Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Đáp án: C
Giải thích: Các cách giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm ở Duyên hải Nam Trung Bộ là:
- Đẩy mạnh thâm canh lúa, xác định cơ cấu mùa vụ thích hợp.
- Trao đổi các sản phẩm thế mạnh của vùng lấy lương thực từ các vùng khác.
- Tăng thêm khẩu phần cá và các thuỷ sản khác trong cơ cấu bữa ăn.
Thế mạnh hàng đầu của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nước ta là
A. Vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu hàng hóa
B. Khai thác tổng hợp tài nguyên biển, khoáng sản và rừng
C. Nguồn lao động rẻ, chất lượng ngày càng được nâng cao
D. Mạng lưới giao thông vận tải đang được đầu tư phát triển
Đáp án là B
a) Thế mạnh
- Điểm tương tự nhau:
+ Đều có những thuận lợi về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kĩ thuật (cảng biển, sân bay, đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng trong nước và quốc tế).
+ Là nơi tập trung các đô thị lớn nhất nước ta như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu,... và đồng thời cũng là các trung tâm kinh tế, thương mại, khoa học - kĩ thuật hàng đầu của đất nước.
- Điểm khác nhau nổi bật:
* Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc:
+ Vị trí địa lí của vùng thuận lợi cho việc giao lưu trong nước và quốc tế. Có Hà Nội là thủ đô, đồng thời cũng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa thuộc loại lớn nhất của cả nước.
+ Quốc lộ 5 và quốc lộ 18 là hai tuyến đường giao thông huyết mạch gắn kết cả Bắc Bộ nói chung với cụm cảng Hải Phòng - Cái Lân.
+ Nguồn lao động với số lượng lớn, chất lượng vào loại hàng đầu của cả nước.
+ Có lịch sử khai thác lâu đời nhất nước ta với nền văn minh lúa nước.
+ Các ngành công nghiệp phát triển rất sớm và nhiều ngành có ý nghĩa toàn quốc nhờ các lợi thế về gần nguồn nguyên, nhiên liệu, khoáng sản, về lao động và thị trường tiêu thụ.
+ Các ngành dịch vụ, du lịch có nhiều điều kiện để phát triển.
* Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung:
+ Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa các vùng phía Bắc và phía Nam, trên quốc lộ 1 và tuyến đường sắt Bắc - Nam, có các sân bay Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai và là cửa ngõ quan trọng thông ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và Nam Lào.
+ Có thế mạnh về khai thác tổng hợp tài nguyên biển, khoáng sản, rừng để phát triển dịch vụ du lịch, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản.
* Vùng kinh tế trung điểm phía Nam:
+ Là khu vực bản lề giữa Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long. Tài nguyên (thiên nhiên nổi trội hàng đầu của vùng là các mỏ dầu khí ở thềm lục địa).
+ Dân cư đông, nguồn lao động dồi dào, có chất lượng.
+ Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật tương đối tốt và đồng bộ.
+ Tập trung tiềm lực kinh tế mạnh nhất và có trình độ phát triển kinh tế cao nhất so với các vùng khác trong cả nước.
b) Thực trạng
- Điểm tương tự nhau: cả ba vùng đều có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế chung của cả nước. Là địa bàn tập trung phần lớn các khu công nghiệp và các ngành công nghiệp chủ chốt của cả nước. Đóng góp 64,5% giá trị kim ngạch xuất khẩu và thu hút phần lớn số vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) vào nước ta. đặc biệt là vùng KTTĐ phía Nam và vùng KTTĐ phía Bắc.
- Điểm khác nhau:
* Vùng kinh tế trọng điềm phía Bắc (năm 2005):
+ Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình năm giai đoạn (2001 - 2005) là 11,2%.
+ Mức đóng góp cho GDP cả nước là 18,9%.
+ Cơ cấu ngành kinh tế có nhiều tiến bộ: Dịch vụ chiếm tỉ trọng cao nhất (45,2%), khu vực công nghiệp - xây dựng (42,2%), khu vực nông - lâm - ngư nghiệp (12,6%).
+ Kim ngạch xuất khẩu chiếm 21,0% so với cả nước.
* Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung:
+ Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình năm giai đoạn (2001 - 2005) là 10,7%.
+ Mức đóng góp cho GDP cả nước là 5,3%.
+ Cơ cấu ngành kinh tế có nhiều tiến bộ: Dịch vụ chiếm tỉ trọng cao nhất (38,4%), khu vực công nghiệp - xây dựng (36,6%), khu vực nông - lâm - ngư nghiệp (25,0%).
+ Kim ngạch xuất khẩu chiếm 2,2% so với cả nước.
* Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam:
+ Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình năm giai đoạn (2001 - 2005) là 11,9%.
+ Mức đóng góp cho GDP cả nước là 42,7%.
+ Cơ cấu ngành kinh tế có nhiều tiến hộ: Khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm tỉ trọng cao nhất (59,0%), khu vực dịch vụ (33,2%), khu vực nông - lâm - ngư nghiệp (7,8%).
+ Kim ngạch xuất khẩu chiếm 35,3% so với cả nước.
Thiên nhiên Việt Nam phân hoá rõ rệt theo trục Bắc – Nam. Từ Bắc xuống Nam, nhiệt độ trung bình tăng dần, biên độ nhiệt giảm và mùa đông bớt rét. Miền Bắc có khí hậu gó mùa ẩm với bốn mùa rõ rệt: mùa hè nóng mưa, mùa đông lạnh khô. Cảnh quan gắn với rặng nỗi địch, ruộng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày. Miền Trung bị chia cắt bởi dãy Trường Sơn, khí hậu khô nóng phía Tây, mùa mưa đến muộn và thường có bão; ven biển ẩm hơn do gó mùa đầu xuân. Rặng thường là rặng khôa, đất nghèo dinh dưỡng. Miền Nam mang tính nhiệt đới gần xích đạo, nhiệt độ quanh năm cao và ổn định, thời tiết phân hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Cảnh quan có rặng nước xanh quanh năm, đất phằng phù sa màu mỡ rất thích hợp trồng lúa, hoa quả và cây công nghiệp nhiệt đới. Ngoài ra thiên nhiên còn thay đổi theo hướng tây–đông vì ảnh hưởng của gó, địa hình, tạo nên cảnh quan phong phú.
Báo cáo về sự phân hoá tự nhiên Việt Nam Việt Nam là một quốc gia kéo dài theo hướng Bắc – Nam, tiếp giáp biển Đông và có địa hình rất đa dạng với đồng bằng, đồi núi và nhiều cao nguyên nên thiên nhiên nước ta vừa phong phú vừa biến đổi.
1. *Sự phân hoá theo chiều Bắc – Nam:* Miền Bắc có mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm, khí hậu chuyển từ cận nhiệt đới sang nhiệt đối; miền Trung mang tính chuyển tiếp với mùa mưa lệch vào thu và nhiều vùng chịu gó phơn khô nóng; miền Nam có khí hậu cận xích đạo, nóng ẩm quanh năm và chỉ có hai mùa mưa – khô.
2. *Sự phân hoá theo hướng Đông – Tây:* Sườn đón gó phía đông (các đồng bằng ven biển và triền đông dãy Trương Sơn) nhận nhiều mưa và độ ẩm cao; sườn khuất gó phía tây (cao nguyên, miền núi) khí hậu khô nóng hơn. Càng lên cao, nhiệt độ giảm và thảm thực vật chuyển dần từ rừng nhiệt đới sang rừng cận nhiệt, ôn đới.
3. *Sự phân hoá theo độ cao:* Ở độ cao dưới 600 m, rặng nhiệt đối phát triển; từ 600‑1600 m có rừng cận nhiệt, khí hậu mát mẻ; trên 1600 m có rừng ôn đối với nhiều loài thông, đỗ quyên. Độ cao làm thay đổi nhiệt độ, độ ẩm và hệ sinh thái. Nguyên nhân tạo nên sự phân hoá là do lãnh thổ kéo dài gần 15 vĩ độ, địa hình bị phân cắt bởi nhiều dãy núi, ảnh hưởng của gó mùa và biển Đông.
Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, lãnh thổ trải dài từ khoảng 8°30' đến 23°23' Bắc và kéo dài theo chiều Bắc–Nam hơn 1 650 km, lại có biển và nhiều dạng địa hình nên thiên nhiên rất phong phú và phân hoá đa dạng. - *Phân hoá theo Bắc – Nam:* Từ Bắc Bộ vào Nam, khí hậu và cảnh quan thay đổi. Miền Bắc có bốn mùa rõ rệt; miền Nam (Nam Bộ) nóng quanh năm; Trung Bộ và Nam Trung Bộ mang tính chuyển tiếp và chịu ảnh hưởng của gó phơn, bão, nên sự phân hoá khí hậu rõ rệt. - *Phân hoá theo Đông – Tây:* Ở ven biển và đồng bằng phía Đông, khí hậu ẩm và mưa nhiều; ở vùng núi phía Tây, nhất là sườn khuất gó, khí hậu khô hơn, có gó phơn vào mùa hạ. Từ đồng bằng ven biển đi lên dãy Trương Sơn, thiên nhiên thay đổi từ đồng bằng, trung du đến miền núi, cao nguyên. - *Phân hoá theo độ cao:* Địa hình nước ta có đồng bằng thấp, đồi núi trung bình và núi cao. Nhiệt độ và thảm thực vật thay đổi theo đai cao: ở đồng bằng là rừng nhiệt đối, lên cao là rừng cận nhiệt đối rồi rừng ôn đối ở Hoàng Liên Sơn. Nguyên nhân của sự phân hoá tự nhiên là do lãnh thổ kéo dài, vị trí tiếp giáp biển Đông, địa hình đa dạng, gió mùa và sự xen kẽ của các dãy núi, cao nguyên.
Báo cáo về sự phân hoá tự nhiên Việt Nam Việt Nam có lãnh thổ trải dài và cấu trúc địa hình đa dạng nên tự nhiên nước ta rất phong phú và biến đổi theo nhiều hướng.
1. Phân hoá theo Bắc – Nam: Miền Bắc chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm; Miền Trung có sự chuyển tiếp phức tạp, phía Đông ven biển mưa nhiều, phía Tây chịu ảnh hưởng gió phơn khô nóng; Nam Bộ có khí hậu cận xích đạo, nóng quanh năm và mùa mưa kéo dài.
2. Phân hoá theo Đông – Tây: Do tác động của địa hình, sườn đón gió (Đông Trương Sơn) ẩm và mưa nhiều, sườn khuất gió (Tây Trương Sơn) khô nóng; ven biển và hải đảo mang tính hải dương, trong khi phía tây nội địa khô hơn.
3. Phân hoá theo độ cao: Từ đồng bằng, trung du đến miền núi cao, nhiệt độ và thảm thực vật thay đổi theo đai cao: vùng đồng bằng khí hậu nóng ẩm, lên cao khí hậu mát mẻ rồi lạnh ( đai ôn đới núi cao ), thảm thực vật từ rừng nhiệt đới đến rừng ôn đới.
4. Nguyên nhân của sự phân hoá: lãnh thổ kéo dài gần 15 vĩ độ, địa hình đồi núi xen kẽ đồng bằng, ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam cùng với biển Đông tạo nên sự phân hoá tự nhiên đa dạng.
Báo cáo về sự phân hoá tự nhiên Việt Nam:
- Việt Nam kéo dài theo chiều Bắc‑Nam, tiếp giáp Biển Đông và có địa hình đa dạng (núi cao, trung du, đồng bằng, ven biển, đảo) nên tự nhiên phong phú và phân hoá.
- Phân hoá theo Bắc – Nam: Miền Bắc có khí hậu cận nhiệt đối ẩm, mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm; miền Nam cận xích đạo, nóng quanh năm, chia mùa mưa‑khô.
- Phân hoá theo Đông – Tây: Từ ven biển, đồng bằng qua dải đồi, trung du lên vùng núi cao, khí hậu, đất đai và thảm thực vật thay đổi. Phía Đông Trương Sơn mưa nhiều, phía Tây khô nóng do gó phơn.
- Phân hoá theo độ cao: Càng lên cao nhiệt độ càng giảm, thảm thực vật chuyển từ rừng nhiệt đới thường xanh ở chân núi sang rừng ôn đối ở núi cao.
- Nguyên nhân: do vị trí địa lý trải dài, địa hình phân bậc, hướng các dãy núi, gó mùa và biển Đông tác động. Sự phân hoá tự nhiên vừa tạo điều kiện cho sản xuất nông‑lâm‑ngư nghiệp, vừa là thách thức đối với hoạt động kinh tế và đời sống.
Đáp án C