K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 1 (2,0 điểm). Từ lời kêu gọi của Bà Henrietta Fore – Giám đốc Điều hành UNICEF trong đoạn trích trên, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) bàn về vấn đề: thế hệ cần chuẩn bị những gì để vượt qua thách thức mà trí tuệ nhân tạo mang lại?.Câu 2 (4,0 điểm). Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích truyện ngắn dưới đây.GA TÀU TUỔI THƠ Ở ngõ...
Đọc tiếp

Câu 1 (2,0 điểm). Từ lời kêu gọi của Bà Henrietta Fore – Giám đốc Điều hành UNICEF trong đoạn trích trên, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) bàn về vấn đề: thế hệ cần chuẩn bị những gì để vượt qua thách thức mà trí tuệ nhân tạo mang lại?.

Câu 2 (4,0 điểm). Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích truyện ngắn dưới đây.

GA TÀU TUỔI THƠ

Ở ngõ nhà tôi có một cây bạch đàn to, mỗi hôm ra ngóng bố mẹ tôi lại lấy mảnh trai cứa lên thân cây một vạch. Cho đến buổi chiều hôm ấy anh tôi đếm trên thân cây thấy vừa tròn mười lăm vạch. Chiều ấy khi trời đã tối hẳn, anh tôi đã dắt thằng út em vào nhà, tôi vẫn còn đứng nán lại nhìn một lần nữa phía con đường mòn. Tôi bỗng hét lên sung sướng vì đã nhìn thấy bóng dáng thân quen của bố mẹ đang đi về phía chủng tôi. Buổi chiều muộn ấy là một buổi chiều tràn ngập niềm vui, thằng út em sà vào vòng tay, dụi dụi vào ngực mẹ như nó vẫn còn nhớ mùi hương của sữa. Anh cả vừa hát vừa nhảy chân sao đi đằng sau. Bố công kênh tôi trên đôi vai đã gầy sọp đi vì vất vả. Tối ấy cả nhà trải chiếu ra giữa sân ngập tràn ảnh trăng, mẹ lại hát ru em ngủ, bố kể nốt câu chuyện cổ tích "Cây khế" còn dang dở 15 ngày trước...

Rồi khi em út tôi bị ung nhọt mọc đầy người, bố mẹ lại một lần nữa gồng gánh niềm tin xuôi tàu về Hà Nội. Nhà chỉ còn hai anh em chăm nhau nhưng vẫn không quên chiều chiều lại ra ngõ ngóng. Mấy đứa trẻ con trong xóm chơi bắn bi với tôi bị thua nên ghét tôi lắm, cứ chiều thấy anh em tôi ra ngỗ là chúng lại xúm vào trêu rất ác: "Đồ mồ côi! Anh em nhà mồ côi bị bố mẹ bỏ rơi. Ê ồ! Ê ồ!". Tôi vừa gào khóc vừa nhặt đất đá ném lũ trẻ. Anh cả cõng tôi trên lưng đi về phía con đường mòn, chúng tôi cử đi từ khi mặt trời bắt đầu xuống núi đến khi tôi mỏi mắt cũng không nhìn rõ hướng đi. Lúc ấy tôi khóc khăn cả cổ còn anh trai thì luôn miệng dỗ dành:

– Em gái ngoan nào, để anh cõng em đi tìm bố mẹ đi tìm em út nhé. Rồi mai anh đi hái quả đùm đũm chín mọng đỏ cho ăn nhé.

Đấy là lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy ga tàu, hai đứa trẻ con cõng nhau đứng lọt thỏm giữa sân ga im ắng, khách xuống tàu đã về hết tự lúc nào. Anh tôi đứng lặng rất lâu, tôi thấy có vài giọt nước ấm rơi xuống đôi bàn tay đang bá vào cổ anh. Tôi biết là anh đang khóc, nhưng sau đó anh lại xốc tôi lên và cũng quay trở lại con đường mòn khi nãy.

Tôi không thể nhớ nổi có biết bao buổi chiều đã đi qua cuộc đời chúng tôi buồn bàng bạc như thế. Bởi em tôi bệnh rất nặng, phải mấy năm sau em mới thật sự khỏi bệnh. Trong lúc bố mẹ tôi gồng gánh trên đôi vai mình những gian nan, vất vả chạy chữa khắp nơi để cứu lấy sinh mạng em tôi, thì anh trai đã phải lớn lên trước tuổi để che chở, bao bọc thứ niềm tin nhỏ bé trong tôi. Từ tình yêu thương đó tôi lớn lên từng ngày một, tôi hiểu ra rằng những chuyến đi của bố mẹ có ý nghĩa lớn lao như thế nào, tôi cũng hiểu rằng anh cả là một người anh thật tuyệt vời. Lúc bố mẹ vắng nhà anh đã đứng vững, đã làm cái "nóc nhà" để che chở vỗ về và cả tha thứ cho bầy em bé nhỏ của mình.

Cho đến mãi sau này tôi cũng không bao giờ quên những buổi chiều anh trai tôi dắt tôi ra ngõ ngóng người thân trở về. Cây bạch đàn ở ngõ đã bao lần thay vỏ, những vết khắc năm xưa đã không còn nữa nhưng vết khắc tuổi thơ thì vẫn luôn hằn trong tâm trí chúng tôi. Để sau này khi dòng xoáy cuộc đời có cuốn chúng tôi về đâu đi nữa thì những buổi chiều ngang qua cuộc đời sẽ giúp tôi tìm về nguồn cội để biết yêu thương và được yêu thương thật nhiều trong vòng tay ấm áp của gia đình.

(Theo tác giả Vũ Thị Huyền Trang, Ga tàu tuổi thơ,
báo Tài hoa trẻ, số 750 ngày 15.02.2012)

* Chú thích: Vũ Thị Huyền Trang là cây bút trẻ viết khoẻ nhất với hơn 300 truyện ngắn, 200 tản văn và 100 bài thơ. Trang viết của cô chủ yếu bằng ký ức của mình. Dòng ký ức tuôn chảy như lúc nào cũng chực chờ vỡ oà, nhất là khi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của một cô gái luôn thấy mình lạc lõng giữa thành phố nhộn nhịp.

0
Phiếu học tập số 11. Đúng 2.Sai Sửa lại: Chuyện người con gái Nam Xương không phải truyện mở đầu, mà là truyện thứ 16 trong tập Truyền kỳ mạn lục. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên mới là truyện mở đầu của Truyền kì mạn lục. 3.Đúng 4.Sai Sửa lại: Điệp thanh chủ yếu dùng để tạo âm thanh, nhịp điệu, gợi cảm xúc hoặc nhấn mạnh ý nghĩa, chứ không trực tiếp tạo ấn tượng...
Đọc tiếp

Phiếu học tập số 1

1. Đúng 2.Sai Sửa lại: Chuyện người con gái Nam Xương không phải truyện mở đầu, mà là truyện thứ 16 trong tập Truyền kỳ mạn lục. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên mới là truyện mở đầu của Truyền kì mạn lục. 3.Đúng 4.Sai Sửa lại: Điệp thanh chủ yếu dùng để tạo âm thanh, nhịp điệu, gợi cảm xúc hoặc nhấn mạnh ý nghĩa, chứ không trực tiếp tạo ấn tượng thị giác. Ấn tượng thị giác thường được tạo ra bởi các biện pháp tu từ khác như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, hoặc các yếu tố miêu tả. 5.Sai Sửa lại: Bài thơ Tiếng đàn mưa của Bích Khê không tái hiện bức tranh mưa mùa hạ, mà miêu tả vẻ đẹp huyền ảo, tinh tế của tiếng đàn trong khung cảnh mùa xuân — khi mưa xuân rơi nhẹ, thiên nhiên và lòng người hòa quyện trong âm thanh và cảm xúc. Tác phẩm thể hiện thế giới nghệ thuật tượng trưng, lãng mạn, giàu nhạc điệu và cảm xúc, chứ không đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mùa hạ. 6. Sai Sửa lại: Cốt truyện của truyện thơ Nôm thường xây dựng theo mô hình với ba phần cơ bản: Gặp gỡ – Tai biến (chia li) – Đoàn tụ. 7.Sai Sửa lại: Câu "Hổ mang bò lên núi" sử dụng biện pháp nhân hóa, gán đặc điểm của con người (bò) cho loài vật (hổ mang), chứ không phải là chơi chữ. Chơi chữ là sử dụng sự đồng âm, đồng nghĩa hoặc đa nghĩa của từ để tạo ra sự thú vị, hài hước trong câu văn. 8. Đúng 9.Sai Sửa lại: Truyện Kiều không lấy cốt truyện từ văn học dân gian, mà tiếp thu cốt truyện từ tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc có tên Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Nguyễn Du chỉ Việt hóa, dân gian hóa sâu sắc nội dung và nghệ thuật, khiến tác phẩm gần gũi với tâm hồn, ngôn ngữ, cảm xúc của người Việt. 10. Đúng

Phiếu học tập số 2: 1. 1) trung đại, 2) yếu tố kì ảo. 2. 1) còi tiên, 2) hòa quyện. 3. 1) Nguyễn Dữ,2) truyền kì mạn lục. 4. 1) lập luận, 2) giải pháp. 5. 1) âm tiết, 2) sự hài hòa. 6. 1) Tản Đà, 2) song thất lục bát. 7. 1) Nguyễn Du,2) người cung nữ. 8. 1) nhiều, 2) người chinh phụ. 9. 1) tiếng Việt, 2) chữ Hán.

0
Phiếu số 11.Truyện truyền kì có cốt truyện chủ yếu mô phỏng cốt truyện dân gian hoặc dã sử; mượn từ truyện truyền kì Trung Quốc.: Đúng.2.Chuyện người con gái Nam Xương là truyện mở đầu của tập Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ).: Sai. (Chuyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16/17, không phải truyện mở đầu. Truyện mở đầu là Hàn Than phu nhân.)3.Trong thể thơ song thất lục bát,...
Đọc tiếp

Phiếu số 1

1.Truyện truyền kì có cốt truyện chủ yếu mô phỏng cốt truyện dân gian hoặc dã sử; mượn từ truyện truyền kì Trung Quốc.: Đúng.


2.Chuyện người con gái Nam Xương là truyện mở đầu của tập Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ).: Sai. (Chuyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16/17, không phải truyện mở đầu. Truyện mở đầu là Hàn Than phu nhân.)


3.Trong thể thơ song thất lục bát, vần chân được gieo ở cuối tất cả các câu thơ.: Sai. (Vần chỉ gieo ở cuối các câu 7, 7, 6, 8 theo quy luật nhất định, không phải ở cuối tất cả các câu.)


4.Điệp thanh là biện pháp tu từ lặp lại thanh điệu nhằm mục đích tạo nên nhạc tính, tăng tính tạo hình và sức biểu cảm cho văn bản.: Sai. (Điệp thanh là lặp lại âm thanh (phụ âm đầu, vần), lặp lại thanh điệu là Điệp điệu.)


5.Bài thơ Tiếng đàn mưa (Bích Khê) đã tái hiện vẻ đẹp tinh tế của bức tranh mưa mùa hạ.: Sai. (Tên bài thơ là "Tiếng đàn".)


6.Cốt truyện của truyện thơ Nôm thường xây dựng theo mô hình với ba phần cơ bản: Chia li - Gặp gỡ - Đoàn tụ.: Sai. (Mô hình đúng là: Gặp gỡ - Tai biến/Chia li - Đoàn tụ.)


7.Câu văn “Hổ mang bò lên núi.” sử dụng biện pháp tu từ chơi chữ.: Sai. (Đây là câu kể bình thường, không có dấu hiệu chơi chữ.)


8.Nghị luận về một tác phẩm thơ song thất lục bát là làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm.: Đúng.


9.Truyện Kiều (Nguyễn Du) tiếp thu nguồn cốt truyện của văn học dân gian.: Sai. (Cốt truyện Truyện Kiều dựa trên tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc.)


10.Khi trình bày bài nói, HS cần phối hợp ngôn ngữ nói với các phương tiện phi ngôn ngữ.: Đúng.

Phiếu 2

C1 (1) trung đại, (2) yếu tố kì ảo

C2: (1) cõi tiên, (2) hòa quyện

C3: (1) Nguyễn Dữ, (2) Truyền kì mạn lục

C4-: (1) lập luận, (2) giải pháp

C5: (1) ẩn tiết, (2) sự hài hòa

C6: (1) Tản Đà, (2) song thất lục bát

C7: (1) Nguyễn Du, (2) người cung nữ

C8: (1) nhiều, (2) người chinh phụ

C9: (1) tiếng Việt, (2) chữ Hán

0
1.Truyện truyền kì có cốt truyện chủ yếu mô phỏng cốt truyện dân gian hoặc dã sử; mượn từ truyện truyền kì Trung Quốc.: Đúng.2.Chuyện người con gái Nam Xương là truyện mở đầu của tập Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ).: Sai. (Chuyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16/17, không phải truyện mở đầu. Truyện mở đầu là Hàn Than phu nhân.)3.Trong thể thơ song thất lục bát, vần chân...
Đọc tiếp

1.Truyện truyền kì có cốt truyện chủ yếu mô phỏng cốt truyện dân gian hoặc dã sử; mượn từ truyện truyền kì Trung Quốc.: Đúng.


2.Chuyện người con gái Nam Xương là truyện mở đầu của tập Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ).: Sai. (Chuyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16/17, không phải truyện mở đầu. Truyện mở đầu là Hàn Than phu nhân.)


3.Trong thể thơ song thất lục bát, vần chân được gieo ở cuối tất cả các câu thơ.: Sai. (Vần chỉ gieo ở cuối các câu 7, 7, 6, 8 theo quy luật nhất định, không phải ở cuối tất cả các câu.)


4.Điệp thanh là biện pháp tu từ lặp lại thanh điệu nhằm mục đích tạo nên nhạc tính, tăng tính tạo hình và sức biểu cảm cho văn bản.: Sai. (Điệp thanh là lặp lại âm thanh (phụ âm đầu, vần), lặp lại thanh điệu là Điệp điệu.)


5.Bài thơ Tiếng đàn mưa (Bích Khê) đã tái hiện vẻ đẹp tinh tế của bức tranh mưa mùa hạ.: Sai. (Tên bài thơ là "Tiếng đàn".)


6.Cốt truyện của truyện thơ Nôm thường xây dựng theo mô hình với ba phần cơ bản: Chia li - Gặp gỡ - Đoàn tụ.: Sai. (Mô hình đúng là: Gặp gỡ - Tai biến/Chia li - Đoàn tụ.)


7.Câu văn “Hổ mang bò lên núi.” sử dụng biện pháp tu từ chơi chữ.: Sai. (Đây là câu kể bình thường, không có dấu hiệu chơi chữ.)


8.Nghị luận về một tác phẩm thơ song thất lục bát là làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm.: Đúng.


9.Truyện Kiều (Nguyễn Du) tiếp thu nguồn cốt truyện của văn học dân gian.: Sai. (Cốt truyện Truyện Kiều dựa trên tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc.)


10.Khi trình bày bài nói, HS cần phối hợp ngôn ngữ nói với các phương tiện phi ngôn ngữ.: Đúng.

Phiếu 2

C1 (1) trung đại, (2) yếu tố kì ảo

C2: (1) cõi tiên, (2) hòa quyện

C3: (1) Nguyễn Dữ, (2) Truyền kì mạn lục

C4-: (1) lập luận, (2) giải pháp

C5: (1) ẩn tiết, (2) sự hài hòa

C6: (1) Tản Đà, (2) song thất lục bát

C7: (1) Nguyễn Du, (2) người cung nữ

C8: (1) nhiều, (2) người chinh phụ

C9: (1) tiếng Việt, (2) chữ Hán

0
Bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh là một khúc hát trong trẻo, chan chứa tình yêu quê và niềm tự hào về con người lao động. Qua những vần thơ giản dị, nhà thơ đã vẽ nên bức tranh làng chài ven biển thật sinh động: buổi sáng trời trong, gió nhẹ, trai làng hăng hái ra khơi, con thuyền lướt đi như mũi tên tre. Hình ảnh ấy vừa khỏe khoắn vừa tràn đầy sức sống, thể hiện vẻ đẹp mạnh...
Đọc tiếp

Bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh là một khúc hát trong trẻo, chan chứa tình yêu quê và niềm tự hào về con người lao động. Qua những vần thơ giản dị, nhà thơ đã vẽ nên bức tranh làng chài ven biển thật sinh động: buổi sáng trời trong, gió nhẹ, trai làng hăng hái ra khơi, con thuyền lướt đi như mũi tên tre. Hình ảnh ấy vừa khỏe khoắn vừa tràn đầy sức sống, thể hiện vẻ đẹp mạnh mẽ của những người dân chài yêu biển, yêu lao động. Khi thuyền trở về, gió căng buồm, cá đầy khoang, khung cảnh thật rộn ràng và ấm no. Ở phần cuối, giọng thơ chuyển sang bồi hồi, tha thiết khi tác giả nhớ về quê hương sau những năm xa cách. Bằng cảm xúc chân thành, Tế Hanh đã khơi gợi trong lòng em tình yêu và niềm tự hào về quê hương đất nước. Bài thơ khiến em hiểu rằng quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là nơi nuôi dưỡng tâm hồn ta suốt đời.

0
Câu 1.a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong...
Đọc tiếp

Câu 1.

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản "Bếp lửa" Vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:

– Xác định được các ‎ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ‎ý‎:

c1. Chỉ ra các yếu tố luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong bài viết:

– Luận đề: Vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt Nam qua hình ảnh người bà và bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt.

– Các luận điểm:

+ Luận điểm 1: Sự sóng đôi của hình tượng bếp lửa và bà.

++ Lí lẽ 1: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn kí ức của cháu về bà.

++ Lí lẽ 2: Mùi khói gắn liền với sự hi sinh, vất vả của bà trong những năm tháng đói nghèo. (Bằng chứng: Câu văn trong tác phẩm Vợ nhặt)

++ Lí lẽ 3: Hình ảnh bếp lửa và bà gắn với tiếng chim tu hú khắc khoải. (Bằng chứng: Tu hú kêu trên những cánh đồng xa, Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế, Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?)

++ Lí lẽ 4: Hình ảnh bếp lửa và bà trong những năm giặc giã. (Bằng chứng: Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,/ Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ".)

+ Luận điểm 2: Ngọn lửa tượng trưng cho vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt.

++ Lí lẽ 1: Hình ảnh bếp lửa trong sự tả thực đã chuyển hoá thành ngọn lửa của trái tim, của niềm tin và của sức sống con người. (Bằng chứng: kì lạ và thiêng liêng, Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

++ Lí lẽ 2: Người đàn bà dưới mái ấm gia đình trong mọi trường hợp thường gắn liền với những gì thường nhật, thân thiết nhất. (Bằng chứng: Người mẹ dân tộc A-va trong Cha và mẹ, lửa và nước)

c2. Nhận xét về mối quan hệ giữa các yếu tố kể trên: Các yếu tố kể trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hướng đến việc làm rõ cho luận điểm và tập trung làm sáng tỏ cho luận đề của bài viết. Sự kết hợp giữa các yếu tố kể trên góp phần làm tăng sức thuyết phục cho văn bản.

Câu 2.

a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:

Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 400 ± 100 chữ).

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Ý nghĩa của tình cảm gia đình đối với việc hình thành nhân cách con người.

c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:

HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:

c1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

c2. Thân bài:

* Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:

– Giải thích các khái niệm:

+ Tình cảm gia đình: Là tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, trách nhiệm, sẻ chia giữa các thành viên trong gia đình với nhau.

+ Nhân cách: Là những phẩm chất, đặc điểm tâm lí, tính cách, đạo đức của một con người, được hình thành và thể hiện qua thái độ, hành vi trong cuộc sống.

– Ý nghĩa của tình cảm gia đình đối với việc hình thành nhân cách:

+ Là cái nôi nuôi dưỡng phẩm chất con người: Gia đình là trường học đầu tiên, nơi con người học được những bài học đạo đức cơ bản nhất (lòng yêu thương, sự sẻ chia, lòng biết ơn, sự bao dung, trách nhiệm,...). Tình cảm gia đình sẽ nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người có một trái tim nhân ái.

+ Là điểm tựa vững chắc cho mỗi con người trên đường đời: Tình cảm gia đình mang đến sự an toàn, che chở, giúp con người có đủ nghị lực để đối mặt và vượt qua khó khăn, thất bại trong cuộc sống.

+ Là kim chỉ nam có tác dụng định hướng cho con người: Gia đình truyền tải những giá trị văn hoá, truyền thống, giúp con người định hình lẽ sống, mục tiêu, lý tưởng, từ đó có định hướng rõ ràng trong cuộc đời. 

– Thực trạng về tình cảm gia đình hiện nay:

+ Mặt tích cực: Nhiều gia đình vẫn giữ gìn được sự ấm áp, truyền thống tốt đẹp, là điểm tựa cho các thành viên.

+ Mặt tiêu cực: Trong xã hội hiện đại, nhịp sống hối hả, áp lực công việc, sự phát triển của công nghệ và lối sống cá nhân hoá đang khiến khoảng cách giữa các thế hệ gia tăng, tình cảm gia đình đôi khi bị xao nhãng (ví dụ: thiếu giao tiếp, ít thời gian bên nhau).

– Hậu quả khi thiếu vắng tình cảm gia đình: Khi thiếu vắng tình yêu thương, sự quan tâm từ gia đình, con người dễ trở nên ích kỉ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, hoặc sa ngã vào những tệ nạn xã hội,...

– Giải pháp để vun đắp tình cảm gia đình trong bối cảnh hiện nay:

+ Mỗi thành viên cần chủ động dành thời gian chất lượng cho nhau (cùng ăn cơm, trò chuyện, tham gia các hoạt động chung).

+ Thế hệ trẻ cần học cách lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ với ông bà, cha mẹ; đồng thời, người lớn cũng cần cởi mở, tôn trọng sự khác biệt của giới trẻ.

+ ...

c3. Kết bài: Khái quát lại vấn đề được nghị luận.

0