lên án và tẩy chay.

    Hiện nay thì các tình trạng bạo hành trẻ em của nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới cũng đang có xu thế gia tăng và theo nhiều cấp độ và hình thức khác nhau. Bên cạnh những việc làm có ý nghĩa như hiện tượng cá nhân tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang thì vẫn còn không ít những quyền của trẻ em hiện nay đang bị xâm hại và không được coi trọng. Tất cả những vấn nạn gây ra nhiều tổn thương về tinh thần cũng như thể xác của các em cũng cần được đưa ra để có những biện pháp xử lý cụ thể nhất, nhằm có thể răn đe cho người sau. Trẻ em cũng nên được giáo dục hiểu biết về luật pháp cũng như những quyền của chính mình. Các em luôn xứng đáng với sự quan tâm, chăm sóc của người thân và toàn xã hội.

    Trẻ em chính là chủ nhân tương lai của đất nước, nên hãy biết yêu quý và bảo vệ các em để tránh những điều không tốt làm tổn hại đến nhân phẩm cũng như thể xác.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: MẸCon bị thương, nằm lại một mùa mưaNhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽNhà yên ắng, tiếng chân đi rất nhẹ,Gió từng hồi trên mái lá ùa qua.Nhớ vườn cây che bóng kín sau nhàTrái chín rụng suốt mùa thu lộp độpNhững dãy bưởi sai, những hàng khế ngọt,Nhãn đầu mùa, chim đến bói lao xao...Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đàoCon nhạt miệng, có...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

MẸ

Con bị thương, nằm lại một mùa mưa
Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ
Nhà yên ắng, tiếng chân đi rất nhẹ,
Gió từng hồi trên mái lá ùa qua.

Nhớ vườn cây che bóng kín sau nhà
Trái chín rụng suốt mùa thu lộp độp
Những dãy bưởi sai, những hàng khế ngọt,
Nhãn đầu mùa, chim đến bói lao xao...

Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.

Ba con đầu đi chiến đấu nơi xa
Tình máu mủ mẹ dồn con hết cả,
Con nói mớ những núi rừng xa lạ
Tỉnh ra rồi, có mẹ, hoá thành quê!

“Ông mất lâu rồi...” – Mẹ kể con nghe
Những chuyện làm ăn, những phen luân lạc,
Mắt nhoà đục và mái đầu tóc bạc
Cả cuộc đời chèo chống bấy nhiêu năm...

Những lúc hiếm hoi, mưa tạnh, trời trăng,
Mẹ hể hả ngắm con hồng sắc mặt
Con ra ngõ, núi chập chùng xanh ngắt
Lại tần ngần nói với mẹ ngày đi.

Mẹ cười xoà, nước mắt ứa trên mi:
– “Đi đánh Mỹ, khi nào tau có giữ!
Súng đạn đó, ba lô còn treo đó,
Bộ mi chừ đeo đã vững hay chăng?”

... Ôi mẹ già trên bản vắng xa xăm
Con đã đi rồi, mấy khi trở lại?
Dằng dặc Trường Sơn những mùa gió trái
Những mùa mưa bạc trắng cả cây rừng!

Con qua đâu thấy mái lá, cây vườn,
Cũng đất nước, phơ phơ đầu tóc mẹ...
Từng giọt máu trong người con đập khẽ,
Máu bây giờ đâu có của riêng con?

                                      1972

     (Bằng Việt, in trong Tác phẩm chọn lọc, NXB Hội nhà văn, 2010)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ.

Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?

Câu 3. Người mẹ trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ dưới đây.

Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.

Câu 5. Qua bài thơ, nhân vật trữ tình đã thể hiện những tình cảm nào dành cho người mẹ?

1
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. Không có niêm luật, vần rõ ràng cố định, độ dài các câu và khổ thơ linh hoạt, giúp tác giả tự do bộc lộ cảm xúc trữ tình.


Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?
Nhân vật trữ tình là người con đang trưởng thành, từng trải qua chiến tranh, nhớ về mẹ và gia đình ở quê hương.


Câu 3. Người mẹ trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất nào?
Người mẹ được khắc họa với những phẩm chất:

  • Hiền hậu, ân cần và lặng lẽ: luôn chăm sóc con một cách tận tụy nhưng âm thầm, không phô trương.
  • Hy sinh, tận tụy: dồn hết tình máu mủ cho con, chèo chống gia đình sau khi chồng mất.
  • Kiên cường, chịu đựng gian khó: chèo chống cuộc sống, chăm sóc con giữa chiến tranh và khó khăn.
  • Tình thương vô bờ bến: mẹ luôn lo lắng cho sức khỏe, sự an toàn và tương lai của con.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong khổ thơ:

Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.

  • Biện pháp tu từ: miêu tả giàu hình ảnh, đối lập và ẩn dụ.
    • Đối lập: “Con xót lòng – mẹ hái trái bưởi đào”, “con nhạt miệng – mẹ nấu canh” thể hiện sự quan tâm âm thầm nhưng sâu sắc của mẹ.
    • Miêu tả chi tiết sinh động: các món ăn, khói bếp gợi lên hình ảnh ấm áp, bình dị nhưng chan chứa tình mẹ.
  • Tác dụng: Khắc họa tình mẫu tử chân thực, gợi cảm giác ấm áp, thương yêu và ân cần mà mẹ dành cho con, làm nổi bật hình ảnh mẹ hiền hậu, yêu thương con vô bờ.

Câu 5. Qua bài thơ, nhân vật trữ tình đã thể hiện những tình cảm nào dành cho người mẹ?
Nhân vật trữ tình bộc lộ:

  • Nỗi nhớ da diết, xót xa khi nghĩ về mẹ và tuổi thơ bên gia đình.
  • Tình thương, sự biết ơn sâu sắc đối với công lao, hy sinh và tình yêu vô bờ của mẹ.
  • Nỗi lo lắng, ray rứt khi phải rời quê hương, đi chiến đấu xa nhà, sợ mẹ vất vả, tuổi già cô đơn.
  • Sự trân trọng và xúc động trước hình ảnh mẹ già, chịu đựng gian khổ nhưng vẫn quan tâm chăm sóc con.

Nếu bạn muốn, tôi có thể viết lại toàn bộ đáp án theo dạng gọn gàng, đầy đủ, trình bày sẵn sàng nộp bài thi cho lớp 9, giúp dễ học và ghi nhớ. Bạn có muốn tôi làm không?


18 tháng 9 2025

đây là bài văn của mình:

Bài thơ Bầm ơi! của Tố Hữu là một khúc tâm tình đầy xúc động về tình mẫu tử thiêng liêng trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ. Hình ảnh người mẹ – “bầm” – hiện lên với tất cả sự tần tảo, lo lắng và yêu thương dành cho người con đang đi kháng chiến. Tình cảm ấy không chỉ thể hiện qua những câu hỏi đầy thương nhớ mà còn qua nỗi đau thầm lặng khi mẹ chịu đựng sự thiếu vắng con. Người con, dù đang ở nơi chiến trường, vẫn luôn hướng về mẹ với lòng biết ơn và xót xa. Những câu thơ như “Con đi trăm núi nghìn sông / Không bằng một chút tấm lòng của bầm” đã khắc họa sâu sắc sự hy sinh thầm lặng của mẹ, đồng thời thể hiện tình cảm chân thành, tha thiết của người con. Qua đó, bài thơ không chỉ ca ngợi tình mẫu tử mà còn làm nổi bật vẻ đẹp của người mẹ Việt Nam trong thời chiến – giàu đức hy sinh, kiên cường và đầy yêu thương. Tình cảm ấy khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào và trân trọng hơn những người mẹ trong cuộc đời mình.

28 tháng 8 2019

1.Có thể nhận thấy được rằng việc chúng ta bảo vệ, chăm sóc trẻ em là một trong những nhiệm quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc, bởi "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai" (UNESCO). Hay như chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói “Trẻ em như búp trên cành” cho nên việc chúng ta yêu thương các em trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội chứ không phải của riêng ai.

    Nhận thấy được rằng chính tương lai của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại phụ thuộc vào sự chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ. Đồng thời nó cũng lại thật phụ thuộc vào sức khoẻ, trí tuệ, năng lực… của thế hệ trẻ. Chúng ta như không thể nào có thể quên được ngay trong "Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường", Bác Hồ viết: "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu". Thông qua lời căn dặn này ta đồng thời cũng có thể nhận thấy được trẻ em là người sẽ quyết định tương lai, vị thế của mỗi dân tộc trên trường quốc tế.

   Quả không sai khi người ta nói chỉ cần xem công tác kiểm tra các vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em của một đất nước thôi thì có thể đánh giá được trình độ văn minh và phần nào bản chất của một xã hội. Ta như nhận thấy được ở đất nước Nhật. Nước Nhật là một quốc gia không có nhiều tài nguyên thiên nhiên trong khi đó lại phải đối mặt với rất nhiều thiên tai như động đất và núi lửa nhưng đất nước vẫn vươn lên trở thành một trong những siêu cường lớn nhất hiện nay. Đó chính là việc nước Nhật luôn luôn coi trọng và phát triển con người. Người Nhật luôn dạy con cái – những thế hệ mầm non tương lai của đất nước họ rất nhiều bài học. Họ thực sự quan tâm đến thế hệ con trẻ và luôn chăm lo đến đời sống của các em. Có như vậy thì đất nước họ mới có thể có được vị thế vững chắc như ngày hôm nay.

    Ta nhận thấy được chính nhờ sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, chính phủ Việt Nam, hay đó cũng còn là chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội đối với trẻ em hiện nay được quan tâm trên nhiều khía cạnh. Trong những năm 1989, Công ước Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em dường như cũng lại ra đời đã ghi nhận các quyền cơ bản của trẻ em như các nhóm quyền sống còn, và có cả các nhóm quyền bảo vệ, nhóm quyền phát triển và nhóm quyền tham gia. Có thể khẳng định được rằng cũng chính công ước này thể hiện sự tôn trọng và quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với trẻ em. Đồng thời nó cũng chính là những điều kiện cần thiết để trẻ em được phát triển đầy đủ trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm. Sự kiện tiếp theo có thể nhận thấy được vào năm 1990 Tuyên bố thế giới… đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể và toàn diện nhằm bảo vệ và chăm sóc trẻ em cùng với một bản kế hoạch hành động khá chi tiết trên từng mặt cơ bản. Dễ dàng nhận thấy được cũng chính tuyên bố này một lần nữa thể hiện sự quan tâm thích đáng của cộng đồng quốc tế đối với các quyền lợi và tương lai của trẻ em.

    Hiện nay ta như nhận thấy được cũng chính vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm. Việt Nam vinh dự và cũng thật tự hào là nước thứ hai trên thế giới kí và phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em. Và ta như thấy được cũng chỉ sau Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em năm 1990, lúc này đây thì Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định Chương trình hành động vì sự sống còn. Đồng thời như cũng thấy được cũng chính quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em Việt Nam từ năm 1991 đến 2000, đặt thành một bộ phận của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trên cơ sở những luật pháp như được ban bố kia thì các ngành, các cấp phải có những hoạt động thật cụ thể để nhằm đảm bảo các quyền lợi của trẻ em như các chính sách hỗ trợ kinh tế đối với trẻ em nghèo để các em có thể đến trường, quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, trường học, thiết bị dạy học… để nâng cao chất lượng giáo dục, kêu gọi các tổ chức xã hội và nhân dân đóng góp xây đựng trường lớp, giúp đỡ trẻ em khuyết tật, đóng góp quỹ vì người nghèo, vì trẻ em bị nhiễm chất độc màu da cam, khuyến khích mở các lớp học tình thương, các trung tâm bảo trợ trẻ em mồ côi, tàn tật, lang thang không nơi nương tựa…

    Trẻ em cũng cần được yêu thương và chăm sóc cho nên những hành động có hại hay mang đến những tổn thương cho các em cần được lên án và tẩy chay.

    Hiện nay thì các tình trạng bạo hành trẻ em của nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới cũng đang có xu thế gia tăng và theo nhiều cấp độ và hình thức khác nhau. Bên cạnh những việc làm có ý nghĩa như hiện tượng cá nhân tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang thì vẫn còn không ít những quyền của trẻ em hiện nay đang bị xâm hại và không được coi trọng. Tất cả những vấn nạn gây ra nhiều tổn thương về tinh thần cũng như thể xác của các em cũng cần được đưa ra để có những biện pháp xử lý cụ thể nhất, nhằm có thể răn đe cho người sau. Trẻ em cũng nên được giáo dục hiểu biết về luật pháp cũng như những quyền của chính mình. Các em luôn xứng đáng với sự quan tâm, chăm sóc của người thân và toàn xã hội.

    Trẻ em chính là chủ nhân tương lai của đất nước, nên hãy biết yêu quý và bảo vệ các em để tránh những điều không tốt làm tổn hại đến nhân phẩm cũng như thể xác.

~Châu's ngốc

28 tháng 8 2019

Gia đình là tổ ấm, là cái nôi nuôi dưỡng con trẻ khôn lớn thành người. Thế nhưng, hiện nay có một thực trạng đáng buồn xảy ra chính là nạn bạo hành trẻ em ở ngay chính trong ngôi nhà của mình. Nếu chúng ta không có những biện pháp can thiệp thì không biết những đứa trẻ tội nghiệp kia còn phải chịu những tổn thương gì và tương lai chúng sẽ ra sao.

   Bạo hành là hành động xâm hại đến thể chất cũng như tinh thần của con người. Bạo hành trẻ em trong gia đình chính là tình trạng những người cha, người mẹ hoặc những người thân trong gia đình sử dụng những hành động xâm phạm đến thân thể hoặc tinh thần của các em. Đó có thể là cha mẹ ruột đánh đập con cái. Hay cũng có thể là cảnh mẹ kế, cha dượng ghẻ lạnh, hắt hủi con riêng của vợ hoặc chồng. Hay đơn giản, đó là những lời chê bai, chửi bới, xúc phạm đến tâm hồn, tinh thần con trẻ…

   Ngày nay, tình trạng bạo hành trẻ em ngày một có chiều hướng gia tăng. Mỗi ngày, những thông tin về bạo hành trẻ em trong gia đình xuất hiện nhan nhản trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Mới đây nhất, vụ việc bé G.K (được báo chí giấu tên) 10 tuổi, bị chính cha ruột là ông Trần Hoài Nam (Phường Nghĩa Đô – Hà Nội) cùng với mẹ kế đánh đập dã man tới mức phải nhập viện vì gãy xương xườn và rạn sọ não. Không chịu nổi bạo hành trong thời gian dài, bé đã phải bỏ trốn tới cầu cứu ông nội mới thoát thân. Đó chỉ là một trong rất nhiều cảnh thương tâm mà chúng ta phải chứng kiến mỗi ngày.

   Bạo hành trẻ em giống như một tội ác khó dung thứ, khi mà nạn nhân chỉ là những đứa trẻ non nớt, vô tội. Bạo hành không chỉ ảnh hưởng tới thân thể mà còn ảnh hưởng tới tâm lý của các em rất nhiều. Những thân thể non nớt với những vết thương rướm máu chằng chịt, những vết bầm tím nối dài khắp cơ thể, những vết sẹo mãi chẳng lành. Như bé G.K trong ví dụ trên, việc gãy xương sườn và sạn sọ não không chỉ ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và tính mạng của bé thời điểm đó mà còn để lại những di chứng xấu về sau này. Nếu không được chăm sóc, thể chất bé sẽ không thể phát triển bình thường như bao bạn khác được nữa. Nếu như nỗi đau thể xác ám ảnh, đau đớn ảnh hưởng một thì những tổn thương, những ám ảnh tâm lý ảnh hưởng tới các bé gấp mười lần. Thay vì việc vui cười, chạy nhảy như bao bạn đồng trang lứa khác thì các bé lại sống trong cảnh hoang mang, sợ hãi thường trực với những trận đòn roi không ngớt, những câu mắng chửi ác độc. Dần dần, nó tạo tâm lý trầm cảm, sợ hãi và tự ti cho các bé. Sự phát triển của trẻ ngày một lệch lạc hơn khi chúng không được định hướng đúng đắn. Và rất có thể, sau này khi lớn lên, chúng cũng sẽ lại trở thành những kẻ vũ phu, những kẻ bạo hành người khác… Bản thân những người bạo hành cũng sẽ bị pháp luật xử lý, bị xã hội lên án hay chính lương tâm họ cũng sẽ bị căn dứt trước những hành động nhẫn tâm của mình.

   Để dẫn đến những hậu quả thương tâm ấy, chúng ta có thể kể tới rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Đó có thể là do hậu quả của việc cha, mẹ say sỉn, mất kiểm soát hành vi của mình. Hay do hoàn cảnh gia đình khó khăn, áp lực công việc đè nặng, trình độ dân trí lại thấp khiến con người bị quá tải, mất khả năng kiểm soát hành động. Bên cạnh đó, còn là sự ích kỉ, nhỏ nhen của một bộ phận những người làm mẹ kế, cha dượng đẩy những đứa trẻ tội nghiệp vào những hoàn cảnh bi thương….

   Trước sự việc đó, mỗi chúng ta cần đưa ra những biện pháp để khắc phục và hạn chế tối đa tình trạng bạo hành trẻ em trong gia đình xảy ra. Khi phát hiện ra những trường hợp bạo hành trẻ em, cần can thiệp và báo ngay đến cơ quan chức năng để xử lý kịp thời. Mỗi người làm cha, làm mẹ hay những người thân của bé cũng nên bình tĩnh cũng như học cách yêu thương con cái mình tốt hơn. Chỉ nên sinh 1 đến 2 con để đảm bảo cho trẻ những điều kiện chăm sóc tốt nhất. Hãy kiên nhẫn với trẻ nhỏ cũng như suy nghĩ trước khi đưa ra những quyết định ảnh hưởng đến con cái như ly hôn hay tảo hôn….

   “Trẻ em như búp trên cành”, trẻ em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước. Hãy chăm sóc và bảo vệ trẻ nhỏ vì chúng đáng được nhận mọi sự yêu thương. Đừng để bạo hành trẻ em trong gia đình làm mất đi tương lai của con nhỏ.

!Châu's ngốc

1 tháng 9 2019

2, Nguyên nhân cái chết Vũ Nương

+ do lời nói ngây thơ của bé Đản.

+ Do người chồng đa nghi, hay ghen.

+ Do cách cư xử hồ đồ, thái độ phũ phàng, thô bạo của Trương Sinh.

+ Do cuộc hôn nhân không bình đẳng

+ Do lễ giáo hà khắc, phụ nữ không có quyền được nói, không có quyền được tự bảo vệ mình.

+ Do chiến tranh phong kiến gây nên cảnh sinh ly.

4, Ý nghĩa chi tiết cái bóng

+ Cái bóng “trên tường” hay còn được gọi là “Cha Đản” vừa là chi tiết thắt nút, là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cái chết của Vũ Nương. Đồng thời cũng là chi tiết mở nút khi Trương Sinh nhận ra cái bóng trên tường chính là người mà bé Đản gọi là Cha. Chi tiết cái bóng còn góp phần hoàn thiện thêm vẻ đẹp nhân cách của Vũ Nương, đồng thời cũng thể hiện rõ nét hơn số phận bi kịch của Vũ Nương nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung. Cái bóng “trên tường” còn góp phần tố cáo những oan trái, bất công trong xã hội phong kiến xưa.

- Cái bóng “trên sông” khi Vũ Nương trở về: đây là cái bóng mang ý nghĩa của chi tiết kỳ ảo. Bóng “trên sông” có ý nghĩa:

+ “Chiếc bóng” xuất hiện ở cuối truyện: “Rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất” : khắc họa giá trị hiện thực, nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

+ “Chiếc bóng” mang ý nghĩa thức tỉnh người đọc về bài học hạnh phúc muôn đời: một khi đánh mất niềm tin, hạnh phúc chỉ còn là chiếc bóng mờ ảo, hư vô. Oan đã được giải nhưng Vũ Nương không thể trở về trần gian được nữa. Câu chuyện trước sau vẫn là bi kịch về cuộc đời của một người con gái thủy chung, đức hạnh.

Học tốt :) 

- Ý nghĩa cái chết của Vũ Nương
  • Sự bế tắc và tuyệt vọng: Là hành động cuối cùng để bảo vệ danh dự khi mọi lời giải thích đều vô hiệu; cho thấy bi kịch của người phụ nữ bị dồn đến đường cùng.
  • Sự khẳng định lòng thủy chung: Mượn dòng nước Hoàng Giang để minh chứng cho tấm lòng trong trắng ("vào nước xin làm ngọc Mỵ Châu, xuống đất xin làm cỏ ngu mỹ").
  • Giá trị tố cáo: Phê phán chế độ nam quyền độc đoán, gia trưởng và cuộc chiến tranh phi nghĩa đã gián tiếp gây nên cái chết oan khuất.
  • Yếu tố bi kịch: Cái chết tạo nên sự thức tỉnh muộn màng của Trương Sinh, làm tăng sức nặng tố cáo hiện thực xã hội phong kiến bất công.
-Ý nghĩa mỗi lời nói của Vũ Nương Lời nói của Vũ Nương được chia làm các giai đoạn, phản ánh phẩm chất và số phận:
  • Lời dặn dò chồng khi đi lính:
    • Thể hiện sự khiêm nhường, không màng vinh hoa ("chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu"), chỉ cầu chồng bình yên trở về.
    • Cho thấy lòng thủy chung, sự thấu hiểu nỗi vất vả của chồng nơi biên ải.
  • Lời phân trần khi bị nghi oan (lần 1 & 2):
    • Khẳng định sự gìn giữ tiết hạnh ("cách biệt ba năm giữ gìn một tiết").
    • Cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình bằng cách gợi lại tình nghĩa vợ chồng, mong chồng đừng tin lời con trẻ mà nghi oan.
  • Lời than trước khi nhảy xuống sông (lần 3):
    • Là lời thề nguyền trước thần linh, thể hiện sự cương quyết bảo vệ phẩm giá.
    • Sử dụng những hình ảnh ước lệ (ngọc Mỵ Châu, cỏ ngu mỹ) để minh chứng cho sự trong sạch của bản thân.
  • Lời nói lúc ẩn hiện trên dòng sông:
    • Thể hiện tình cảm gắn bó với quê hương, gia đình nhưng cũng là lời khẳng định sự chia lìa vĩnh viễn ("thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa").
    • Làm đậm thêm màu sắc kỳ ảo và hoàn tất việc giải oan cho nhân vật.


Đề 2:  Phần II. Đọc – hiểu (2,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:              Đam mê là điều cần thiết để thành công. Vì sự nhiệt huyết, niềm say mê trong lúc ta làm điều mình yêu thích, sẽ giúp ta vượt qua khó khăn dễ dàng hơn. Nhưng đừng nghĩ rằng chỉ cần có được đam mê thì sẽ thành công. Vì sao? Là một người lựa chọn sống với đam...
Đọc tiếp

Đề 2:  Phần II. Đọc – hiểu (2,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

             Đam mê là điều cần thiết để thành công. Vì sự nhiệt huyết, niềm say mê trong lúc ta làm điều mình yêu thích, sẽ giúp ta vượt qua khó khăn dễ dàng hơn. Nhưng đừng nghĩ rằng chỉ cần có được đam mê thì sẽ thành công. Vì sao? Là một người lựa chọn sống với đam mê, tôi nhận ra rằng: nếu có đam mê mà không kiên trì nỗ lực thì làm gì cũng sẽ thất bại. Bất kì công việc nào cũng sẽ có điểm mình thích, điểm mình không thích. Ngay cả khi đang làm công việc mà mình đam mê thì cũng có những ngày cực kì hứng khởi và những quãng thời gian với vô vàn khó khăn. Những thử thách trong bất kì công việc nào cũng đều tồn tại. Điều quan trọng là cam kết với việc mình làm. Cam kết để đẩy mình qua những khoảng thời gian khó khăn. Cam kết để dốc hết sức mình vượt lên trở ngại. Cam kết để ráng thêm chút nữa ngay cả khi đã rã rời.

            Đam mê là cái ban đầu. Nhưng ý chí, nghị lực vượt khó, sự kiên trì của bản thân là những nguyên liệu khác của chiếc bánh thành công. Đam mê cũng không phải tự dưng mà có. Nó là điểm giao thoa giữa sở thích và tiềm năng. Từ hai chất xúc tác đó, người ta tiếp theo xát, mài, giũa, học tập trau dồi, tìm kiếm cơ hội, làm việc, thực hành... Đến một lúc nào đó nó sẽ phát triển thành thiên hướng nghề nghiệp của con người. Nếu có đam mê, nhưng không rèn luyện thì tiềm năng chẳng bao giờ hé nở.             

 (Theo Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? - Rosie Nguyễn)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên. (0.25 điểm)

Câu 2.Theo tác giả, những nguyên liệu để tạo nên “chiếc bánh thành công” là gì? (0.25 điểm)

Câu 3. Hãy chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp điệp cấu trúc được sử dụng trong đoạn văn: “Điều quan trọng là cam kết với việc mình làm. Cam kết để đẩy mình qua những khoảng thời gian khó khăn. Cam kết để dốc hết sức mình vượt lên trở ngại. Cam kết để ráng thêm chút nữa ngay cả khi đã rã rời”. (1.0 điểm)

Câu 4. Em hãy cho biết niềm đam mê của mình và kế hoạch biến niềm đam mê đó thành hiện thực. (0.5 điểm)

Phần III. Làm văn (6,0 điểm)

Câu 1 (1.5 điểm)

            Từ nội dung đoạn trích trong phần đọc – hiểu, em hãy viết một đoạn văn nghị luận có độ dài khoảng 12 câu nêu suy nghĩ về ý nghĩa của việc theo đuổi đến cùng niềm đam mê của bản thân trong cuộc sống.        

1
28 tháng 2 2022

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là: Nghị luận

Câu2: Theo tác giả, việc hiểu được bản thân là điều khó, cần hiểu bản thân để từ đó làm việc mình thích và có một cuộc đời như mơ ước.

Câu 3: “Mỗi người trong chúng ta là một cá thể khác biệt“, Mỗi cá nhân trong đời sống có một ngoại hình riêng, một cá tính, tính cách độc lập; có những sở trường, sở đoản… khác nhau.

 

Đề 2:  Phần II. Đọc – hiểu (2,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:              Đam mê là điều cần thiết để thành công. Vì sự nhiệt huyết, niềm say mê trong lúc ta làm điều mình yêu thích, sẽ giúp ta vượt qua khó khăn dễ dàng hơn. Nhưng đừng nghĩ rằng chỉ cần có được đam mê thì sẽ thành công. Vì sao? Là một người lựa chọn sống với đam...
Đọc tiếp

Đề 2:  Phần II. Đọc – hiểu (2,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

             Đam mê là điều cần thiết để thành công. Vì sự nhiệt huyết, niềm say mê trong lúc ta làm điều mình yêu thích, sẽ giúp ta vượt qua khó khăn dễ dàng hơn. Nhưng đừng nghĩ rằng chỉ cần có được đam mê thì sẽ thành công. Vì sao? Là một người lựa chọn sống với đam mê, tôi nhận ra rằng: nếu có đam mê mà không kiên trì nỗ lực thì làm gì cũng sẽ thất bại. Bất kì công việc nào cũng sẽ có điểm mình thích, điểm mình không thích. Ngay cả khi đang làm công việc mà mình đam mê thì cũng có những ngày cực kì hứng khởi và những quãng thời gian với vô vàn khó khăn. Những thử thách trong bất kì công việc nào cũng đều tồn tại. Điều quan trọng là cam kết với việc mình làm. Cam kết để đẩy mình qua những khoảng thời gian khó khăn. Cam kết để dốc hết sức mình vượt lên trở ngại. Cam kết để ráng thêm chút nữa ngay cả khi đã rã rời.

            Đam mê là cái ban đầu. Nhưng ý chí, nghị lực vượt khó, sự kiên trì của bản thân là những nguyên liệu khác của chiếc bánh thành công. Đam mê cũng không phải tự dưng mà có. Nó là điểm giao thoa giữa sở thích và tiềm năng. Từ hai chất xúc tác đó, người ta tiếp theo xát, mài, giũa, học tập trau dồi, tìm kiếm cơ hội, làm việc, thực hành... Đến một lúc nào đó nó sẽ phát triển thành thiên hướng nghề nghiệp của con người. Nếu có đam mê, nhưng không rèn luyện thì tiềm năng chẳng bao giờ hé nở.             

 (Theo Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? - Rosie Nguyễn)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên. (0.25 điểm)

Câu 2.Theo tác giả, những nguyên liệu để tạo nên “chiếc bánh thành công” là gì? (0.25 điểm)

Câu 3. Hãy chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp điệp cấu trúc được sử dụng trong đoạn văn: “Điều quan trọng là cam kết với việc mình làm. Cam kết để đẩy mình qua những khoảng thời gian khó khăn. Cam kết để dốc hết sức mình vượt lên trở ngại. Cam kết để ráng thêm chút nữa ngay cả khi đã rã rời”. (1.0 điểm)

Câu 4. Em hãy cho biết niềm đam mê của mình và kế hoạch biến niềm đam mê đó thành hiện thực. (0.5 điểm)

Phần III. Làm văn (6,0 điểm)

Câu 1 (1.5 điểm)

            Từ nội dung đoạn trích trong phần đọc – hiểu, em hãy viết một đoạn văn nghị luận có độ dài khoảng 12 câu nêu suy nghĩ về ý nghĩa của việc theo đuổi đến cùng niềm đam mê của bản thân trong cuộc sống.        

0