K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

13 tháng 3

Vùng Bắc Trung Bộ có nhiều thế mạnh về tài nguyên đất, địa hình, nguồn nước và biển đảo, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế. Về tài nguyên đất, vùng có diện tích đất nông nghiệp khá lớn ở các đồng bằng ven biển và các thung lũng sông, thuận lợi cho trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và phát triển chăn nuôi, ngoài ra vùng đồi núi rộng còn thích hợp trồng rừng, phát triển lâm nghiệp và cây công nghiệp lâu năm. Về địa hình, Bắc Trung Bộ có sự phân hóa rõ rệt giữa núi, đồi, đồng bằng và ven biển, tạo điều kiện phát triển đa dạng các ngành kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, giao thông vận tải và du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng. Về nguồn nước, hệ thống sông ngòi khá dày đặc như sông Mã, sông Cả, sông Gianh, sông Hương giúp cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, đồng thời thuận lợi phát triển thủy điện và nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Về biển đảo, vùng có bờ biển dài, nhiều đầm phá và ngư trường giàu nguồn lợi hải sản, tạo điều kiện phát triển đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, phát triển các cảng biển, giao thông vận tải biển và du lịch biển đảo, góp phần thúc đẩy kinh tế của toàn vùng.

8 tháng 3

Ở đâu mà chả phải quan tâm

9 tháng 3

Điều kiện tự nhiên của vùng Bắc Trung Bộ có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế

Địa hình, địa hình chủ yếu là núi và đồi ở phía tây, đồng bằng ven biển hẹp và kéo dài, phía đông giáp biển, thuận lợi phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi, khai thác khoáng sản, phát triển kinh tế biển và giao thông Bắc Nam

Đất, có nhiều loại đất như đất feralit ở vùng đồi núi thuận lợi trồng rừng và cây công nghiệp, đất phù sa ở đồng bằng ven sông thích hợp trồng lúa và hoa màu, đất cát ven biển thích


2 tháng 3
Ô nhiễm và suy giảm tài nguyên biển tại Nam Trung Bộ chủ yếu do hoạt động kinh tế ven bờ (nuôi trồng thủy sản, du lịch, cảng biển) chưa xử lý rác/nước thải tốt, cùng tình trạng đánh bắt quá mức, sử dụng chất nổ và tác động của biến đổi khí hậu (nước dâng, tràn dầu). Các hoạt động này làm huỷ hoại hệ sinh thái, suy giảm nguồn lợi thuỷ sản.  bienvietnam.gov.vn +2 Nguyên nhân cụ thể:
  • Ô nhiễm môi trường biển:
    • Hoạt động công nghiệp và cảng biển: Các vụ tràn dầu từ tàu chở dầu, giàn khoan (ví dụ: Quy Nhơn 2021) và chất thải từ các cảng biển.
    • Nuôi trồng và đánh bắt thủy sản: Việc nuôi trồng thủy sản ven bờ ồ ạt, sử dụng thuốc và thức ăn dư thừa, cùng hoạt động khai thác mang tính hủy diệt.
    • Phát triển du lịch: Chất thải từ du lịch chưa được xử lý triệt để xả thẳng ra biển.
    • Tự nhiên: Sự bào mòn, sạt lở đồi núi, triều cường dâng cao mang theo chất độc hại, và tác động của núi lửa ngầm.
  • Suy giảm tài nguyên biển:
    • Khai thác quá mức: Đánh bắt thủy sản bằng lưới mắt nhỏ, chất nổ, hóa chất làm cạn kiệt nguồn lợi.
    • Huỷ hoại môi trường sống: Rạn san hô, rừng ngập mặn bị tàn phá do ô nhiễm và khai thác, làm mất nơi cư trú của sinh vật biển.
    • Biến đổi khí hậu: Nước biển dâng và nhiệt độ nước tăng ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái biển.  www.sonha.net.vn +4
Các nhân tố này kết hợp lại khiến môi trường biển Nam Trung Bộ chịu áp lực lớn, gây suy giảm cả về chất lượng nước và đa dạng sinh học.
1 tháng 1

Sự phát triển kinh tế, dân cư và nguồn lao động, cùng với cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và phân bố các ngành dịch vụ. Khi kinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng lên sẽ làm nhu cầu về các dịch vụ như thương mại, du lịch, tài chính, giáo dục và y tế ngày càng mở rộng, từ đó thúc đẩy ngành dịch vụ phát triển mạnh. Dân cư đông, nguồn lao động dồi dào và có trình độ cao vừa tạo ra thị trường tiêu thụ lớn, vừa cung cấp lực lượng lao động cần thiết cho các hoạt động dịch vụ, khiến dịch vụ thường tập trung ở các đô thị và vùng đông dân. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng hiện đại như giao thông, thông tin liên lạc, điện nước phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức, kết nối và mở rộng các hoạt động dịch vụ, góp phần quyết định đến quy mô cũng như sự phân bố hợp lí của các ngành dịch vụ.

1 tháng 11 2025

không biết


1 tháng 11 2025

Là sao bn

30 tháng 10 2025

Các ngành nông, lâm, ngư nghiệp phát triển và phân bố chịu tác động bởi hai nhóm yếu tố chính: - Nhóm yếu tố tự nhiên: Khí hậu, đất, nước, rừng, ngôn ngừa và nguồn lợi sinh vật quyết định loại cây trồng, vật nuôi và phương thức khai thác. Địa hình cao thích hợp trồng cây lâm nghiệp, đồng bằng phù sa thuận lợi trồng lúa, cây lương thực; nguồn nước biển, sông hồo ảnh hưởng tới nuôi trồng thuỷ sản. - Nhóm yếu tố kinh tế – xã hội: Dân cư và lao động cung cấp nhân lực; kinh nghiệm, triức học kỹ thuật quyết định năng suất; cờ sở vật chất như giao thông, thủy lợi, chế biến bảo quản giúp tiêu thụ; chính sách nhà nước, nhu cầu thị trường và xu hướng hội nhập cũng hướng dẫn sự lựa chọn cây, con giống và định hướng phát triển.

Dân số già hóa vừa là thách thức, vừa là cơ hội. Việt Nam cần có chính sách phù hợp như khuyến khích sinh con, tận dụng nguồn lao động cao tuổi có kinh nghiệm, và phát triển hệ thống chăm sóc, an sinh xã hội bền vững.

Già hóa dân số đang đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng cho sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực lao động, y tế, an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế dài hạn.

Dưới đây là những ảnh hưởng cụ thể:

1. Suy giảm lực lượng lao động

  • Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động giảm, trong khi số người cao tuổi tăng nhanh, làm mất cân đối cơ cấu dân số.
  • Điều này dẫn đến thiếu hụt nhân lực, đặc biệt trong các ngành sản xuất, dịch vụ và công nghệ.

2. Gánh nặng tài chính và an sinh xã hội

  • Chi phí chăm sóc sức khỏe và trợ cấp xã hội tăng cao do nhu cầu của người cao tuổi ngày càng lớn.
  • Ngân sách nhà nước phải chi nhiều hơn cho bảo hiểm y tế, hưu trí và dịch vụ xã hội, ảnh hưởng đến đầu tư cho giáo dục, hạ tầng và phát triển.
  • 3. Áp lực lên hệ thống y tế
  • Người cao tuổi thường mắc bệnh mãn tính, cần chăm sóc dài hạn, gây quá tải cho bệnh viện và nhân lực y tế.
  • Đòi hỏi phải phát triển mô hình chăm sóc sức khỏe cộng đồng và dịch vụ y tế chuyên biệt cho người già.

4. Tác động đến tăng trưởng kinh tế

  • Già hóa dân số làm giảm năng suất lao động và tốc độ tăng trưởng GDP ở nhiều tỉnh thành.
  • Các địa phương có tỷ lệ người già cao thường có mức tăng trưởng kinh tế chậm hơn, do thiếu lực lượng lao động trẻ và sáng tạo.

5. Thách thức về đổi mới và sáng tạo

  • Xã hội già hóa có xu hướng bảo thủ hơn, ít chấp nhận rủi ro và đổi mới, ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với công nghệ mới và xu hướng toàn cầu.

6. Mức sinh thấp làm trầm trọng thêm vấn đề

  • Tổng tỷ suất sinh (TFR) của Việt Nam năm 2024 chỉ đạt 1,91 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế.
  • Điều này khiến dân số già hóa nhanh hơn, làm giảm số lượng người trẻ trong tương lai.

Giải pháp đang được đề xuất trong Dự thảo Luật Dân số bao gồm: chuyển trọng tâm từ “kế hoạch hóa gia đình” sang “dân số và phát triển”, đầu tư vào phát triển thể lực, trí lực và tâm lực của người dân, và xây dựng chính sách thích ứng với già hóa dân số