Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Chị ơi dàn ý như này có đc ko ạ?
Dàn ý miêu tả con vịt
1. Mở bài:
- Giới thiệu con vịt nhà em nuôi (nuôi từ lúc nào, do ai cho ?)
2. Thân bài:
a) Tả bao quát:
- Giới thiệu loại vịt (giống vịt gì, vịt cỏ)
- Hình dáng: to bằng gì? Cao thế nào? Lông màu gì?
b) Tả chi tiết:
- Tả các bộ phận của vịt, chọn tả đặc điểm nổi bật nhất.
+ Đầu (to, hình tam giác, trán rộng, mõm dài hay ngắn.
+ Chú ý: đặc điểm của vịt tùy vào giống vịt thuộc loại gì?
- Mắt: đen ươn ướt (hoặc nâu) sáng loáng như có nước, lanh lợi, tinh khôn.
- Mõm: đen, ươn ướt. đánh mùi rất thính nhạy.
c) Nêu sự chăm sóc của em đối với chú vịt: cho ăn, tắm rửa, vui đùa.
3. Kết luận:
- Nêu ích lợi của việc nuôi vịt.
- Nêu tình cảm của em đối với con vịt đã tả.
Cách đo thể tích chất lỏng bằng bình chia độ:
-Ước lượng thể tích cần đo
-Chọn bình chia độ có GHĐ và có ĐCNN thích hợp
-Đặt bình chia độ thẳng đứng
-Đặt mắt nhìn ngang với độ cao mực chất lỏng trong bình
-Đọc và ghi kết quả đo theo vạch chia gần nhất với mực chất lỏng.
MỞ BÀI :
- EM CÓ MỘT NGƯỜI CÔ RẤT ĐẸP VÀ HIỀN HẬU
- CÔ EM Ở TRƯỜNG AI CX IU QUÝ
- CÔ ĐÃ DẠY CHÚNG EM TỪ 2 NĂM CUỐI CẤP RỒI
THÂN BÀI :
- CÔ TÊN LÀ HẰNG CÁC ANH CHỊ KHI THĂM TRƯỜNG ĐỀU GHÉ QUA CHỖ CÔ EM
- CÔ CÓ NƯỚC DA TRẮNG MỊN VÀ HỒNG HÀO
- CÔ LUÔN MỈM CƯỜI VỚI CHÚNG EM
- CÔ GIẢNG BÀI CŨNG RẤT RỄ HIỂU
- NẾU CÓ BN NÀO LÀM SAI ĐIỀU J CÔ PHẠT RẤT NGHIÊM KHẮC NHƯNG CX RẤT NHẸ TAY DƠ CAO ĐÁNH KHẼ
- CÔ CÓ MÁI TÓC MỎNG VÀ DÀI NGANG VAI
- CÔ CÓ ĐÔI BÀN TAY RẤT ĐẸP
- CÔ MẶC QUẦN ÁO CX RẤT GIẢN DỊ ĐÔI KHI CÔ CX MẶC CHIẾC ÁO DÀI LÀM TÔN LÊN VẺ ĐẸP CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT
- CÔ RẤT CAO DÁNG CÔ DONG DỎNG
- CÔ LUÔN TẬN TÌNH VỚI HỌC SINH CỦA MÌNH DẠY BẢO TỪNG TÝ MỘT
KẾT BÀI :
- EM RẤT YÊU CÔ
- EM MONG CÔ SẼ KHỎE MẠNH ĐỂ HẾT DỊCH CÔ CÓ THỂ DẠY CHO CHÚNG EM NHỮNG BÀI HỌC HAY NHIỀU HƠN NỮA .
K CHO MÌNH NHA
Vậy bạn hỏi chi ?
Tự nghĩ đi chứ
Mấy cái bài này mình hok rùi
Để mình tìm mấy cái tài liệu cô mình dạy rùi mình gửi cho bạn nha !
1.
I. Mở bài :
- Giới thiệu quả dưa hấu
- Trong rất nhiều các loại trái cây như: táo, lê, cam, dâu tây... Loại trái cây mà em thích nhất đó chính là quả dưa hấu.
II. Thân bài:
a. Giới thiệu nguồn gốc :
Không biết dưa hấu có từ bao giờ, chỉ biết theo như dân gian dưa hấu có nguồn gốc từ sự tích An Dương Vương.
b. Tả chi tiết:
- Quả dưa hấu nặng từ một cân đến gần một yến, tùy theo thời gian thu hoạch và giống dưa. Quả dưa hấu hình elip thuôn thuôn dài.
- Quả có vỏ ngoài màu xanh thẫm nhẵn thín có các đường sọc kéo dài .
- Bên trong quả dưa hấu là lớp cùi màu trắng dài khoảng gần 1cm. Quả dưa ngon là khi cùi mỏng, vỗ vào kêu bồm bộp. Phía bên trong cùi trắng là phần ruột màu đỏ có lấm tấm hạt màu đen nhỏ. Phần ruột là phần to nhất trong quả. Hạt dưa hấu có thể ăn được có vị bùi bùi. Dưa hấu ăn ngọt thanh mát chứ không ngọt sắc như nhãn. Còn gì tuyệt vời hơn khi được ăn một miếng dưa hấu trong mùa hè nóng bức.
- Ta có thể bổ cắt thành những miếng hình tam giác để có thể dễ dàng thưởng thức. Dưa hấu có thể làm được nhất nhiều món ngon như sinh tố dưa hấu, kem dưa hấu, đá bào dưa hấu.... Được uống cốc sinh tố do mẹ làm, ăn que kem làm từ dưa hấu ở cổng trường sẽ là những kỉ niệm khó quên.Dưa hấu cũng có thể trở thành một hình thức của nghệ sĩ cắt tỉa dưới bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ. Dưa hấu chứa rất nhiều chất dinh dưỡng như vitamin C, vitamin A, chất khoáng, ....Dưa hấu có tính hàn là một món ăn giải nhiệt trong những ngày hè. Dưa hấu cũng là một vị thuốc chữa nhiều bệnh như tăng cường hệ miễn dịch, chống ung thư, làm lành vết thương...
- Dưa hấu được bày bán rất nhiều ở các cửa hàng siêu thị, chợ với mức giá cả phải chăng từ tám đến mười lăm nghìn đồng ở Việt Nam.
- Dưa hấu thường được trồng ở các nước có nền khí hậu ẩm nhiệt đới, không phù hợp với thời tiết ôn đới hay hàn đới.
III. Kết bài:
Cảm nghĩ bản thân .
2.
Vườn nhà nội không thiếu những loài cây ăn quả. Nào là táo, là cam, là quýt hay hồng hay lựu nhưng loài cây mà em thích nhất vẫn là cây bưởi.
Cây bưởi đứng e lệ ở một góc vườn nhà. Dáng cây cao lớn, xum xuê trông rất khỏe khoắn dẻo dai. Thân cây nghiêng nghiêng như đang nhoài người vươn ra không gian đón nắng đón gió đất trời. Rễ cây to, dài cắm sâu vào lòng đất hút chất dinh dưỡng cho thân mẹ. Chốc chốc lại thấy những nhánh rễ trồi lên khỏi mặt đất như những con rắn nhỏ ngoằn ngoèo uốn lượn. Lá bưởi to hơn lá cam một chút, xanh tươi mơn mởn. Vào mùa hoa, cây ra hoa thơm nức vừa ngọt ngào vừa dịu mát, mấy người chị họ của em thường lấy hoa bưởi cài lên mái tóc trông vô cùng duyên dáng. Hoa tàn cũng là lúc bưởi kết trái, ban đầu chỉ là những quả nhỏ xíu lấp ló sau phiến lá nhỏ, càng lớn da bưởi càng căng mọng, quả lớn hơn, xang rì. Bưởi nhà em là bưởi da xanh, ngon nhất trong các loại bưởi. Khi bóc vỏ, hương bưởi thơm dịu dàng làm lòng người cũng nhẹ nhàng hơn. Từng múi bưởi căng mọng những nước, ăn vào ngọt thanh, ngon lành. Bưởi cũng là thứ quả em thích ăn nhất. Không chỉ để ăn như một cây ăn quả, người ra còn chiết xuất hương hoa bưởi, tinh dầu bưởi rất tốt.
Em mong cây bưởi lúc nào cũng khỏe mạnh, ngày càng ra nhiều hia kết nhiều trái cho nhà em hơn.
3.
I. Mở bài: Giới thiệu về con mèo
II. Thân bài:
1. Tả bao quát:
- Con mèo của bạn thuộc giống mèo gì?
- Con mèo bao nhiêu tuổi và bao nhiêu kí.
- Con mèo khoác lên mình bộ long màu gì.
2. Tả chi tiết
- Đầu: đầu nó tròn như trái banh
- Mắt: long lanh
- Hai cái tai: vểnh vểnh hình tám giá trong vui mắt
- Mũi: phơn phớt hồng bao giờ cũng ươn ướt
- Bộ ria bao giờ cũng vểnh trông rất oai vệ
- Đuôi: bao giờ cũng vẫy vẫy, dài khoản 15cm
- Chân: có móng vuốt
3. Hoạt động, tính nết của mèo
- Ban ngày mèo rất thảnh thơi vui chơi, nô đùa
- Khi ăn rất từ tốn và gọn gang
- Khi bắt chuột, toàn thân im phắc, đôi mắt mở to chăm chú nhìn về phía trước rồi bất chợt lao nhanh.
III. Kết bài
- Nêu cảm nghĩ về con mèo
- Nêu tình cảm của bạn với con mèo .
4.
“Meo! Meo! Meo!” Vừa về tới nhà, chú Bông Bông đã quấn lấy chân em mừng rỡ ra mặt Đó là chú mèo ba xin được ở nhà một người bạn thân năm em tròn tám tuổi.
Chú mèo có bộ lông trắng muốt nên em đặt tên cho nó là Bông Bông. Khi mới đưa về chú chỉ to bằng chai nước suối Lavi loại nhỏ. Một năm sau chú đã to bằng chiếc bình thủy Rạng Đông. Bông Bông có cái đầu tròn xoe ngộ nghĩnh to bằng quả bóng nhựa của em. Đôi tai rất thính. Chỉ một tiếng động nhỏ chú cũng phát hiện được nó phát ra từ hướng nào. Đôi mắt của chú tròn vành vạnh và trong xanh như màu nước biển. Cái mũi thì nhỏ xíu phơn phớt màu hồng lúc nào cũng ươn ướt như người bị sổ mũi. Hai bên mép là bộ ria trắng như cước vểnh lên mỗi khi đánh hơi thấy con mồi. Thân hình chú dài, thon thả và mềm mại như các diễn viên xiếc. Mỗi khi chú vươn vai, cải đuôi cong lên như hình một dấu ngã. Bộ lông thì dày, mịn, nhuyễn như nhung. Bàn chân phía dưới có nệm thịt dày màu hồng nhạt, giúp chú di chuyển nhẹ nhàng không gây ra tiếng động. Ngón chân có móng dài sắc ngọt. Những lúc vui chú cào cào vào người, em cảm giác nhồn nhột.
Ban ngày, chú như một cậu ấm hiền lành và thích nhõng nhẽo. Nhưng khi đêm xuống, chú như một trinh sát lành nghề nhanh nhẹn và hoạt bát vô cùng. Chú thường đi vòng quanh nhà rồi dừng lại ở những chỗ mà chú nghi là lũ chuột thường hay thăm viếng.
Buổi sáng, khi nắng vàng phủ khắp sân, mèo nằm cạnh gốc cau, phưỡn cái bụng trắng hồng, mắt lim dim nhìn những áng mây trắng như bông lững lờ trôi trên nền trời xanh cao vời vợi, thật đáng yêu. Có lúc chú giơ chân lên miệng liếm liếm rồi ngồi xổm dậy, quẹt quẹt cái mặt như người gãi ngứa.
Em rất quý Bông Bông vì từ khi có chú, em như có thêm một người bạn luôn ở cạnh. Và điều đáng mừng hơn cả là lũ chuột tự nhiên biến đi đâu mất. Nó đúng là một con vật hữu ích, đáng yêu, đáng quý.
a. Mở bài
- Dẫn dắt, giới thiệu về chú vẹt mà em muốn tả
- Gợi ý: Trên ban công nhà em, là một vườn cây cảnh nhỏ và xinh đẹp. Trên cùng có treo một chiếc lồng chim lớn như cái tivi được trang trí lộng lẫy. Đó là ngôi nhà và khu vui chơi mà cả gia đình em tạo ra để dành tặng cho Chíp - chú vẹt đáng yêu vừa tròn một tuổi.
b. Thân bài
- Miêu tả chú vẹt:
- To hơn bàn tay của bố một chút, nặng như một cái tô đựng đầy bún
- Toàn thân bao phủ bởi một lớp lông màu xanh dương, riêng hai bên má và bụng là màu cam
- Cái mỏ khoằm, đen bóng rất cứng giúp chú mổ được các loại quả, hạt
- Hai bàn chân là hai bộ móng vuốt to và sắc, giúp chú có thể bám vào bất kì địa hình nào
- Đôi mắt chú khá nhỏ, tròn xoe và đen láy, xung quanh mắt là phần viền màu xám, như là đeo kính
- Phần lông phía dưới mắt và má, là một nhúm màu trắng tinh, giống hệt được đánh phấn
- Toàn thân chú có nhiều màu lông rực rỡ, không pha trộn mà tách biệt rõ ràng, giống như một chú hề
- Cánh của vẹt không quá lớn, khi khép lại cũng chỉ dài bằng thân
- Riêng đuôi của vẹt thì rất dài, đoạn dài nhất có thể dài hơn khoảng cách từ đầu đến mông của nó
- Hoạt động, tính cách:
- Món ăn ưa thích của chú vẹt là các loại hoa quả, đặc biệt là những loại hạt cứng
- Hằng ngày, chú ta thường đứng trên thanh gỗ trong lồng sung sướng sưởi nắng
- Chú ta thường bắt chước theo tiếng nói của bố, hay phát ra các âm thanh ngộ nghĩnh khi ở một mình
- Bây giờ, chú đã có thể nói được hai tiếng xin chào rồi
- Là chim nhưng chú ta rất ít bay, chỉ khi nào cần về chiếc lồng được treo trên cao thì chú mới bay thôi
- Nhưng để đảm bảo không bị lạc, bố vẫn giăng lưới quanh ban công để tạo một không gian khép kín
- Dù vậy, mắt lưới vẫn rất to, như bàn tay em để đảm bảo chú vẹt không ra được nhưng cũng không bị bí
- Thường ngày, chú sẽ sà xuống nền, lắc lư đi lại như người, làm cái đuôi nhỏ của bố
- Khi đi ngủ chú mới bay về chuồng
- Chú vẹt rất thông minh, biết làm nũng, cọ vào chân của mọi người để xin ăn
c. Kết bài
- Tình cảm của em dành cho chú vẹt
- Gợi ý: Em thích Chíp lắm. Ngày nào em cũng dành thời gian để ngồi chơi với chú. Em còn theo bố học cách dọn dẹp chuồng và vệ sinh cho chú ta nữa. Mong rằng Chíp sẽ luôn khỏe mạnh để sống thật lâu cùng gia đình em.
1. Mở bài
Giới thiệu về con vật em muốn tả (Tả con chó)
+ Đó là con vật gì?
+ Được nuôi ở đâu?
2. Thân bài
- Hình dáng:
+ Thân hình to lớn
+ Bộ lông vàng óng, đôi mắt đen và tròn.
+ Hàm răng sắc nhọn
+ Đôi tai nhỏ, vểnh lên
- Thói quen:
+ Vẫy đuôi, chạy vòng quanh mỗi khi em đi học về
+ Nằm sưởi ấm dưới ánh nắng vào buổi sáng
+ Bắt chuột giỏià quẫy đuôi khoe chiến công
+ Biết đi vệ sinh đúng chỗ
+ Đêm đến chú chó nằm trông nhà
3. Kết bài
Tình cảm của em với loài vật nuôi ấy.
K mình ik
1. Mở bài: Giới thiệu chung về cảnh đẹp ở quê mà em định tả (cánh đồng, con đường làng, sông, suối, hay danh lam thắng cảnh gì?
Ví dụ: Em sinh ra và lớn lên ở một làng quê yên bình. Nơi đây có cánh đồng lúa rộng mênh mông bát ngát, có bờ đê thoai thoải mà mỗi chiều về lại nô nức lũ trẻ thả diều, có con đường làng gập ghềnh đất đỏ…Nhưng có một nơi mà em luôn nhớ nhất và đầy ắp những kỉ niệm tại đây là con sông bao quanh ngôi làng em...
2. Thân bài
a) Tả bao quát những đặc điểm nổi bật của cảnh đẹp quê hương
Nêu đặc điểm nổi bật của cảnh đó như: Màu sắc, mùi vị chung của toàn cảnh (rộng, hẹp...) như thế nào?
Ví dụ:
- Mặt sông rộng mênh mông. Đứng bên đây bờ có thể nhìn sang bên kia bờ.
- Buổi không khí trong lành, mát mẻ. Mùi lúa chín thơm ngào ngạt làm tôi sảng khoái hẳn lên. Lúa trải dài mênh mông như tấm lụa vàng...
- Con đường từ nhà đến trường rất đẹp và đơn giản
b) Tả chi tiết cảnh đẹp
- Cảnh miêu tả cụ thể qua không gian, thời gian, màu sắc, hương vị...
- Hai bên đường có những đoạn có cây gỗ to, có đoạn có hoa, có đoạn thì là cỏ, có đoạn thì có nhà….Những chú chim và bướm bay nhảy trên những ngọn cây hai bên đường
- Nước sông như thế nào rồi hai bên bờ sông ra sao, đáy sông....
- Hoat động của con người xung quanh cảnh đó:
- Tàu thuyền tấp nập ở dòng sông, trẻ con thì nô đùa, bơi lội. Mọi người giặt giũ lấy nước
- Con đường từ nhà đến trường có rất nhiều người qua lại trên đường: như đi bộ, đi xe máy, đi làm, ra đồng,...
3. Kết bài: Cảm nghĩ của em đối với cảnh đẹp đã tả (yêu mến, nhiều kỉ niệm, gắn bó, mong có dịp trở lại...);
Ví dụ: Dòng sông quê hương ấy đã gắn bó và bồi đắp lên bao nhiêu kỉ niệm về tuổi thơ tuyệt vời của em, và của biết bao đứa trẻ khác ở vùng nông thôn ấy. Em sẽ luôn nhớ và gắn bó với hình ảnh nơi đây dù mai sau có xa quê hương
Mở bài: Giới thiệu cảnh đẹp ở địa phương em
Em sinh ra và lớn lên trên mảnh đất miền Trung đầy nắng và gió. Em lớn lên nhờ gió của biển, nhờ thức ăn của biển, nhờ cát biển,…. Chính vì thế đối với em cảnh biển là cảnh đẹp nhất đối với em. Mỗi sang tiếng còi tàu từ khơi về vang khắp nơi. Mọi người đua nhau ra đón người nhà. Nhưng em thích nhất là cảnh hoàng hôn trên biển, đây có thể là cảnh đẹp nhất của quê hương em.
II. Thân bài: tả cảnh hoàng hôn ở biển
1. Tả bao quát:
-Bầu trời dần tối lại, nắng bắt đầu tắt
- Mọi người chuẩn bị về
- Đèn đường bắt đầu mở
2. Tả chi tiết:
a. Khi mặt trời chưa lặn:
- Bầu trời trong xanh, cao vời vợi, những đám mây xanh trải khắp như một tấm thảm
- Những chú chim ríu rít bay lượn
- Nước biển trong xanh
- Nhìn xa xa là những chiếc thuyền giữa khơi chuẩn bị về đất liền sau một ngày làm việc vất vả
- Đằng xa là những ngọn núi hay cù lao chập chờn
- Những người tắm biển đông nghịt, thoải thích tắm, như tận hưởng cuộc sống sau một ngày làm việc vất cả.
b. Khi mặt trời lặn
- Nắng bắt đầu tắt, nắng dịu lại chứ không chói chang nữa
- Mặt trời từ từ đi về phía chân trời
- Hoàng hôn dần buông xuống, mặt trời như cái mâm đỏ khổng lồ.
- Nước biển từ từ chuyển màu
- Bãi cát vàng mịn bắt đầu ít người
- Những người tắm biển dần dần đi về.
III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về cảnh hoàng hôn trên biển
- Cảnh hoàng hôn trên biển đem lại cho tôi nhiều kỉ niệm đẹp về quê hương mình thời thơ ấu.
- Tôi sẽ không bao giờ quên cảnh đẹp này.
a) Mở bài: Giới thiệu chiếc áo hiện đang mặc tới lớp: Chiếc áo có từ bao giờ? Mua hay may trong dịp nào? Ai mua, mua ở đâu?
Ví dụ: Đó là một chiếc áo sơ mi màu trắng – màu đồng phục của nhà trường mà mẹ đã dẫn em đi chợ nhà lồng thị xã mua cho nhân dịp đầu năm học mới.
b) Thân bài:
– Tả bao quát chiếc áo (kiểu áo, loại vải)
– Tả từng bộ phận:
+ Cổ áo hình dáng thế nào? Bình thường hay tròn như lá sen có viền đăng ten không? v.v…
+ Thân áo: Rộng hay vừa? Cúc áo có gì đặc biệt? Hai vạt áo phía trước có in hình gì không? v.v…
+ Tay áo: dài tay, cộc tay hay tay lửng?
– Thường ngày đi học về, ai giặt áo, ai là ủi áo xếp hay mắc vào móc áo, để ở đâu?
c) Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em về chiếc áo.
Chiếc áo đồng phục này em mới được nhà trường phát cho từ tuần trước.
Khác hẳn với chiếc áo hồi lớp ba của em, chiếc áo này lại có màu rắng và màu xanh lam trông rất mát mắt. Tay áo dài, màu xanh, rất vừa với tay em. Phía trên cánh tay còn có một phù hiệu in biểu tượng quen thuộc của trường tiểu học Trần Quốc Toản, ở đó có hình trang vở, cây bút viết, tên trường, số điện thoại. Chạy dọc theo cánh tay áo là ba đường vải may màu trắng, chúng chỉ rộng khoảng một cm nhưng trông thật nổi bật trên nền vải xanh. Phần cổ tay được may bằng ba lớp chun liên tiếp nhau, có thể co giãn được và vừa khít với tay em nên khi trời lạnh, gió không thể luồn qua được. Thân áo rộng, được may bằng vải màu xanh, phía trên màu trắng, giáp giữa là hai đường vải nhỏ chạy song song với nhau trông rất đẹp. Chiếc áo khoác nhỏ nhắn, màu trắng nằm ngay sát mép vạt áo. Khi nào trời lạnh em kéo khoá áo lên kín cổ, cổ áo hiện lên màu hoa lay-ơn trắng muốt nhưng thật ấm áp. Còn khi nào trời hơi se lạnh thì em kéo đến ngang cổ rồi bẻ cổ áo ra hai bên, lúc đó, cổ áo lại là một màu xanh biếc như màu của nước biển. Thân áo còn có hai chiếc túi xinh xinh ở hai bên nhưng cũng rất rộng, em co thể đút vừa cả hai bàn tay của mình. Bên trong của áo được may bằng lớp vải màu trắng, ở giữa có lót thêm một lớp bông. Nhờ có lớp bông này mà áo phồng lên thật to, thật đẹp và khi mặc vào lại cũng thật là ấm.
Em rất yêu quý chiếc áo đồng phục của mình.
k nha
. Mở bài: giới thiệu vấn đề cần đề cập
II. Thân bài:
1. Tả bao quát:
- Con mèo của bạn thuộc giống mèo gì?
- Con mèo bao nhiêu tuổi và bao nhiêu kí.
- Con mèo khoác lên mình bộ lông màu gì.
2. Tả chi tiết
- Đầu: đầu nó tròn như trái banh
- Mắt: long lanh
- Hai cái tai: vểnh vểnh hình tam giác trong vui mắt
- Mũi: phơn phớt hồng bao giờ cũng ươn ướt
- Bộ ria bao giờ cũng vểnh trông rất oai vệ
- Đuôi: bao giờ cũng vẫy vẫy, dài khoảng 15 cm
- Chân: có móng vuốt
3. Hoạt động, tính nết của mèo
- Ban ngày mèo rất thảnh thơi vui chơi, nô đùa
- Khi ăn rất từ tốn và gọn gàng
- Khi bắt chuột, toàn thân im phắc, đôi mắt mở to chăm chú nhìn về phía trước rồi bất chợt lao nhanh.
III. Kết bài
- Nêu cảm nghĩ về con mèo
- Nêu tình cảm của bạn với con mèo
1. Mở bài: Giới thiệu về con mèo
2. Thân bài:
- Tả bao quát:
- Con mèo của bạn thuộc giống mèo gì?
- Con mèo bao nhiêu tuổi và bao nhiêu kí.
- Con mèo khoác lên mình bộ long màu gì.
- Tả chi tiết
- Đầu: đầu nó tròn như trái banh
- Mắt: long lanh
- Hai cái tai: vểnh vểnh hình tám giá trong vui mắt
- Mũi: phơn phớt hồng bao giờ cũng ươn ướt
- Bộ ria bao giờ cũng vểnh trông rất oai vệ
- Đuôi: bao giờ cũng vẫy vẫy, dài khoản 15cm
- Chân: có móng vuốt
- Hoạt động, tính nết của mèo
- Ban ngày mèo rất thảnh thơi vui chơi, nô đùa
- Khi ăn rất từ tốn và gọn gang
- Khi bắt chuột, toàn thân im phắc, đôi mắt mở to chăm chú nhìn về phía trước rồi bất chợt lao nhanh.
3. Kết bài
- Nêu cảm nghĩ về con mèo
- Nêu tình cảm của bạn với con mèo
Dàn ý chi tiết
Mở bài: Giới thiệu về con mèo định tả.
Thân bài:
- Tả ngoại hình của con mèo :
+ Bộ lông : màu vàng khoang trắng
+ Cái đầu : tròn
+ Hai tai : nhỏ xíu, dựng đứng lên nghe ngóng
+ Bốn chân : mềm, dấu móng vuốt sắc nhọn bên trong.
+ Cái đuôi : dài
+ Đôi mắt: màu xanh nhạt, tròn và trong như hòn bi
+ Bộ ria : luôn vểnh lên
- Tả hoạt động của con mèo.
+ Con mèo bắt chuột (rình rồi vồ chuột)
+ Con mèo đùa giỡn
Kết luận : Nêu cảm nghĩ của em về con mèo.
a. Mở bài (Giới thiệu chi tiết về con mèo)
- Nhà em có nuôi nhiều loài vật khác nhau trong đó mèo là con vật mà em vô cùng ấn tượng.
- Giới thiệu về xuất xứ của con mèo: mèo được mua ngoài chợ, được một người quen cho, do con mèo cũ của nhà đẻ,…
b. Thân bài
- Tả hình dáng con mèo
- Tả chiều dài của mèo: con mèo dài bằng từng nào. Mèo bé dài khoảng 1 gang tay hay mèo to dài khoảng 2 gang tay.
- Ước lượng về cân nặng của chúng: khoảng chừng 4-5kg.
- Loại mèo: mèo mướp, mèo tam thể. Miêu tả về bộ lông của chúng: lông có 3 màu vàng, trắng, đen, lông màu xám, lông đen tuyền,… Lông mèo dày và khi vuốt có cảm giác bóng mượt.
- Đầu của mèo nhỏ và tròn: như một cuộn len nhỏ, như một quả bóng tennis,…
- Thân mèo thon và dài.
- Bốn cái chân của mèo cao và rắn rỏi: ngón chân của mèo tuy ngắn nhưng có những móng vuốt vô cùng sắc nhọn. Đây chính là vũ khí săn mồi của chúng.
- Mắt mèo thường có màu xanh biếc và rất sáng. Nhờ có đôi mắt này chúng có thể nhìn rõ con mồi trong đêm tối.
- Cái mũi của con mèo nhỏ và có màu hồng, có cảm giác ướt lạnh. Hai bên có những sợi ria mép dài đâm ngang hai phía giống như những sợi râu ăng ten.
- Hai cái tai lúc nào cũng vểnh lên nghe ngóng.
- Tả hoạt động, tính nết của con mèo
- Mèo thích nhất là nằm bên cạnh bếp củi hay thích nằm sưởi dưới cái nắng ấm áp.
- Chúng thường tự thích đùa giỡn với cái đuôi của mình.
- Mèo thích dụi đầu vào chân người mỗi khi muốn được âu yếm, vuốt ve.
- Thi thoảng chú chạy đùa giỡn với mấy chú gián.
- Khi rình bắt chuột, chú nằm yên nghe ngóng và không tạo ra bất kỳ tiếng động nào. Đôi mắt chú mở to nhìn về hướng con mồi. Khi chuột xuất hiện, chú sẽ vồ ra đột ngột khiến chuột không kịp trở mình. Chú sẽ đùa giỡn với chuột một lúc trước khi làm thịt.
- Mèo thích nhất là ăn cá. Khi ăn, chú ăn một cách từ tốn, gọn gàng.
c. Kết luận
- Từ ngày nuôi mèo, gia đình em không còn bị những con chuột tấn công nữa.
- Mèo là người bạn nhỏ thân thiết đáng yêu nhất của em.
- Mèo là loài vật không thể thiếu của gia đình em.
- Em sẽ chăm sóc cho mèo thật tốt để chú luôn khỏe mạnh và hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Bạn tham khảo bài làm trên link này nha :
http://vndoc.com/lap-dan-y-bai-van-ta-con-ga-trong/download
bn tham khảo trên mạng vào chị google nha bn gõ là:
hãy viết một dàn ý về con gà
nó sẽ ra nhé!
hok tốt
DÀN Ý:
I. Mở bài: giới thiệu con gà trống
Ví dụ:
Mỗi sáng sớm thức dạy em đều nghe thấy tiếng báo thức từ một nơi xa đó là tiếng “ ò ó o….”. Đó là tiếng gáy của con gà trống nhà em. Con gà trông như đồng hồ báo thức cho gia đình em mỗi khi sáng sớm.
II. Thân bài: tả con gà trống:
1. Tả hình dáng con gà trống
2. Hoạt động của con gà trống:
3. Tả tính nết của con gà
III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về con gà trống
Ví dụ:
Con gà trống nhà em rất oai hùng. Em rất thích mỗi khi con gà trống cất giọng gáy, giọng của nó vang to và rất xa.
I. Mở bài: giới thiệu con gà trống em định tả
“ Ò Ó O….” là tiếng gáy quen thuộc mỗi sang thức giấc em đều nghe. Đó là tiếng gáy của con gà trống nhà em. Con gà trống được mẹ xin từ nhà ngoại về và chăm sóc để nó lớn chừng này. Mỗi sáng nghe tiếng gáy của nó như báo thức đã đến giờ thức dậy.
II. Thân bài: tả chú gà trống nhà em
1. Tả bao quát chú gà trống nhà em
- Chú gà trống nặng 1,5 kg
- Chú gà trống trông rất oai phong
- Màu sắc chủ yếu là màu trắng và đen
2. Tả chi tiết chú gà trống nhà em
a. Tả hình dáng chú gà trống nhà em
- Trông chú gà trống như một chàng kị sĩ oai phong
- Cái đầu chú gà màu đỏ rực, phía trên là chiếc mào gà xinh xắn
- Miệng nhọn hoắc, chú gà nhặt thóc rất giỏi
- Có hai con mắt nhỏ nhỏ phía trên đầu
- Cổ dài màu đen, mỗi khi chú gà gáy là rướng cổ dài như cái loa phát thanh của phường
- Đôi cánh chú màu vàng vàng, mỗi khi vỗ cánh rất mạnh
- Đuôi có vài cọng long xen lẫn đen và đỏ nhau
- Mình chú màu đỏ, có điểm vài cộng lông vàng và đỏ
b. Tả hoạt động của chú gà trống nhà em
- Mỗi sáng chú gà trống đều gáy báo thức gia đình em dậy, tiếng gáy của chú vang rất xa
- Sau khi trời sang đàn gà sẽ đi kiếm ăn và về ngủ lúc trời chập choạng tối
III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về chú gà trống nhà em
- Nhờ có chú gà trống mà mỗi sáng em đều dậy đúng giờ
- Em rất yêu quý chú gà trống nhà em.
1. Mở bài:
- Giới thiệu về con gà trống của gia đình em: Gia đình em có nuôi một đàn gà, trong đó có 1 chú gà trống. Hàng ngày, mỗi buổi sáng chú gà trống có nhiệm vụ đánh thức mọi người dậy.
2. Thân bài:
- Tả về ngoại hình bề ngoài của con gà trống:
+ Màu sắc lông của con gà: Con gà trống nhà em có rất nhiều màu sắc sặc sỡ, đặc biệt lông ở cổ và cánh của con gà có màu đỏ tía trông rất nổi bật.
+ Tả phần đầu của con gà: Con gà trống có cái mào rất to và cao. Mỗi lần gáy nó rướng cái cổ cao lên và xù lông ở cổ lên trông rất oai vệ. Mắt con gà trống rất to, nó thường liếc canh chừng đàn gà mái, không cho những con gà trống của hàng xóm lại gần.
+ Tả về phần thân mình của con gà: 2 cái cánh của con gà có màu sắc rất đẹp, nó thường hay giương cánh vỗ bạch bạch bạch để thu hút mấy con gà mái. hai chân của con gà trống có 2 cái cựa rất dài, đó là vũ khí lợi hại của nó để đánh nhau với mấy con gà của nhà hàng xóm của em. Có một lần nó đã dùng 2 cái cựa đó đá chết con gà trống choai của nhà hàng xóm và mẹ em đã qua đền tiền mua con gà đó về làm thịt cho cả nhà ăn.
- Tả về tính cách của con gà: Hàng ngày con gà trống thường đi theo kiếm ăn quanh đàn gà mái. Lâu lâu nó kiếm được mồi ngon là nó cục cục kêu đàn gà mái lại tranh ăn.
+ Sáng sớm nào con gà trống cũng có nhiệm vụ thức mọi người dậy. Người đầu tiên được đánh thức dậy là ba mẹ của em sau tiếng gáy lần 1 của nó. Tới trời sáng thì con gà tiếp tục gáy lần cuối thì em thức dậy đánh răng ăn sáng và đi học.
3. Kết bài:
Con gà trống rất có ích cho gia đình em, hàng ngày mỗi buổi sáng trước khi đi học và chiều tối em đều cho đàn gà ăn lúa và đều dành riêng cho nó 1 phần.
1) Mở bài
- Nhà em có nuôi nhiều gà.
- Em thích nhất là chú gà trống thiến.
2) Thân bài
a) Hình dáng:
- Gà được nuôi bốn tháng tuổi, nặng gần ba kilogam.
- Bộ lông nhiều màu sắc sặc sỡ.
- Mình gà to bằng bắp đùi người lớn.
- Hai cánh to, lông cánh dài, màu cánh gián.
- Đuôi dài, cong và có nhiều màu lông xen lẫn nhau.
- Cổ gà to bằng bắp tay của em, lông cổ màu đen biếc.
- Mào gà đỏ chót, luôn lắc lư.
- Đôi mắt như hai hạt tiêu.
- Mỏ khoằm, nhọn và cứng.
- Đôi chân vàng óng, có cựa chìa ra, móng chân nhọn và sắc.
b) Hoạt động, tính nết
- Gáy đúng giờ, tiếng gáy vang dài.
- Vỗ cánh và rướn cao cổ khi gáy.
- Có mồi thì tục tục kêu gà mái đến.
- Dũng cảm chống lại đối thủ.
3) Kết bài
- Gà trống rất có ích.
- Tiếng gáy của chú như tiếng gọi mọi người dậy sớm học bài, đi làm, chuẩn bị cho ngày mới.
- Em rất yêu chú gà và không quên chăm sóc chú để chú mãi là con vật nuôi đáng yêu và có ích.
1. Mở bài: - Chú gà trống mẹ mới mua ở chợ về để làm giống. Chú gà đã trưởng thành một chàng thanh niên mập mạp, oai vệ lắm.
Hay Con gà được bà ngoại cho nhân dịp em về quê ăn giỗ. Con gà được hai tháng tuổi.
2. Thân bài:
a) Tả khái quát rồi đến tả chi tiết từng bộ phận của con gà.
- Nhìn tổng quát chú gà trống nhà em như một chàng thanh niên đang tuổi ăn, tuổi lớn.
- Nó cân nặng khoảng hơn một kg.
- Toàn thân chú được khoác một lớp lông vàng rực rỡ pha lẫn màu đen.
- Cái đầu tròn nhở được nổi bật giữa đàn bởi cái mào đỏ tươi.
- Cái miệng như hai mảnh thép vòng cung dùng để kiếm ăn và tự vệ.
- Đôi mắt tròn như hai viên bi lúc nào cũng sáng long lanh.
- Cổ của con gà trống này dài hơn các chị gà mái nhiều, nhất là da cổ lúc nào cũng đỏ au trông thật rắn rỏi.
- Đôi chân vừa to lại vừa cao màu vàng sậm. Cái cựa nhọn hoắt chòi ra như hai cái đinh to chắc.
b) Tả hoạt động của con gà.
- Gà thức dậy bao giờ cũng sớm hơn con người và mọi vật.
- Bao giờ thức dậy chú gà này cũng cất tiếng hót lảnh lót: Ò …ó ….o rộn khắp xóm làng.
- Hàng ngày chú thường đi theo mấy chị gà mái tơ để bảo vệ cũng như ve vãn các chị ấy.
- Chú ta thật thảo ăn, khi em cho gà ăn bao giờ chú cũng cất tiếng kêu gọi mời các chị gà mái tới cùng ăn.
- Chú ta sống rất hòa đồng cùng các bạn gà hàng xóm, chú vui vẻ khi các con gà khác đến vườn nhà chú chơi, mỗi khi các con gà khác đến chơi trông chú vui vẻ hẳn lên.
3. Kết bài:
- Em yêu chú gà trống này không chỉ vì nét đẹp oai vệ của nó mà nó còn là chiếc đồng hồ báo thức vui nhộn và rất đúng giờ.
Hay: - Chú gà trống đã báo thức em dậy chuẩn bị cho bài học ngày mai. Vì vậy, em rất yêu chú gà trống này.