Trả lời : Tên nhóm .
Hok_Tốt
#Thiên_Hy
=====
1. 7
2. ko có con nào đi lượm
3. tôi sẽ bị treo cổ(theo đề bài: nhà vua nói đúng hay sai)
4. lỗi sai: dưới ánh nắng sương long lanh
mình nghĩ thế thôi, chỉ thử IQ cao ra sao^.^
a)9
b)ko có con nào đi lượm cả
c)con chó chín (vì nó đã được nấu )
d)tôi sẽ bị treo cổ (đề bài :nhà vua nói đúng hay sai )
e)Xã hội
ê)sương long lanh (vì nắng thì ko có sương )
Bạn phải hỏi người thay mật khẩu chứ
1.que kem
2.một cái hố
3.gà mẹ và gà con (vì chỉ có gà trống mới biết gáy ò ó o)
4.người lớn là mẹ của người bé
tháng 2 ngắn nhất
tui chỉ biết thế thôi
2 cái kia thì chịu nha
sorryyyyyyyyyyyy
đéo bít🤑 🤑 🤑 🤑 🤑 🤑 🤑 🤑 🤑
Chính là tôi,,hahaha
là con người
hổng biết,cẩn thận. mình bị hack nick rùi nhưng nhờ thằng bạn nên lấy lại đc rùi. huhu!
10x10=20
bo tay
ÔNG LÀ BỤT ĐÂY MẤY ĐỨA< CHO XIN VÀI CÁI NICK NÀO!
Nguyễn Đức Toàn
là TA LÀ BỤT
biết thừa
? cái j vậy?
mk bt thừa lak bn troll mk ha
Ê MẤY ĐỨA, ÔNG HACK ĐC 1 NICK RỒI
Dạ cho cháu biến thành nữ thần Kali ạ
Ông làm đc cháu nể
okie
NICK HACK ĐƯỢC NÈ CỦA ĐỨA NÀO ĐÓ! HAHA !
úi giời ơi bụt mà sống thất đức à
ôi ôi
không đọc nội quy của online mathr à,không được đưa các câu hỏi linh tinh lên mà chỉ hỏi các bài tâp khó thôi.
XIN THƯA:
Đại số là một phân nhánh lớn của toán học, cùng với lý thuyết số, hình học và giải tích. Theo nghĩa chung nhất, đại số là việc nghiên cứu về ký hiệu toán học và các quy tắc cho các thao tác các ký hiệu trên;[1] nó là một chủ đề thống nhất của hầu hết tất cả lĩnh vực của toán học.[2]Như vậy, đại số bao gồm tất cả mọi thứ từ giải phương trình cấp tiểu học cho đến các nghiên cứu trừu tượng như nhóm, vành và trường. Phần cơ bản hơn của đại số được gọi là đại số sơ cấp, phần trừu tượng hơn của nó được gọi là đại số trừu tượng hoặc đại số hiện đại. Đại số sơ cấp thường được coi là cần thiết cho bất kỳ nghiên cứu toán học, khoa học, hoặc kỹ thuật nào, cũng như các ứng dụng khác như các ngành y học và kinh tế. Đại số trừu tượng là một lĩnh vực quan trọng trong toán học tiên tiến, là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của các nhà toán học chuyên nghiệp. Hầu hết các thành tựu đầu tiên của môn đại số đều có nguồn gốc tiếng Ả Rập như cái tên của nó đã gợi ý, đã được các nhà toán học người Ba Tư nghiên cứu tại Trung Đông[3][4] như al-Khwārizmī (780–850)[5] and Omar Khayyam (1048–1131).[6]
Đại số sơ cấp khác số học trong việc sử dụng các khái niệm trừu tượng, chẳng hạn như sử dụng chữ cái để thay cho con số hoặc là chưa biết hoặc cho phép có nhiều giá trị.[7] Ví dụ, trong phương trình {\displaystyle x+2=5}
chữ cái {\displaystyle x}
là chưa biết, nhưng luật nghịch đảo có thể được sử dụng để tìm ra giá trị của nó: {\displaystyle x=3}
. Trong biểu thức E = mc2, các chữ cái {\displaystyle E}
và {\displaystyle m}
là các biến số, còn chữ cái {\displaystyle c}
là một hằng số, tốc độ ánh sáng trong chân không. Đại số tạo ra phương pháp để giải phương trình và thể hiện công thức dễ dàng hơn (đối với những người biết làm thế nào để sử dụng chúng) so với phương pháp cũ dùng ngôn ngữ viết ra tất cả mọi thứ bằng lời.
Từ đại số cũng được sử dụng trong cách chuyên ngành nhất định. Các phân ngành của đối tượng toán học trong đại số trừu tượng được gọi là "đại số", và từ này được sử dụng trong các cụm từ như đại số tuyến tính và tô pô đại số.
Mục lục
Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]
"Đại số" là một từ Hán-Việt (代數), chỉ đến việc sử dụng ký hiệu để đại diện cho con số. Từ này được nhà toán học Trung Quốc Lý Thiện Lan (李善蘭) dịch ra từ khái niệm từ Tây phương. Trong các ngôn ngữ Tây phương, từ đại số (algebra) phát nguồn từ tiếng Ả Rập الجبر (al-jabr, có nghĩa là phục chế). Nó được lấy từ tựa đề quyển sách Ilm al-jabr wa'l-muḳābala của al-Khwarizmi.
Đại số như một phân nhánh của toán học[sửa | sửa mã nguồn]
Đại số bắt đầu với các tính toán tương tự như số học, với chữ cái thay cho chữ số.[7] Điều này cho phép chứng minh các định lý hay công thức là đúng mà không phải quan tâm đến các số có liên quan. Ví dụ, trong phương trình bậc hai
{\displaystyle ax^{2}+bx+c=0,}
{\displaystyle a,b,c}
có thể là bất kỳ số nào (ngoại trừ {\displaystyle a}
phải khác {\displaystyle 0}
), và công thức giải phương trình bậc hai có thể được sử dụng nhanh chóng và dễ dàng tìm thấy những giá trị của biến số {\displaystyle x}
.
Trong quá trình phát triển, đại số đã được mở rộng đến các đối tượng không phải số khác, chẳng hạn như vectơ, ma trận và đa thức. Sau đó, các thuộc tính cấu trúc của các đối tượng không phải số này được tóm tắt để xác định các cấu trúc đại số như nhóm, vành và trường.
Trước thế kỷ 16, toán học được chia thành hai lĩnh vực số học và hình học. Mặc dù một số phương pháp đã được phát triển từ trước, có thể được coi là đại số, nhưng sự xuất hiện của đại số, và không lâu sau đó, các phép vi phân và tích phân như một lĩnh vực của toán học chỉ có từ thế kỷ 16 hoặc 17. Từ nửa sau của thế kỷ 19 trở đi, nhiều lĩnh vực mới của toán học xuất hiện, hầu hết trong số đó đã sử dụng cả số học và hình học, và gần như tất cả trong số đó đều sử dụng đại số.
Ngày nay, đại số đã phát triển đến khi nó đã bao gồm nhiều ngành của toán học, như có thể thấy trong Phân loại Chủ đề Toán học[8] nơi không có lĩnh vực nào trong số các lĩnh vực mức độ đầu tiên (với hai chữ số) được gọi là đại số. Ngày nay đại số bao gồm các phần 08-Hệ thống đại số chung, 12-Lý thuyết trường và đa thức, 13-Đại số giao hoán, 15-Đại số tuyến tính và đại số đa tuyến; Lý thuyết ma trận, 16-Vành kết hợp và đại số, 17-Vành không kết hợp và đại số, 18-Lý thuyết thể loại; đại số đồng điều, 19-Thuyết K và 20-Lý thuyết nhóm. Đại số cũng được sử dụng rộng rãi trong 11-Lý thuyết số và 14-Hình học đại số.
Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]
Lịch sử ban đầu của đại số[sửa | sửa mã nguồn]
Một trang trong tác phẩm al-Kitāb al-muḫtaṣar fī ḥisāb al-ğabr wa-l-muqābala của Al-Khwārizmī
Cội nguồn của đại số có nguồn gốc từ người Babylon cổ đại,[9] vốn đã phát triển một hệ thống số học tiên tiến mà họ đã có thể làm các phép tính theo phong cách thuật toán. Người Babylon đã phát triển các công thức để tính toán các lời giải cho các bài toán mà ngày nay thường được giải quyết bằng cách sử dụng phương trình tuyến tính, phương trình bậc hai, và phương trình tuyến tính không xác định. Ngược lại, hầu hết người Ai Cập của thời đại này, cũng như các nhà toán học Hy Lạp và Trung Quốc trong thiên niên kỷ 1 TCN, thường giải các phương trình như vậy bằng phương pháp hình học, chẳng hạn như những mô tả trong sách toán viết trên giấy lau sậy Rhind, Cơ sở của Euclid và Cửu chương toán thuật. Lời giải bằng hình học của người Hy Lạp, tiêu biểu trong cuốn Cơ sở, cung cấp một khuôn khổ cho việc khái quát công thức không chỉ dành cho lời giải của các bài toán cụ thể mà còn đưa chúng vào một hệ thống chung hơn để mô tả và giải phương trình, mặc dù điều này sẽ không được thực hiện cho đến khi toán học phát triển trong Hồi giáo thời kỳ Trung Cổ.[10]
Đến thời của Plato, toán học Hy Lạp đã trải qua một sự thay đổi mạnh mẽ. Người Hy Lạp cổ đại tạo ra một dạng đại số hình học, trong đó các từ ngữ được đại diện bằng các bên của các đối tượng hình học, thường là các dòng kẻ với các chữ cái liên kết ở bên cạnh.[7]Diophantus (thế kỷ 3) là một nhà toán học Hy Lạp ở Alexandria và là tác giả của một loạt các cuốn sách có tên Arithmea. Những cuốn sách này tập trung vào việc giải quyết phương trình đại số,[11] và đã đưa lý thuyết số đến với phương trình Diophantos.
Các phương pháp đại số hình học đã thảo luận ở trên có ảnh hưởng trực tiếp đến nhà toán học người Ba Tư Muhammad ibn Mūsā al-Khwārizmī (khoảng 780–850). Ông sau đó đã viết cuốn sách Cách tính toán dựa trên khôi phục và cân bằng. Cuốn sách này đã chính thức đưa đại số thành một phân nhánh độc lập của toán học, tách rời đại số khỏi hình học và số học.[12]
Các nhà toán học thời Hellenis Hero của Alexandria và Diophantus[13] cũng như các nhà toán học Ấn Độ như Brahmagupta tiếp tục truyền thống của Ai Cập và Babylon, mặc dù tác phẩm của Arithmea của Diophantus và tác phẩm Brāhmasphuṭasiddhānta của Brahmagupta ở đẳng cấp cao hơn.[14] Ví dụ, giải pháp số học đầy đủ đầu tiên (bao gồm cả các nghiệm là số không và số âm) của phương trình bậc haiđược Brahmagupta mô tả trong cuốn sách Brahmasphutasiddhanta. Sau đó, các nhà toán học Ba Tư và Ả Rập phát triển phương pháp đại số ở một mức độ tinh tế cao hơn nhiều. Mặc dù Diophantus và người Babylon sử dụng phương pháp tại chỗ đặc biệt để giải quyết các phương trình, đóng góp của Al-Khwarizmi là cơ bản. Ông đã giải quyết phương trìn...
Nhiều quá ko có thời gian đọc
I. Nội qui tham gia "Giúp tôi giải toán"
1. Không đưa câu hỏi linh tinh lên diễn đàn, chỉ đưa các bài mà mình không giải được hoặc các câu hỏi hay lên diễn đàn;
2. Không trả lời linh tinh, không phù hợp với nội dung câu hỏi trên diễn đàn.
3. Không "Đúng" vào các câu trả lời linh tinh nhằm gian lận điểm hỏi đáp.
Các bạn vi phạm 3 điều trên sẽ bị giáo viên của Online Math trừ hết điểm hỏi đáp, có thể bị khóa tài khoản hoặc bị cấm vĩnh viễn không đăng nhập vào trang web.
Toán!!!
Lôgic toán là một ngành con của toán học có liên hệ gần gũi với cơ sở toán học, khoa học máy tính lý thuyết, logic triết học. Ngành này bao gồm cả hai phần: Nghiên cứu toán học về logic và những ứng dụng của logic hình thức trong các ngành khác của toán học. Các chủ đề thống nhất trong logic toán học bao gồm các nghiên cứu về sức mạnh ý nghĩa của các hệ thống hình thức và sức mạnh suy diễn của hệ thống chứng minh chính thức.
Ngành này thường được chia thành các lĩnh vực con như lý thuyết mô hình (model theory), lý thuyết chứng minh (proof theory), lý thuyết tập hợp và lý thuyết đệ quy (recursion theory). Nghiên cứu về lôgic toán thường đóng vai trò quan trọng trong ngành cơ sở toán học (foundations of mathemas).
Các tên gọi cũ của lôgic toán là lôgic ký hiệu (để đối lập với lôgic triết học) hay mêta toán học.
Lôgic toán không phải là lôgic của toán học mà là toán học của lôgic. Ngành này bao gồm những phần của lôgic mà có thể được mô hình hóa và nghiên cứu bằng toán học. Nó cũng bao gồm những lĩnh vực thuần túy toán học như lý thuyết mô hình và lý thuyết đệ quy, trong đó, khả năng định nghĩa là trung tâm của vấn đề được quan tâm.logic toán học thể hiện ở cách làm bài. Một bài toán được coi là lôgic thì phải đảm bảo sự chặt chẽ, cách lập luận hợp lý và tuân thủ theo từng bước của bài toán.
thêm lý thuyết đồ thị: