K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

24 tháng 1 2019

đéo bít🤑 🤑 🤑 🤑 🤑 🤑 🤑 🤑 🤑

24 tháng 1 2019

là con người

24 tháng 1 2019

hổng biết,cẩn thận. mình bị hack nick rùi nhưng nhờ thằng bạn nên lấy lại đc rùi. huhu!

10x10=20

24 tháng 1 2019

bo tay

24 tháng 1 2019

ÔNG LÀ BỤT ĐÂY MẤY ĐỨA< CHO XIN VÀI CÁI NICK NÀO!

24 tháng 1 2019

Nguyễn Đức Toàn

là TA LÀ BỤT

biết thừa

24 tháng 1 2019

? cái j vậy?

24 tháng 1 2019

mk bt thừa lak bn troll mk ha

24 tháng 1 2019

Ê MẤY ĐỨA, ÔNG HACK ĐC 1 NICK RỒI

24 tháng 1 2019

Dạ cho cháu biến thành nữ thần Kali ạ

Ông làm đc cháu nể

okie

24 tháng 1 2019

NICK HACK ĐƯỢC NÈ CỦA ĐỨA NÀO ĐÓ! HAHA !

24 tháng 1 2019

úi giời ơi bụt mà sống thất đức à

ôi ôi

24 tháng 1 2019

không đọc nội quy của online mathr à,không được đưa các câu hỏi linh tinh lên mà chỉ hỏi các bài tâp khó thôi.

24 tháng 1 2019

XIN THƯA:

Đại số là một phân nhánh lớn của toán học, cùng với lý thuyết số, hình học và giải tích. Theo nghĩa chung nhất, đại số là việc nghiên cứu về ký hiệu toán học và các quy tắc cho các thao tác các ký hiệu trên;[1] nó là một chủ đề thống nhất của hầu hết tất cả lĩnh vực của toán học.[2]Như vậy, đại số bao gồm tất cả mọi thứ từ giải phương trình cấp tiểu học cho đến các nghiên cứu trừu tượng như nhóm, vành và trường. Phần cơ bản hơn của đại số được gọi là đại số sơ cấp, phần trừu tượng hơn của nó được gọi là đại số trừu tượng hoặc đại số hiện đại. Đại số sơ cấp thường được coi là cần thiết cho bất kỳ nghiên cứu toán học, khoa học, hoặc kỹ thuật nào, cũng như các ứng dụng khác như các ngành y học và kinh tế. Đại số trừu tượng là một lĩnh vực quan trọng trong toán học tiên tiến, là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của các nhà toán học chuyên nghiệp. Hầu hết các thành tựu đầu tiên của môn đại số đều có nguồn gốc tiếng Ả Rập như cái tên của nó đã gợi ý, đã được các nhà toán học người Ba Tư nghiên cứu tại Trung Đông[3][4] như al-Khwārizmī (780–850)[5] and Omar Khayyam (1048–1131).[6]

Đại số sơ cấp khác số học trong việc sử dụng các khái niệm trừu tượng, chẳng hạn như sử dụng chữ cái để thay cho con số hoặc là chưa biết hoặc cho phép có nhiều giá trị.[7] Ví dụ, trong phương trình {\displaystyle x+2=5}{\displaystyle x+2=5} chữ cái {\displaystyle x}x là chưa biết, nhưng luật nghịch đảo có thể được sử dụng để tìm ra giá trị của nó: {\displaystyle x=3}{\displaystyle x=3}. Trong biểu thức E = mc2, các chữ cái {\displaystyle E}E và {\displaystyle m}m là các biến số, còn chữ cái {\displaystyle c}c là một hằng số, tốc độ ánh sáng trong chân không. Đại số tạo ra phương pháp để giải phương trình và thể hiện công thức dễ dàng hơn (đối với những người biết làm thế nào để sử dụng chúng) so với phương pháp cũ dùng ngôn ngữ viết ra tất cả mọi thứ bằng lời.

Từ đại số cũng được sử dụng trong cách chuyên ngành nhất định. Các phân ngành của đối tượng toán học trong đại số trừu tượng được gọi là "đại số", và từ này được sử dụng trong các cụm từ như đại số tuyến tính và tô pô đại số.

Mục lục

  • 1Từ nguyên
  • 2Đại số như một phân nhánh của toán học
  • 3Lịch sử
    • 3.1Lịch sử ban đầu của đại số
    • 3.2Lịch sử đại số
  • 4Các lĩnh vực toán học có tên gắn với đại số
  • 5Đại số sơ cấp
    • 5.1Đa thức
    • 5.2Giáo dục
  • 6Đại số trừu tượng
    • 6.1Nhóm
  • 7Các chủ đề chính
  • 8Phương trình đại số
  • 9Biểu thức:
  • 10Linh tinh
  • 11Xem thêm
  • 12Sách tham khảo
  • 13Tham khảo
  • 14Liên kết ngoài
    • 14.1Tiếng Anh

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

"Đại số" là một từ Hán-Việt (代數), chỉ đến việc sử dụng ký hiệu để đại diện cho con số. Từ này được nhà toán học Trung Quốc Lý Thiện Lan (李善蘭) dịch ra từ khái niệm từ Tây phương. Trong các ngôn ngữ Tây phương, từ đại số (algebra) phát nguồn từ tiếng Ả Rập الجبر (al-jabr, có nghĩa là phục chế). Nó được lấy từ tựa đề quyển sách Ilm al-jabr wa'l-muḳābala của al-Khwarizmi.

Đại số như một phân nhánh của toán học[sửa | sửa mã nguồn]

Đại số bắt đầu với các tính toán tương tự như số học, với chữ cái thay cho chữ số.[7] Điều này cho phép chứng minh các định lý hay công thức là đúng mà không phải quan tâm đến các số có liên quan. Ví dụ, trong phương trình bậc hai

{\displaystyle ax^{2}+bx+c=0,}{\displaystyle ax^{2}+bx+c=0,}

{\displaystyle a,b,c}{\displaystyle a,b,c} có thể là bất kỳ số nào (ngoại trừ {\displaystyle a}a phải khác {\displaystyle 0}{\displaystyle 0}), và công thức giải phương trình bậc hai có thể được sử dụng nhanh chóng và dễ dàng tìm thấy những giá trị của biến số {\displaystyle x}x.

Trong quá trình phát triển, đại số đã được mở rộng đến các đối tượng không phải số khác, chẳng hạn như vectơ, ma trận và đa thức. Sau đó, các thuộc tính cấu trúc của các đối tượng không phải số này được tóm tắt để xác định các cấu trúc đại số như nhóm, vành và trường.

Trước thế kỷ 16, toán học được chia thành hai lĩnh vực số học và hình học. Mặc dù một số phương pháp đã được phát triển từ trước, có thể được coi là đại số, nhưng sự xuất hiện của đại số, và không lâu sau đó, các phép vi phân và tích phân như một lĩnh vực của toán học chỉ có từ thế kỷ 16 hoặc 17. Từ nửa sau của thế kỷ 19 trở đi, nhiều lĩnh vực mới của toán học xuất hiện, hầu hết trong số đó đã sử dụng cả số học và hình học, và gần như tất cả trong số đó đều sử dụng đại số.

Ngày nay, đại số đã phát triển đến khi nó đã bao gồm nhiều ngành của toán học, như có thể thấy trong Phân loại Chủ đề Toán học[8] nơi không có lĩnh vực nào trong số các lĩnh vực mức độ đầu tiên (với hai chữ số) được gọi là đại số. Ngày nay đại số bao gồm các phần 08-Hệ thống đại số chung, 12-Lý thuyết trường và đa thức, 13-Đại số giao hoán, 15-Đại số tuyến tính và đại số đa tuyến; Lý thuyết ma trận, 16-Vành kết hợp và đại số, 17-Vành không kết hợp và đại số, 18-Lý thuyết thể loại; đại số đồng điều, 19-Thuyết K và 20-Lý thuyết nhóm. Đại số cũng được sử dụng rộng rãi trong 11-Lý thuyết số và 14-Hình học đại số.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử ban đầu của đại số[sửa | sửa mã nguồn]

Một trang trong tác phẩm al-Kitāb al-muḫtaṣar fī ḥisāb al-ğabr wa-l-muqābala của Al-Khwārizmī

Cội nguồn của đại số có nguồn gốc từ người Babylon cổ đại,[9] vốn đã phát triển một hệ thống số học tiên tiến mà họ đã có thể làm các phép tính theo phong cách thuật toán. Người Babylon đã phát triển các công thức để tính toán các lời giải cho các bài toán mà ngày nay thường được giải quyết bằng cách sử dụng phương trình tuyến tính, phương trình bậc hai, và phương trình tuyến tính không xác định. Ngược lại, hầu hết người Ai Cập của thời đại này, cũng như các nhà toán học Hy Lạp và Trung Quốc trong thiên niên kỷ 1 TCN, thường giải các phương trình như vậy bằng phương pháp hình học, chẳng hạn như những mô tả trong sách toán viết trên giấy lau sậy RhindCơ sở của Euclid và Cửu chương toán thuật. Lời giải bằng hình học của người Hy Lạp, tiêu biểu trong cuốn Cơ sở, cung cấp một khuôn khổ cho việc khái quát công thức không chỉ dành cho lời giải của các bài toán cụ thể mà còn đưa chúng vào một hệ thống chung hơn để mô tả và giải phương trình, mặc dù điều này sẽ không được thực hiện cho đến khi toán học phát triển trong Hồi giáo thời kỳ Trung Cổ.[10]

Đến thời của Plato, toán học Hy Lạp đã trải qua một sự thay đổi mạnh mẽ. Người Hy Lạp cổ đại tạo ra một dạng đại số hình học, trong đó các từ ngữ được đại diện bằng các bên của các đối tượng hình học, thường là các dòng kẻ với các chữ cái liên kết ở bên cạnh.[7]Diophantus (thế kỷ 3) là một nhà toán học Hy Lạp ở Alexandria và là tác giả của một loạt các cuốn sách có tên Arithmea. Những cuốn sách này tập trung vào việc giải quyết phương trình đại số,[11] và đã đưa lý thuyết số đến với phương trình Diophantos.

Các phương pháp đại số hình học đã thảo luận ở trên có ảnh hưởng trực tiếp đến nhà toán học người Ba Tư Muhammad ibn Mūsā al-Khwārizmī (khoảng 780–850). Ông sau đó đã viết cuốn sách Cách tính toán dựa trên khôi phục và cân bằng. Cuốn sách này đã chính thức đưa đại số thành một phân nhánh độc lập của toán học, tách rời đại số khỏi hình học và số học.[12]

Các nhà toán học thời Hellenis Hero của Alexandria và Diophantus[13] cũng như các nhà toán học Ấn Độ như Brahmagupta tiếp tục truyền thống của Ai Cập và Babylon, mặc dù tác phẩm của Arithmea của Diophantus và tác phẩm Brāhmasphuṭasiddhānta của Brahmagupta ở đẳng cấp cao hơn.[14] Ví dụ, giải pháp số học đầy đủ đầu tiên (bao gồm cả các nghiệm là số không và số âm) của phương trình bậc haiđược Brahmagupta mô tả trong cuốn sách Brahmasphutasiddhanta. Sau đó, các nhà toán học Ba Tư và Ả Rập phát triển phương pháp đại số ở một mức độ tinh tế cao hơn nhiều. Mặc dù Diophantus và người Babylon sử dụng phương pháp tại chỗ đặc biệt để giải quyết các phương trình, đóng góp của Al-Khwarizmi là cơ bản. Ông đã giải quyết phương trìn...

24 tháng 1 2019

Nhiều quá ko có thời gian đọc

I. Nội qui tham gia "Giúp tôi giải toán"

1. Không đưa câu hỏi linh tinh lên diễn đàn, chỉ đưa các bài mà mình không giải được hoặc các câu hỏi hay lên diễn đàn;

2. Không trả lời linh tinh, không phù hợp với nội dung câu hỏi trên diễn đàn.

3. Không "Đúng" vào các câu trả lời linh tinh nhằm gian lận điểm hỏi đáp.

Các bạn vi phạm 3 điều trên sẽ bị giáo viên của Online Math trừ hết điểm hỏi đáp, có thể bị khóa tài khoản hoặc bị cấm vĩnh viễn không đăng nhập vào trang web.

24 tháng 1 2019

Toán!!!

Lôgic toán là một ngành con của toán học có liên hệ gần gũi với cơ sở toán học, khoa học máy tính lý thuyết, logic triết học. Ngành này bao gồm cả hai phần: Nghiên cứu toán học về logic và những ứng dụng của logic hình thức trong các ngành khác của toán học. Các chủ đề thống nhất trong logic toán học bao gồm các nghiên cứu về sức mạnh ý nghĩa của các hệ thống hình thức và sức mạnh suy diễn của hệ thống chứng minh chính thức.

Ngành này thường được chia thành các lĩnh vực con như lý thuyết mô hình (model theory), lý thuyết chứng minh (proof theory), lý thuyết tập hợp và lý thuyết đệ quy (recursion theory). Nghiên cứu về lôgic toán thường đóng vai trò quan trọng trong ngành cơ sở toán học (foundations of mathemas).

Các tên gọi cũ của lôgic toán là lôgic ký hiệu (để đối lập với lôgic triết học) hay mêta toán học.

Lôgic toán không phải là lôgic của toán học mà là toán học của lôgic. Ngành này bao gồm những phần của lôgic mà có thể được mô hình hóa và nghiên cứu bằng toán học. Nó cũng bao gồm những lĩnh vực thuần túy toán học như lý thuyết mô hình và lý thuyết đệ quy, trong đó, khả năng định nghĩa là trung tâm của vấn đề được quan tâm.logic toán học thể hiện ở cách làm bài. Một bài toán được coi là lôgic thì phải đảm bảo sự chặt chẽ, cách lập luận hợp lý và tuân thủ theo từng bước của bài toán.

24 tháng 1 2019

thêm lý thuyết đồ thị:

Trong toán học và tin học, lý thuyết đồ thị nghiên cứu các tính chất của đồ thị. Một cách không chính thức, đồ thị là một tập các đối tượng được gọi là các đỉnh (hoặc nút) nối với nhau bởi các cạnh (hoặc cung). Cạnh có thể có hướng hoặc vô hướng. Đồ thị thường được vẽ dưới dạng một tập các điểm (các đỉnh nối với nhau bằng các đoạn thẳng (các cạnh).
Đồ thị biểu diễn được rất nhiều cấu trúc, nhiều bài toán thực tế có thể được biểu diễn bằng đồ thị. Ví dụ, cấu trúc liên kết của một website có thể được biểu diễn bằng một đồ thị có hướng như sau: các đỉnh là các trang web hiện có tại website, tồn tại một cạnh có hướng nối từ trang A tới trang B khi và chỉ khi A có chứa 1 liên kết tới B. Do vậy, sự phát triển của các thuật toán xử lý đồ thị là một trong các mối quan tâm chính của khoa học máy tính.
Cấu trúc đồ thị có thể được mở rộng bằng cách gán trọng số cho mỗi cạnh. Có thể sử dụng đồ thị có trọng số để biểu diễn nhiều khái niệm khác nhau. Ví dụ, nếu đồ thị biểu diễn một mạng đường giao thông, các trọng số có thể là độ dài của mỗi con đường. Một cách khác để mở rộng đồ thị cơ bản là quy định hướng cho các cạnh của đồ thị (như đối với các trang web, A liên kết tới B, nhưng B không nhất thiết cũng liên kết tới A). Loại đồ thị này được gọi là đồ thị có hướng. Một đồ thị có hướng với các cạnh có trọng số được gọi là một lưới.
Các lưới có nhiều ứng dụng trong khía cạnh thực tiễn của lý thuyết đồ thị, chẳng hạn, phân tích lưới có thể dùng để mô hình hoá và phân tích mạng lưới giao thông hoặc nhằm "phát hiện" hình dáng của Internet - (Xem thêm các ứng dụng đưới đây. Mặc dù vậy, cũng nên lưu ý rằng trong phân tích lưới, thì định nghĩa của khái niệm "lưới" có thể khác nhau và thường được chỉ ra bằng một đồ thị đơn giản.)

 

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]
Một trong những kết quả đầu tiên trong lý thuyết đồ thị xuất hiện trong bài báo của Leonhard Euler về Bảy cây cầu ở Königsberg, xuất bản năm 1736. Bài báo này cũng được xem như một trong những kết quả topo đầu tiên trong hình học, tức là, nó không hề phụ thuộc vào bất cứ độ đo nào. Nó diễn tả mối liên hệ sâu sắc giữa lý thuyết đồ thị và tôpô học.
Năm 1845, Gustav Kirchhoff đưa ra Định luật Kirchhoff cho mạch điện để tính điện thế và cường độ dòng điện trong mạch điện.
Năm 1852 Francis Guthrie đưa ra bài toán bốn màu về vấn đề liệu chỉ với bốn màu có thể tô màu một bản đồ bất kì sao cho không có hai nước nào cùng biên giới được tô cùng màu. Bài toán này được xem như đã khai sinh ra lý thuyết đồ thị, và chỉ được giải sau một thế kỉ vào năm 1976 bởi Kenneth Appel và Wolfgang Haken. Trong khi cố gắng giải quyết bài toán này, các nhà toán học đã phát minh ra nhiều thuật ngữ và khái niệm nền tảng cho lý thuyết đồ thị.

 

Định nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]
Bài chi tiết: Đồ thị (toán học)

 

Cách vẽ đồ thị[sửa | sửa mã nguồn]
Bài chi tiết: Vẽ đồ thị
Đồ thị được biểu diễn đồ họa bằng cách vẽ một điểm cho mỗi đỉnh và vẽ một cung giữa hai đỉnh nếu chúng được nối bởi một cạnh. Nếu đồ thị là có hướng thì hướng được chỉ bởi một mũi tên.
Không nên lẫn lộn giữa một đồ hình của đồ thị với bản thân đồ thị (một cấu trúc trừu tượng, không đồ họa) bởi có nhiều cách xây dựng đồ hình. Toàn bộ vấn đề nằm ở chỗ đỉnh nào được nối với đỉnh nào, và bằng bao nhiêu cạnh. Trong thực hành, thường rất khó để xác định xem hai đồ hình có cùng biểu diễn một đồ thị không. Tùy vào bài toán mà đồ hình này có thể phù hợp và dễ hiểu hơn đồ hình kia.

 

Các cấu trúc dữ liệu đồ thị[sửa | sửa mã nguồn]
Bài chi tiết: Đồ thị (cấu trúc dữ liệu)
Có nhiều cách khác nhau để lưu trữ các đồ thị trong máy tính. Sử dụng cấu trúc dữ liệu nào thì tùy theo cấu trúc của đồ thị và thuật toán dùng để thao tác trên đồ thị đó. Trên lý thuyết, người ta có thể phân biệt giữa các cấu trúc danh sách và các cấu trúc ma trận. Tuy nhiên, trong các ứng dụng cụ thể, cấu trúc tốt nhất thường là kết hợp của cả hai. Người ta hay dùng các cấu trúc danh sách cho các đồ thị thưa (sparse graph), do chúng đòi hỏi ít bộ nhớ. Trong khi đó, các cấu trúc ma trận cho phép truy nhập dữ liệu nhanh hơn, nhưng lại cần lượng bộ nhớ lớn nếu đồ thị có kích thước lớn.

 

Các cấu trúc danh sách[sửa | sửa mã nguồn]
  • Danh sách liên thuộc (Incidence list) - Mỗi đỉnh có một danh sách các cạnh nối với đỉnh đó. Các cạnh của đồ thị được có thể được lưu trong một danh sách riêng (có thể cài đặt bằng mảng (array) hoặc danh sách liên kết động (linked list)), trong đó mỗi phần tử ghi thông tin về một cạnh, bao gồm: cặp đỉnh mà cạnh đó nối (cặp này sẽ có thứ tự nếu đồ thị có hướng), trọng số và các dữ liệu khác. Danh sách liên thuộc của mỗi đỉnh sẽ chiếu tới vị trí của các cạnh tương ứng tại danh sách cạnh này.
  • Danh sách kề (Adjacency list) - Mỗi đỉnh của đồ thị có một danh sách các đỉnh kề nó (nghĩa là có một cạnh nối từ đỉnh này đến mỗi đỉnh đó). Trong đồ thị vô hướng, cấu trúc này có thể gây trùng lặp. Chẳng hạn nếu đỉnh 3 nằm trong danh sách của đỉnh 2 thì đỉnh 2 cũng phải có trong danh sách của đỉnh 3. Lập trình viên có thể chọn cách sử dụng phần không gian thừa, hoặc có thể liệt kê các quan hệ kề cạnh chỉ một lần. Biểu diễn dữ liệu này thuận lợi cho việc từ một đỉnh duy nhất tìm mọi đỉnh được nối với nó, do các đỉnh này đã được liệt kê tường minh.

 

Các cấu trúc ma trận[sửa | sửa mã nguồn]
  • Ma trận liên thuộc (Incidence matrix) - Đồ thị được biểu diễn bằng một ma trận {\displaystyle [b_{ij}]}📷 kích thước p × q, trong đó p là số đỉnh và q là số cạnh, {\displaystyle b_{ij}=1}📷 chứa dữ liệu về quan hệ giữa đỉnh {\displaystyle v_{i}}📷 và cạnh {\displaystyle x_{j}}📷. Đơn giản nhất: {\displaystyle b_{ij}=1}📷 nếu đỉnh {\displaystyle v_{i}}📷 là một trong 2 đầu của cạnh {\displaystyle x_{...
2 tháng 9 2020

vào group chat riêng mà hỏi ý e

bạn ko được đăng câu hỏi linh tinh

Trả lời : Tên nhóm .

Hok_Tốt

#Thiên_Hy

=====

10 tháng 5 2019

ừ, cảm ơn nha!

Bố mẹ có sáu người con trai, mỗi người con trai có một em gái. Hỏi gia đình đó có bao nhiêu người ?Hai con chó đang lang thang ở công viên. Con chó trắng tên Đen, con chó đen tên Trắng. Nam thấy chúng dễ thương, liền thẩy trái banh ra xa rồi ra lệnh "Đen, đi lượm trái banh"... Hỏi con chó nào sẽ đi lượm ?Con chó đen người ta gọi là con chó mực. Con chó vàng, người ta gọi là con chó phèn. Con chó...
Đọc tiếp

Bố mẹ có sáu người con trai, mỗi người con trai có một em gái. Hỏi gia đình đó có bao nhiêu người ?

Hai con chó đang lang thang ở công viên. Con chó trắng tên Đen, con chó đen tên Trắng. Nam thấy chúng dễ thương, liền thẩy trái banh ra xa rồi ra lệnh "Đen, đi lượm trái banh"... Hỏi con chó nào sẽ đi lượm ?

Con chó đen người ta gọi là con chó mực. Con chó vàng, người ta gọi là con chó phèn. Con chó sanh người ta gọi là con chó đẻ. Vậy con chó đỏ, người ta gọi là con chó gì ?

Ở một xứ nọ, có luật lệ rằng: Ai muốn diện kiến nhà vua thì phải nói một câu. Nếu câu nói thật thì sẽ bị chém đầu, còn nếu là dối thì bị treo cổ. Vậy để gặp được nhà vua của xứ đó, ta phải nói như thế nào ?

 Xã đông nhất là xã nào ?

 Con gì đầu dê mình ốc?

Tìm điểm sai trong câu: "Dưới ánh nắng sương long lanh triệu cành hồng khoe sắc thắm"

4
10 tháng 3 2020

1. 7

2. ko có con nào đi lượm

3. tôi sẽ bị treo cổ(theo đề bài: nhà vua nói đúng hay sai)

4. lỗi sai: dưới ánh nắng sương long lanh

mình nghĩ thế thôi, chỉ thử IQ cao ra sao^.^

11 tháng 3 2020

a)9

b)ko có con nào đi lượm cả

c)con chó chín (vì nó đã được nấu )

d)tôi sẽ bị treo cổ (đề bài :nhà vua nói đúng hay sai )

e)Xã hội

ê)sương long lanh (vì nắng thì ko có sương )

5 tháng 10 2018

anh thừa bt rùi hỏi lm j nữa

16 tháng 10 2018

Mình đã bt thủ phạm r

:)
:)
~~~~

9 tháng 3 2022

Không biết 

Bạn phải hỏi người thay mật khẩu chứ

5 tháng 3 2020

mk cx muốn bít ^.^ nick chibiverycute là nick của mk nhưng h ko vào đc nữa

19 tháng 2 2022

1.que kem

2.một cái hố

3.gà mẹ và gà con (vì chỉ có gà trống mới biết gáy ò ó o)

4.người lớn là mẹ của người bé

28 tháng 1 2018

ban ko nen noi vay dau

28 tháng 1 2018
k mk nha!Cảm ơn bạn nhiều!
18 tháng 5 2021
=Câu hỏi: Muốn chết à? =Tháng ngắn nhất: tháng "ba" và "tư"(có 2 chữ cái) =Cô gái : Thanh Kiều

tháng 2 ngắn nhất

tui chỉ biết thế thôi

2 cái kia thì chịu nha

sorryyyyyyyyyyyy