Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
* Cảnh hộ đê:
- Dân:trăm nghìn con người, từ chiều->1 giờ đêm... kẻ thuổng, cuốc, đội đất, vác tre... bì bõm... lướt thướt như chuột lột
=>chân lấm tay bùn , trăm lo nghìn sợ đê vỡ
+Mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít, vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa.
=>Một cảnh nghìn sầu muôn thảm.
- Quan: ngồi chỗ cao, chễm chện ngồi trong đình có kẻ hầu người hạ xung quanh .
=>Cảnh sống an toàn, sa hoa, nhàn nhã, mải mê cờ bạc
+Trong đình tĩnh mịch, nghiêm trang, đường bệ, nguy nga, ung dung, nhàn nhã
=>Tôn kính
*Cảnh đê vỡ:
-Dân:khắp mọi nơi nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa ngập hết, kẻ sống ko chỗ ở, kẻ chết ko nơi chôn, lênh đênh mặt nước
=>Tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết
-Quan:vẫn mải mê bài bạc như ko có j xảy ra, vui mừng vì thắng được ván bài ù to
=>Vô trách nhiệm, thờ ơ
ừ thà vậy chứ đâu bằng cn lớp trưởng lúc áo cũng hóng hách xem thường người khác chuyện j cũng báo với cô. thấy nhục ko bạn
Bạn tham khảo bài làm của mình ở đây nha: Câu hỏi của Vũ Phương Thảo - Ngữ văn lớp 7 | Học trực tuyến
| Dân | < Tương phản > | Quan |
| "Gội gió tắm mưa", ra sức chống đỡ đến mức tuyệt vọng trước nguy cơ đê vỡ | Cảnh hộ đê | Vui cuộc tổ tôm trong ngôi đình cao ráo, có người hầu kẻ hạ, của ngon vật lạ xung quanh |
| Rơi vào tình cảm thảm sầu "nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết, kẻ sống chỗ ở, người chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ" | Cảnh đê vỡ | Vui sướng cực độ vì được ù ván bài to, không màng gì đến tình cảnh nhân dân ở bên ngoài. |
| dan | <-tuong phan-> | |
| dan tu chieu den gio,het suc giu gin ,ke thi tuong ,nguoi thi cuoc ,ke thi cuoc,ke doi dat,ke cuoc dat ,nao dap , nao cu . | canh ho de | ngoi choi bai ,mac ke dan ngoi dap de ,con quan thi coi van bai nhu tat ca mac ke dan the nao. |
| nguoi keu ram ri,cang nghe cang lon .lai co tieng ao ao nhu thac nuoc,roi co tieng ga,cho ,trau,botu khap phia. | canh vo de | khi de vo thi ,co nguoi bao ,ong mat do tia tai doi bat va giam nguoi bao vao tu |
| Dân | <- Tương phản -> | Quan |
| Dân chúng vất vả cùng nhau lấy ''tấm thân'' mà đối đầu với sức mưa sức gió. Cùng nhau chông đê vỡ | Cảnh hộ đê | Sung sướng, chơi bài, ăn bát yến có kẻ hầu người hạ, không mảy may đến hoàn cảnh người dân ngoài kia |
| Nhà cửa,... trôi sạch, người sống không có chỗ ở, kẻ chết không có nơi chôn | Cảnh vỡ đê | Đang chơi bài và thắng ván to, mặc kệ sống chết của dân. |
Nhận xét: Nhờ biện pháp tương phản cho ta có thể khắc hoạ rõ ràng sự khác biệt về hoàn cảnh, tầng lớp phong kiến xưa
Cảnh thiên nhiên và nguy cơ đê vỡ :
+Mưa mỗi lúc một nhiều: Trời mưa tầm tã
+Nước sông mỗi lúc một dâng cao : Nước sông Nhị Hà lên to quá, nước cứ cuòn cuộn bốc lên
Nhận xét :Thể hiện thời tiết sự mưa gió, lũ lụt khó khăn do thiên nhiên gây ra
Sự vất vả căng thẳng của người dân đi hộ đê :
+Âm thanh mỗi lúc một ầm ĩ: Tiếng trống, tiếng tù và, tiếng ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ
+Sức người mỗi lúc một đuối: Tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ nhưng xem chừng ai cũng mệt lử cả rồi.
Nhận xét: Thể hiện sự nhốn nháo, ầm ĩ, sự khó khăn mệt nhọc, sức chống chọi vủa người dân vật lộn với cơn lũ
Mức độ đam mê cờ bạc của quan phủ :
+Mê bài bạc bỏ ban trách nhiệm của mình
+mê đến mức bên ngoài ầm ĩ mà vẫn ung dung, thản nhiên +Có tin đê vỡ còn thoè ơ quát nạt.
+Khi quan ù ván bài to, nhân dân lâm vào cánh lũ lụt thảm thê ngàn sầu
Nhận xét : Thể hiện sự vô trách nhiệm của quan dân thời bấy giờ. Những kẻ lòng lang dạ thú coi thường sinh mạng người dân
*Cảnh thiên nhiên và nguy cơ đê vỡ:
+Tăng cấp: Trời mưa tầm tả, nước sông Nhị hà lên to, khúc đê núng thế hai ba đoạn thảm lậu, nguy cơ đê vỡ. Trên trời, mưa vẫn tầm tả trút xuống, dưới sông nước cứ cuồn cuộn bốc lên. Thế đê không cự lại được với thế nước
**Nhận xét: Nguy cơ đê vỡ ngày một tăng. Tác giả tạo tình huống có vấn đề để từ đó các sự việc kế tiếp sẽ xảy ra.
* Sự vất vả, căng thẳng của người dân hộ đê:
+Tăng cấp: Hàng trăm nghìn con người lo đắp đê ai nấy cũng mệt lử, xao xác gọi nhau, lo sợ đem thân hèn yếu mà đối với sức mưa to gió lớn, rối rít, vất vả, lấm láp, gội gió tắm mưa, sức người khó lòng địch nổi với sức trời
**Nhận xét: Gợi cảnh tượng nhốn nháo, hối hả, chen chúc, căng thẳng , cơ cực và hiểm nguy
*Mức độ đam mê cờ bạc của quan phủ:
+Tăng cấp: Khi đó ván bài quan đã chờ rồi. Tiếng thầy đề hỏi tiếng quan lớn truyền, có người khẽ nói, ngài cau mặt gắt rằng " Mặc kệ ". Ngài mà còn dở ván bài hoặc chưa hết hội thì dầu trời long đất lở, đê vỡ dân trôi, ngài cx mặc kệ. Đê vỡ mặt đê, không bằng nước bài cao thấp, bốc nọc người chia bài, nhìu đường thú vị
**Nhận xét: Sự máu mê cờ bạc làm cho quan phủ không quan tâm gì đến thảm cảnh của người dân. Nỗi đau khổ của người dân càng đến gần thì tên quan càng vui vẻ và khi tính mạng của cải của dân bị chôn vùi dưới dòng nước xiết thì cũng là lúc tên quan sung sướng cực độ vì ù ván bài to
Chúc bn hok tốt !!!
( Tick nếu thấy đúng )
Cảnh sắc thiên nhiên:
Đào: hơi phai nhưng nhụy hãy con phong.
Cỏ: không mướt xanh nhưng nức một mùi hương man mác.
Mưa xuân: thay thế cho mưa phùn.
Bầu trời: hiện lên những làn sáng hồng hồng.
-sinh hoạt gia đình:
Bữa cơm: đã trở về giản dị, thịt mỡ dưa hành đã hết.
Cánh màn điều: treo ở bàn thờ ông vải đã hạ huống.
Các trò vui: tạm kết thúc nhường chỗ cho cuộc sống thường nhật.
Tất cả đều thay đổi , từ mặt đất đến bầu trời , từ không khí đến sinh hoạt con người nhưng cảnh vật thiên nhiên dù có thay đổi chút ít nhưng vẫn rất đẹp, vẫn làm say đắm lòng người bởi cái mới mẻ của nó.
bố cục 3 đoạn
1:từ đầu->hỏng mất:nguy cơ vỡ đê và sự chống đỡ của người dân
2:tiếp-> điếu mày:cảnh quan và nha phủ đánh bài
3:còn lại:cảnh đê vỡ người dân lâm vào cảnh thảm sầu
1: Sống chết mặc bay được chia làm mấy đoạn? Mỗi đoạn nói gì?
Tác phẩm có thể chia làm ha đoạn:
- Đoạn 1: “Gần một giờ đêm... khúc đê này hỏng mất”', nguy cơ vỡ đê và sự chống đỡ của người dân.
- Đoạn 2: “Ấy, lũ con dân... điếu mày": cảnh quan phủ cùng nha lại đánh đổ tổ tôm trong khi “đi hộ đê”.
- Đoạn 3: Phần còn lại: Cảnh đê vỡ, nhân dân rơi vào tình ưạng thảm sầu.
2. a. Chỉ ra hai mặt tương phản cơ bản trong truyện Sống chết mặc bay.
b. Phân tích làm rõ từng mặt tương phản đó.
c. Chỉ ra hai mặt tương phản, hình ảnh tên quan phủ đi hộ đê được tác giả khắc hoạ như thê nào?
d. Nêu lên dụng ý của tác giả trong việc dựng lên cảnh tương phán này.
Dựa vào định nghĩa “Phép tương phản ” chỉ ra:
a) Hai mặt tướng phản của truyện sống chết mặc bay. một bên là cảnh nhân dân đang vật lộn căng thẳng, vất vả đến cực độ trước nguy cơ đê vỡ. Một bên là cảnh quan phủ cùng nha lại, chánh tổng lao vào cuộc tổ tôm ngay trong khi họ “đi hộ đê”.
b) Phân tích làm rõ từng mặt tương phản:
- Mặt tương phản thứ nhất:
+ Thời gian: gần một giờ đêm (giờ đáng lẽ người dân được yên nghỉ sau một
ngày lao động vất vả, cực nhọc).
+ Mưa to và độ dâng của nước sông.
+ Không khí, cảnh tượng hộ đê: nhốn nháo, cảng thẳng (Qua tiếng động, tiếng tù và, tiếng người xao xác gọi nhau hộ đê, qua các hoạt động chống đỡ vừa sôi động vừa lộn xộn của người dân).
+ Sự hất lực của sức người trước sức người. Sự yếu kém của thế đê trước thế nước.
3.a. Em hãy chỉ rõ sự tăng cấp trong việc miêu tả mức độ của trời mưa, của mực nước sông dâng cao, của nguy cơ vỡ đê, của cảnh hộ đê vất vả, căng thẳng của người dân.
b. Sự tăng cấp trong việc miêu tả mức độ dam mê bài bạc của quan phủ như thế nào?
c. Hãy nhận xét về tác dụng của việc kết hợp hai nghệ thuật tương phản và tăng cấp trong việc vạch trần bản chất “ lòng lang dạ thú” của tên quan phú trước sinh mạng của người dân.
- Thiên tai đang từng lúc giáng xuống đe đọa cuộc sống của người dân.
- Mặt tương phản thứ hai:
+ Địa điểm: trong đình vững chãi, đê vỡ cũng không sao.
+ Không khí, quang cảnh: “tĩnh mịch”, “trang nghiêm”, “nhàn nhã”, “đường bệ”, “nguy nga” (phản ánh uy thế của viên quan lại với nha lại, tay sai).
+Đồ dùng sinh hoạt cho tên quan phủ trong khi đi “hộ đê” (chứng tỏ một cuộc sống sang trọng, rất cách biệt với cuộc sống lầm than cơ khổ của nhân dân).
+ Sáng ngời, cách nói của tên quan phủ, cảnh tượng kẻ hầu người hạ.
+ Sự đam mổ tổ tôm và quang cảnh đánh tổ tôm của tên quan phủ với nha lại, chánh tổng...
+ Thái độ của bọn nha lại, của tên quan phủ khi có người dân quê xông vào báo tin đê vỡ.
+ Niềm vui phi nhân tính của tên quan phủ khi: “Ừ! Thông tôm, chi chi nảy”.
- Phép tăng cấp trong truyện ngắn sống chết mặc bay đã được thể hiện qua việc miêu tả các loại chi tiết trong từng mặt tương phản.
a) Với cảnh người dân hộ đê, phép tăng cấp thể hiện trong cách miêu tả: Cảnh trời mưa mỗi lúc mỗi tăng (“mưa tầm tã”, “vẫn mưa tầm tã trút xuống”. Mức nước sông mỗi lúc một dâng cao (“nước sông Nhị Hà lên to quá”, “dưới sông thì nước cứ cuồn cuộn bốc lên”). Âm thanh (tiếng trống, tiếng tù và, tiếng người gọi nhau hộ đê) mỗi lúc một ầm ĩ. Sức người mỗi lúc một đuôi. Nguy cơ đê vỡ mỗi lúc một đến gần và cuối cùng đã đến...
b) Với cảnh quan phủ đánh tổ tôm trong đình, phép tăng cấp được vận dụng vào việc miêu tả độ đam mô tổ tôm của tên quan phủ mỗi lúc một tăng. Mê bạc do không trực tiếp chứng kiến cảnh hộ đô đã đành, nhưng trước sân đình, mưa đổ xuống mỗi lúc một tăng mà coi như không biết gì thì độ mê đã quá lớn. Đến khi người dân phu báo tin đê vỡ, vẫn thờ ơ, lên giọng quái nạt và tiếp tục đánh đến “Ù! Thông tôm, chi chi nảy” trong niềm vui cực độ nhưng là phi nhân tính “lòng lang dạ thú”. Phép tăng cấp trong nghệ thuật có tác đụng làm rõ thêm tâm lí, tính cách nhân vật là như thế.
4. Hãy phát biểu chung về giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và nghệ thuật của truyện Sống chết mặc bay.
Nhận xét chung về giá trị của tác phẩm sống chết mặc bay.
a) Giá trị hiện thực: Phản ánh sự đối lập hoàn toàn giữa cuộc sống của nhân dân với cuộc sống của bọn quan lại mà kẻ đứng đầu là tên quan phủ “lòng lang dạ thú ” trước sinh mạng của người dân.
b) Giá trị nhân đạo: Thể hiện niềm cảm thương của tác giả trước cuộc sống lầm than cơ cực của người dân do thicn tai và có thái độ vô trách nhiệm của bọn cầm quyền đưa đến.
c) Giá trị nghệ thuật: Vận dụng thành công sự kết hợp hai phép nghệ thuật tương phản và tăng cấp. Có trình độ ngôn ngữ khá sinh động. Ngôn ngữ phần nào đã thể hiện cá tính nhân vật. Câu văn sáng gọn, sinh động.
b)
- Cảnh hộ đê:
+ Dân: Vật lộn chống chọi với mưa gió hết sức căng thẳng vất vả hoạt động nhốn nháo
+ Quan: Nguồi trong đình, cao vững chãi, không cho phép ai đến quấy rầy và coi việc đánh bài là trên hết.
Cảnh đê vỡ:
+ Dân: Nhà cửa trôi, lúa mạ ngập, kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không chỗ không chỗ chôn lênh đênh trên mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thám sầu.
+ Quan: Thắng bài lớn.
Nhận xét: Làm nổi bật sự đối lập. Người có trách nhiệm nhưng lại vô trách nhiệm chỉ ham mê cờ bạc. Còn những người dân thì phải dầm mưa , gội gió, nhộc nhằn chống cọi với thiên tai một cách khó khăn. Cuối cùng khi đê vỡ quan thì xung sướng vì ù to, còn dân thì rơi vào tình cảnh thảm xầu.
Tick cho mình nhé
c)
-Cảnh thiên nhiên và nguy cơ đê vỡ:
+ Tăng cấp:
. Trời mưa mỗi lúc một to
. Mua tầm tã trút xuống
. Mực nước sông mỗi lúc càng dâng cao
. Nước sông lên to quá, nước sông cuồn cuộn bốc lên.
. Nguy cơ vỡ đê mỗi lúc càng gần.
+ Nhận xét: Mưa và gió càng lớn thì đê càng dễ vỡ.
- Sự vất vả, căng thẳng của người dân hộ đê:
+ Tăng cấp:
. Từ chiều đến giờ hết sức giữ gìn
. Người nào người nấy lướt thướt như chuột
. Tiếng người xao xác gọi nhau xem chùng ai cũng mệt lữ
. Dân phu rối rít vất vả lấm láp gội gió tắm mưa như lũ sâu đàn kiến.
+ Nhận xét: Mua càng to, gió càng lớn thì sức người càng cạn kiệt.
Mức độ ham mê cờ bạc của quan phủ:
+ Tăng cấp: Mức độ đam mê cờ bạc của quan tăng cao và quan càng thắng lớn.
+ Nhận xét: Mức độ ham mê cờ bạc quá mức này đã giết chết bao nhiêu người
d) Đã tố cáo và phê phán hành động ham mê cờ bạc và vô trách nhiệm của tên quan. Nếu viên quan chỉ ham đánh bạc thì đó là thói xấu của sinh hoạt cá nhân. Quan đánh bạc khi làm công vụ liên quan đến tính mạng và tài sản của dân thì đó là sự vô trách nhiệm. Quan thắng bài khi đê vỡ. Quan sung sướng bao nhiêu thì dân càng cùng cực bây nhiêu, thì sự sung sướng của quan là một hành động phi nhân tính là một kẻ lòng lan dạ thú của một tên quan phụ mẫu
e) Giá trị hiện thực phản ánh sự đối lập hoàn toàn giữa cuộc sống sinh hoạt của nhân dân với bọn quan lại. Đứng đầu là tên quan lòng lan dạ thú
- Giá trị nhân đạo là thể hiện lòng thương cảm của tác giả trước sự cơ cực của người dân do thiên tai và phê phán sự vô trách nhiệm của bọn quan lại
Câu 1:
Truyện ngắn Sống chết mặc bay có thể chia làm 3 đoạn:
=> Nguy cơ đê bị vỡ và sự chống đỡ của người dân.
=> Quan phụ mẫu vô trách nhiệm, mải mê bài bạc trong khi đi hộ đê.
=> Đê bị vỡ, nhân dân lâm vào cảnh thảm sầu.
Câu 2:
a. Hai mặt tương phản cơ bản trong truyện Sống chết mặc bay:
- Một bên là người dân vật lộn, chống chọi với mưa gió hết sức căng thẳng, vất vả.
- Bên kia là viên quan đi hộ đê ngồi trong chỗ an toàn, nhàn nhã, mải mê bài bạc, không cho phép ai quấy rầy ván bài của mình, coi việc đánh bài là trên hết, mặc dân sống chết khi đê vỡ.
b. Phân tích làm rõ từng mặt trong sự tương phản:
- Cảnh dân làng hộ đê thật thảm thương:
- Thời gian gần một giờ đêm.
- Mưa càng lúc càng to, mực nước sông càng dâng cao: mưa tầm tã trút xuống... nước cứ cuồn cuộn bốc lên.
- Cảnh dân làng hộ đê vất vả, mệt nhọc: kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre... lướt thướt như chuột lột. Không khí nhốn nháo, căng thẳng: Trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi...
Cảnh cho thấy sự bất lực của sức người trước sức trời, sự yếu kém của thế đê trước thế nước.
- Một bên là cảnh quan phủ cùng bọn nha lại ung dung bài bạc ngay trong khi bọn chúng đi "hộ đê".
+ Địa điểm: trong đình cao ráo, an toàn.
+ Không khí, quang cảnh: "tĩnh mịch", "trang nghiêm", "nhàn nhã", "đường bệ", "nguy nga", "đèn thắp sáng trưng" (phản ánh uy thế của viên quan phủ với nha lại, tay sai).
+ Đồ dùng sinh hoạt cho tên quan phủ trong khi đi "hộ đê" sang cả, quý phái: bát yến hấp đường phèn, tráp đồi mồi, ...
c. Viên quan đi hộ đê thì ngồi trong đình ở chỗ cao ráo, an toàn. Người gãi chân, kẻ quạt mát, các tay chân ngồi hầu bài. Khung cảnh nhàn nhã, đường bệ, nguy nga. Quan chỉ mê bài. Đáng lẽ phải tắm mưa, gội gió, đứng trên đê đốc thúc, thì quan lại ngồi chơi nhàn nhã, có kẻ hầu, người hạ. Quan gắt khi có người báo tin đê vỡ. Quan đỏ mặt tía tai đòi cách cổ, bỏ tù người dân báo đê vỡ. Và y tiếp tục vui mừng vì đã ù ván bài, mặc cho dân rơi vào cảnh đê vỡ, "tình cảnh thảm sầu" không sao kể xiết.
Miêu tả hai cảnh tương phản trên, tác giả có dụng ý lên án tên quan lòng lang dạ thú, mắt đui tai điếc trước nỗi thống khổ của đồng bào huyết mạch.
d. Tác giả dựng lên hai cảnh tương phản nhằm mục đích so sánh, làm nổi bật sự đối lập. Người có trách nhiệm thì vô trách nhiệm, chỉ ham mê bài bạc. Những người dân thì phải dầm mưa gội gió, nhọc nhằn, chống chọi với thiên nhiên một cách tuyệt vọng. Cuối cùng, sự vô trách nhiệm của viên quan đã dẫn đến cảnh đê vỡ. Quan thì sung sướng vì nước bài cao, dân thì khổ vì nước lụt.
Câu 3:
a) Với cảnh người dân hộ đê, phép tăng cấp thể hiện trong cách miêu tả: Cảnh trời mưa mỗi lúc mỗi tăng (“mưa tầm tã”, “vẫn mưa tầm tã trút xuống”. Mức nước sông mỗi lúc một dâng cao (“nước sông Nhị Hà lên to quá”, “dưới sông thì nước cứ cuồn cuộn bốc lên”). Âm thanh (tiếng trống, tiếng tù và, tiếng người gọi nhau hộ đê) mỗi lúc một ầm ĩ. Sức người mỗi lúc một đuôi. Nguy cơ đê vỡ mỗi lúc một đến gần và cuối cùng đã đến...
b) Với cảnh quan phủ đánh tổ tôm trong đình, phép tăng cấp được vận dụng vào việc miêu tả độ đam mô tổ tôm của tên quan phủ mỗi lúc một tăng. Mê bạc do không trực tiếp chứng kiến cảnh hộ đô đã đành, nhưng trước sân đình, mưa đổ xuống mỗi lúc một tăng mà coi như không biết gì thì độ mê đã quá lớn. Đến khi người dân phu báo tin đê vỡ, vẫn thờ ơ, lên giọng quái nạt và tiếp tục đánh đến “Ù! Thông tôm, chi chi nảy” trong niềm vui cực độ nhưng là phi nhân tính “lòng lang dạ thú”. Phép tăng cấp trong nghệ thuật có tác đụng làm rõ thêm tâm lí, tính cách nhân vật là như thế.
c) - Thiên tai đang từng lúc giáng xuống đe đọa cuộc sống của người dân.
- Mặt tương phản thứ hai:
+ Địa điểm: trong đình vững chãi, đê vỡ cũng không sao.
+ Không khí, quang cảnh: “tĩnh mịch”, “trang nghiêm”, “nhàn nhã”, “đường bệ”, “nguy nga” (phản ánh uy thế của viên quan lại với nha lại, tay sai).
+Đồ dùng sinh hoạt cho tên quan phủ trong khi đi “hộ đê” (chứng tỏ một cuộc sống sang trọng, rất cách biệt với cuộc sống lầm than cơ khổ của nhân dân).
+ Sáng ngời, cách nói của tên quan phủ, cảnh tượng kẻ hầu người hạ.
+ Sự đam mổ tổ tôm và quang cảnh đánh tổ tôm của tên quan phủ với nha lại, chánh tổng...
+ Thái độ của bọn nha lại, của tên quan phủ khi có người dân quê xông vào báo tin đê vỡ.
+ Niềm vui phi nhân tính của tên quan phủ khi: “Ừ! Thông tôm, chi chi nảy”.
- Phép tăng cấp trong truyện ngắn sống chết mặc bay đã được thể hiện qua việc miêu tả các loại chi tiết trong từng mặt tương phản.
Câu 4:
- Giá trị hiện thực của truyện Sống chết mặc bay là đã phản ánh bộ mặt của giai cấp thống trị mà tiêu biểu là tên quan có vai trò “cha mẹ” người dân nhưng đã chỉ ham mê bài bạc, hết sức vô trách nhiệm, làm cho dân chúng khốn khổ vì đê vỡ, nước lụt.
- Giá trị nhân đạo của truyện là đã cảm thông với sự vất vả, khốn khổ của người lao động trước cảnh thiên tai xảy ra do thái độ vô trách nhiệm của bọn quan lại.
- Giá trị nghệ thuật: Đây là truyện ngắn viết theo kiểu hiện đại bằng chữ Quốc ngữ. Nhân vật đã bước đầu có tính cách. Tác giả đã sử dụng biện pháp tương phản, tăng cấp, kết hợp với lời bình luận trực tiếp để tố cáo và phê phán. Nhân vật quan phụ mẫu đã bộc lộ bản chất xấu xa, vô trách nhiệm qua các hành động, lời nói của y với tay chân và với người dân.