K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

19 tháng 3

Hiện tượng nghiện mạng xã hội trong giới trẻ hiện nay đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm, mạng xã hội như Facebook, TikTok, Instagram mang lại nhiều tiện ích như kết nối bạn bè, cập nhật thông tin, giải trí, tuy nhiên việc sử dụng quá mức lại dẫn đến tình trạng lệ thuộc, nhiều bạn trẻ dành hàng giờ mỗi ngày để lướt mạng, kiểm tra thông báo, đăng bài, điều này khiến thời gian học tập, nghỉ ngơi bị ảnh hưởng, nguyên nhân chủ yếu là do tâm lý muốn được chú ý, thiếu kỹ năng quản lý thời gian, ngoài ra nội dung hấp dẫn trên mạng cũng khiến người dùng khó kiểm soát, hậu quả là giảm sút kết quả học tập, mất tập trung, ảnh hưởng sức khỏe như mất ngủ, mỏi mắt, thậm chí gây ra stress, vì vậy mỗi người cần sử dụng mạng xã hội hợp lý, biết cân bằng giữa đời sống thực và thế giới ảo, đồng thời gia đình và nhà trường cũng cần định hướng để giúp giới trẻ có thói quen sử dụng mạng xã hội lành mạnh

18 tháng 3

Hình ảnh ước lệ là liễu Chương Đài, đây là hình ảnh tượng trưng cho người phụ nữ đẹp, người yêu cũ hoặc người vợ xa cách, tác dụng là làm cho lời thơ trở nên gợi hình, gợi cảm, diễn tả nỗi nhớ thương, sự lưu luyến và tâm trạng mong ngóng của nhân vật trữ tình đối với người mình yêu

6 tháng 2

Câu 1:

Bài thơ "Những giọt lệ" là một tiếng kêu thương xé lòng, kết tinh từ nỗi đau tột cùng và tài năng trác tuyệt của Hàn Mặc Tử. Ngay từ những vần thơ đầu, thi nhân đã khắc họa một thế giới đầy bi kịch qua hàng loạt hình ảnh siêu thực ám ảnh như "mặt nhựt tan thành máu", "khối lòng cứng tợ si". Đó là sự phóng chiếu nỗi đau thể xác và tinh thần ra cả vũ trụ, biến nguồn sống (mặt trời) thành sự hủy diệt. Bi kịch ấy bắt nguồn từ sự chia biệt trong tình yêu, khiến tâm hồn người thi sĩ vỡ vụn, hụt hẫng đến mức "dại khờ". Đặc biệt, ở khổ thơ cuối, nỗi đau không chỉ dừng lại ở sự tuyệt vọng mà đã thăng hoa kỳ diệu. Hình ảnh "bông phượng nở trong màu huyết" nhỏ xuống thành "giọt châu" là một biểu tượng nghệ thuật đắt giá: nỗi đau thương của xác thịt đã ngưng tụ lại thành những viên ngọc thơ ca lấp lánh. Bằng việc sử dụng dồn dập các câu hỏi tu từ và ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, Hàn Mặc Tử đã dẫn người đọc đi từ trạng thái hoang mang, lạc lõng đến sự rung cảm mãnh liệt trước một hồn thơ "điên" nhưng đầy tài hoa, biết chắt chiu cái đẹp vĩnh cửu ngay trên vực thẳm của số phận.

5 tháng 2

Qua đoạn trích Thề nguyện trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, em cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn cao quý của Thúy Kiều, đặc biệt trong tình yêu. Trước hết, Thúy Kiều hiện lên là một người con gái giàu tình cảm, yêu hết mình và chân thành. Lời thề nguyền của Kiều không ồn ào, phô trương mà tha thiết, sâu lắng, thể hiện khát vọng về một tình yêu bền chặt, thủy chung. Bên cạnh đó, Kiều còn là người mạnh mẽ, dám chủ động bày tỏ tình cảm và ước mơ hạnh phúc của bản thân – điều rất đáng trân trọng trong xã hội phong kiến xưa. Đặc biệt, vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều còn thể hiện ở sự trong sáng, cao thượng khi nàng coi tình yêu là sự gắn bó bằng cả tấm lòng và danh dự. Chính vẻ đẹp ấy đã khiến Thúy Kiều trở thành hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng đầy nhân hậu trong văn học Việt Nam.

Tôi cùng câu hỏii

3 tháng 12 2025

Thông điệp mà nhà văn Kim Lân muốn gửi gắm qua “Vợ nhặt”

1. Giá trị của tình người trong hoàn cảnh đói nghèo
Kim Lân muốn khẳng định: Trong lúc tăm tối nhất, con người vẫn hướng về nhau, cứu nhau bằng tình thương.
Tràng “nhặt” được vợ không phải vì vật chất mà vì tấm lòng. Chính hành động nhỏ bé đó đã sưởi ấm số phận của hai con người bên bờ cái chết.


2. Khát vọng sống mãnh liệt của những người nghèo
Dù đói khát, người dân xóm ngụ cư vẫn không từ bỏ hi vọng.

  • Tràng lấy vợ
  • Thị theo Tràng về
  • Bà cụ Tứ chấp nhận nàng dâu mới
    → Tất cả thể hiện: còn sống là còn muốn hạnh phúc, còn muốn bám vào cuộc đời.


3. Niềm tin vào tương lai và sự đổi thay
Không khí trong gia đình Tràng sáng lên: nhà cửa dọn dẹp, mọi người nói chuyện hi vọng, nói về “Việt Minh phá kho thóc Nhật”.
→ Kim Lân muốn nói rằng: từ đau khổ, nhân dân sẽ vùng lên, đổi đời.


4. Phê phán xã hội cũ – nơi con người bị đẩy đến đường cùng
Nạn đói 1945 là sản phẩm của áp bức thực dân – phong kiến.
Con người bị rẻ rúng đến mức “nhặt vợ như nhặt cái rẻ rách”.
→ Đây là lời tố cáo mạnh mẽ với xã hội vô nhân đạo đã hủy hoại cuộc sống dân nghèo.


Kết luận ngắn gọn

Qua Vợ nhặt, Kim Lân gửi đến thông điệp:
Dù đời sống có tàn nhẫn, con người vẫn luôn khao khát yêu thương, hướng về nhau và tin vào tương lai. Chính tình người và niềm hi vọng giúp họ vượt qua bóng tối của đói nghèo.


Sự thật gây sốc về tái chế rác thải nhựaTrung tâm Liêm chính khí hậu mới đây công bố báo cáo tiết lộ sự thật gây sốc về tái chế nhựa, loại vật liệu được sản xuất chủ yếu từ dầu và khí đốt, trong bối cảnh số lượng nhựa dự kiến sẽ tăng gấp ba lần trên toàn cầu vào năm 2060.Hơn 99% nhựa được sản xuất bằng nhiên liệu hóa thạch và phần lớn chúng không thể "tái chế"...
Đọc tiếp

Sự thật gây sốc về tái chế rác thải nhựa

Trung tâm Liêm chính khí hậu mới đây công bố báo cáo tiết lộ sự thật gây sốc về tái chế nhựa, loại vật liệu được sản xuất chủ yếu từ dầu và khí đốt, trong bối cảnh số lượng nhựa dự kiến sẽ tăng gấp ba lần trên toàn cầu vào năm 2060.

Hơn 99% nhựa được sản xuất bằng nhiên liệu hóa thạch và phần lớn chúng không thể "tái chế" - Ảnh: AFP/Getty Images

Rác thải nhựa hiện là nguồn gây ô nhiễm carbon nghiêm trọng, thúc đẩy quá trình biến đổi khí hậu của Trái đất. Ngoài ra, phần lớn rác thải nhựa trôi ra đại dương và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các sinh vật biển.

Phần lớn không thể tái chế

Theo báo cáo của Trung tâm Liêm chính khí hậu (CCI) thuộc Viện Quản trị và Phát triển bền vững Mỹ, hơn 99% nhựa được sản xuất bằng nhiên liệu hóa thạch và phần lớn chúng không thể "tái chế" theo nghĩa được xử lý và biến thành sản phẩm hoàn toàn mới.

Thông tin này được lưu trong tài liệu của Cơ quan Bảo vệ môi trường của Mỹ trong ít nhất 30 năm qua.

Báo The Hill cho biết mặc dù một số địa phương và thành phố tại Mỹ đã triển khai không ít chương trình thu thập các loại nhựa nhưng chúng cũng không thể tái chế toàn bộ số rác thải nhựa mà con người thải ra. Thay vào đó, những loại nhựa không thể tái chế sẽ được đốt hoặc được đưa vào những bãi chôn lấp.

Theo tạp chí khoa học Scientific American, phần lớn loại nhựa được con người sử dụng rộng rãi nhất vẫn đang tồn tại đâu đó trong các bãi chôn lấp rác hoặc trong môi trường trong suốt nhiều thập niên hoặc thậm chí là nhiều thế kỷ sau khi bị vứt đi.

Về mặt lý thuyết, nhiều loại nhựa thông dụng trong đời sống hằng ngày có thể tái chế được. Nhưng chỉ có khoảng 1/10 số nhựa sản xuất từng được tái chế một lần và chỉ 1% số nhựa được tái chế hai lần.

Hơn nữa, chi phí của quy trình tái sản xuất các sản phẩm từ rác thải nhựa còn cao hơn chi phí của quy trình sản xuất các sản phẩm nhựa hoàn toàn mới.

"Tạo ra một sản phẩm nhựa mới sẽ rẻ hơn so với việc thu thập và tái chế hoặc tái sử dụng lại nhựa cũ. Đây là một vấn đề mang tính hệ thống" - ông Kristian Syberg, nhà nghiên cứu về ô nhiễm nhựa tại Đại học Roskilde (Đan Mạch), phân tích.Ngoài vấn đề chi phí, chị Magdalena Klotz, nghiên cứu sinh ngành thiết kế hệ thống sinh thái tại Viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ (ETH) ở Zurich (Thụy Sĩ), cho biết các nhà sản xuất không thể tạo ra nhiều sản phẩm bằng nhựa tái chế nên thị trường dành cho loại nhựa này bị hạn chế.

Chị Klotz và các cộng tác viên của chị chỉ ra rằng 80% số nhựa ở Thụy Sĩ được gom để tái chế thì chỉ nhiều nhất 20% trong số đó sẽ trở thành các sản phẩm nhựa tái chế.

Phải hành động trên nhiều mặt trận

Hầu hết các bao bì nhựa hiện nay được sản xuất từ bảy loại nhựa có thành phần không tương thích với nhau và rất tốn kém để phân loại chúng và tiến hành tái chế.

"Với nhựa, vấn đề là có rất nhiều loại nhựa khác nhau" - ông Ed Cook, người nghiên cứu về rác thải nhựa như một phần của nền kinh tế tuần hoàn tại Đại học Leeds (Anh), nói.

Ở các nước có thu nhập cao, việc phân loại các loại rác thải nhựa thường được diễn ra với sự trợ giúp của các loại máy móc công nghệ cao tại các cơ sở tái chế quy mô lớn.

Các cơ sở này thường chọn các loại nhựa phổ biến nhất, đặc biệt là polyethylene terephthalate (PET, loại nhựa được thường sử dụng trong các vỏ chai nước), polyethylene mật độ cao (HDPE, vật liệu thường được tìm thấy trong các chai đựng sữa và dầu gội đầu), đôi khi là polyethylene mật độ thấp (LDPE) và polypropylen.

"Tái chế không phải là vấn đề, vấn đề chính là nhựa" - Lisa Ramsden, nhà vận động cấp cao của Tổ chức Greenpeace (Mỹ), phân tích. Bà nói thêm rằng việc tái chế nhựa là không kinh tế, bởi nhựa nguyên chất thậm chí còn rẻ hơn nhựa tái chế.

Tạp chí Scientific American nhận định để thay đổi bức tranh về những hậu quả của nhựa đòi hỏi con người phải hành động trên nhiều mặt trận. Cụ thể, con người cần mở rộng quy mô các công nghệ tái chế hiện có, triển khai các công nghệ này trên phạm vi toàn thế giới, phát triển các công nghệ mới để xử lý những loại nhựa khó tái chế, tận dụng những hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên để hỗ trợ từ quá trình sản xuất đến quá trình xử lý nhựa, cũng như cải tiến quy trình sản xuất nhựa dùng một lần.

Trong khi đó, Liên minh châu Âu đã thực hiện một số bước nhằm giảm thiểu rác thải nhựa bằng cách cấm 10 sản phẩm nhựa sử dụng một lần gây hại đến các bãi biển ở châu Âu và đi ngược lại mô hình kinh tế tuần hoàn.

Những nước nghèo lại tái chế nhựa nhiều hơn

Theo tạp chí Scientific American, chất thải nhựa tràn lan ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, những nơi hiếm có các chương trình tái chế rác thải nhựa chính thức.

Tuy nhiên, tái chế nhựa lại vô tình trở thành một phần của nền kinh tế phi chính thức tại những quốc gia nghèo. Những người nhặt rác sàng lọc qua các bãi chôn lấp rác, các thùng rác và thu gom các loại rác thải nhựa từ môi trường."Những người nhặt rác đứng đằng sau công cuộc tái chế nhựa nhiều hơn so với ngành công nghiệp chính thức trên toàn cầu" - nhóm các nhà nghiên cứu Velis và Cook cho biết.


âu 1: nội dung chính của văn bản là gì?
câu 2: theo văn bản, rác thải nhựa đã gây ra tác hại gì đố với môi trường
câu 3: những số liệu trong "Về mặt lý thuyết, nhiều loại nhựa thông dụng trong đời sống hằng ngày có thể tái chế được. Nhưng chỉ có khoảng 1/10 số nhựa sản xuất từng được tái chế một lần và chỉ 1% số nhựa được tái chế hai lần" cho ta thấy được điều gì từ tái chế rác thải
câu 4 nhận xét nhan đề
8
25 tháng 11 2025

Cận chiến

14 tháng 11 2025
Câu 1. Phân tích nhân vật Đan Thiềm (Khoảng 200 chữ) Do bạn không cung cấp văn bản đọc hiểu cụ thể, tôi sẽ phân tích nhân vật Đan Thiềm dựa trên tác phẩm kịch nổi tiếng "Vũ Như Tô" của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, tác phẩm mà nhân vật này thường xuất hiện trong các đề thi Ngữ văn. (Đoạn văn phân tích): Trong vở kịch "Vũ Như Tô" của Nguyễn Huy Tưởng, nhân vật Đan Thiềm nổi bật như một hình ảnh đại diện cho cái đẹp và sự thấu hiểu bi kịch của người nghệ sĩ tài hoa. Xuất thân là một cung nữ, Đan Thiềm không chỉ là người chứng kiến mà còn là người trực tiếp tham gia vào vòng xoáy biến động của triều đình và cuộc đời Vũ Như Tô. Nàng là tri âm, là người duy nhất thực sự hiểu được khát vọng cháy bỏng của Vũ Như Tô: xây dựng Cửu Trùng Đài vĩ đại để lưu danh muôn đời và làm rạng rỡ quốc gia. Khác với những kẻ ham quyền lực hay đám dân đen chỉ nhìn thấy sự bóc lột, Đan Thiềm nhìn thấy ở Vũ Như Tô một thiên tài đang bị giam cầm bởi thực tế phũ phàng. Nàng khuyên Vũ Như Tô chạy trốn khỏi vòng xoáy nguy hiểm, nhưng khi ý nguyện xây đài của chàng quá mãnh liệt, nàng lại dốc lòng ủng hộ, thậm chí hy sinh bản thân để bảo vệ chàng. Bi kịch của Đan Thiềm là bi kịch của một tâm hồn cao đẹp, khao khát bảo vệ cái đẹp tuyệt đối trong một xã hội loạn lạc. Sự ra đi của nàng, dù không được miêu tả trực tiếp, vẫn để lại sự day dứt về việc cái đẹp và sự thấu cảm bị chà đạp bởi sự vô cảm và bạo lực của thời cuộc. Qua Đan Thiềm, Nguyễn Huy Tưởng ngợi ca những tấm lòng biết trân trọng và bảo vệ tài năng, đồng thời tô đậm thêm tính chất bi kịch không lối thoát của người nghệ sĩ trong xã hội phong kiến. Câu 2. Nghị luận về mối quan hệ giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia (Khoảng 600 chữ) (Bài văn nghị luận): Hiền tài là nguyên khí quốc gia Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh hùng hồn một chân lý: sự hưng vong của một quốc gia luôn gắn liền mật thiết với việc trọng dụng và phát huy sức mạnh của hiền tài. Câu chuyện bi kịch của Vũ Như Tô trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Huy Tưởng, dù đặt trong bối cảnh lịch sử đầy biến động, vẫn là một minh chứng sâu sắc và day dứt về mối quan hệ biện chứng, sống còn giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia. Hiền tài là những người có đức độ và tài năng xuất chúng, là "nguyên khí" – khí chất ban đầu làm nên sự sống còn, phát triển của đất nước. Họ không chỉ là những bộ óc định hướng chiến lược, mà còn là những người trực tiếp tạo ra của cải vật chất, nâng tầm văn hóa và bảo vệ bờ cõi. Một quốc gia muốn vững mạnh, thịnh vượng không thể không dựa vào nguồn lực quý báu này. Câu chuyện về kiến trúc sư Vũ Như Tô là một ví dụ điển hình về sự lãng phí hiền tài do đặt nhầm chỗ và không thấu hiểu giá trị cốt lõi. Vũ Như Tô là một thiên tài, ấp ủ hoài bão xây dựng một công trình vĩ đại "bền như sao Băng, vững như núi Thái Sơn", làm rạng danh đất nước. Hoài bão đó, tự thân nó là chính đáng và cao đẹp. Tuy nhiên, bi kịch xảy ra khi tài năng ấy bị lợi dụng để phục vụ cho những dục vọng cá nhân của vua chúa (xây Cửu Trùng Đài tốn kém, xa hoa), gây nên sự oán thù trong dân chúng. Cuối cùng, chính tài năng ấy lại trở thành nguyên nhân dẫn đến cái chết oan khuất của người nghệ sĩ. Cái chết của Vũ Như Tô không chỉ là bi kịch cá nhân, mà còn là sự mất mát to lớn của quốc gia khi một hiền tài không được sử dụng đúng mục đích, đúng thời điểm. Qua bi kịch này, ta thấy rõ mối quan hệ hai chiều giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia. Về phía quốc gia, việc trọng dụng hiền tài phải đi đôi với việc tạo môi trường để tài năng đó phát huy giá trị chân chính, phục vụ lợi ích chung của nhân dân, chứ không phải phục vụ cho một cá nhân hay một nhóm lợi ích nào. Một chính sách đúng đắn là bệ phóng cho hiền tài cống hiến; một chính sách sai lầm sẽ biến hiền tài thành công cụ, thậm chí là nạn nhân của sự hỗn loạn. Ngược lại, về phía hiền tài, bản thân người tài cũng cần có tầm nhìn và sự tỉnh táo. Tài năng cần gắn liền với trách nhiệm xã hội và đạo đức. Vũ Như Tô vì quá say mê cái đẹp tuyệt đối, mải miết với mộng "ngàn năm", mà quên đi thực tế phũ phàng, quên đi nỗi thống khổ của nhân dân. Sự thiếu nhạy bén chính trị, sự lãng quên mục đích phục vụ quần chúng đã khiến tài năng của ông trở nên vô nghĩa, thậm chí phản tác dụng. Trong thời đại ngày nay, khi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi những bước đột phá mạnh mẽ, mối quan hệ giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Để đất nước phát triển, chúng ta cần những "Vũ Như Tô" biết xây dựng những "Cửu Trùng Đài" của khoa học công nghệ, kinh tế, văn hóa. Tuy nhiên, những công trình đó phải là vì dân, do dân. Tóm lại, hiền tài là tài sản vô giá của quốc gia. Mối quan hệ giữa hai yếu tố này không thể tách rời. Chỉ khi quốc gia có chính sách trọng dụng hiền tài đúng đắn, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu, và bản thân hiền tài nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với nhân dân, thì đất nước mới có thể phát triển phồn vinh và bền vững. Bi kịch của Vũ Như Tô vẫn là lời cảnh tỉnh sâu sắc cho các thế hệ mai sau về nghệ thuật dùng người và đạo đức của người tài.
(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:[Lược một đoạn: Vũ Như Tô bị bắt, được đưa vào cung để diện kiến vua. Trước khi gặp vua Lê Tương Dực, Đan Thiềm đã lén gặp Vũ Như Tô.]VŨ NHƯ TÔ – Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh.ĐAN THIỀM – Chính là một người đồng bệnh, nên chưa biết ông, tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc phụ người.VŨ NHƯ TÔ – Thực mang tội...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

[Lược một đoạn: Vũ Như Tô bị bắt, được đưa vào cung để diện kiến vua. Trước khi gặp vua Lê Tương Dực, Đan Thiềm đã lén gặp Vũ Như Tô.]

VŨ NHƯ TÔ – Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh.

ĐAN THIỀM – Chính là một người đồng bệnh, nên chưa biết ông, tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc phụ người.

VŨ NHƯ TÔ – Thực mang tội với bà. Xin cho nghe chuyện.

ĐAN THIỀM – Ông tạm ngồi xuống cái đôn kia cũng được. Ông có mỏi không? Rõ khổ. Tài bao nhiêu lụy bấy nhiêu! Gông xích, trông ông tiều tuỵ quá, tôi lại càng thương số phận tôi. Tôi bị tuyển vào cung từ năm 17 tuổi. Hồi ấy tôi đã có người dạm hỏi. Tôi bị giam trong cung ngày ngày làm bạn với cảnh già. Rồi từ đấy đến nay, ngót 20 năm tôi chỉ đóng vai thị nữ hầu hạ từ vua cho đến các phi tần, nhiều kẻ kém cả tài lẫn sắc.

VŨ NHƯ TÔ – Tôi không ngờ lại được biết một đời cung oán nhãn tiền.

ĐAN THIỀM – Thân tôi không đáng kể đã đành, nhưng còn ông?

VŨ NHƯ TÔ – Cũng là thân không đáng kể.

ĐAN THIỀM – Sao lại không đáng kể? Hữu tài tất hữu dụng.

VŨ NHƯ TÔ – Cảnh ngộ chúng tôi có khác chi cảnh ngộ bà? Có phần khổ nhục hơn nữa. Chế độ thì nghiệt ngã vô lý: nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp. Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thử không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo. Mà nói ngay đến những bọn này nào họ có được yên thân. Họ phải lẩn lút, giấu giếm. Vô phúc mà triều đình biết, thế là gia đình tan nát. Họ bị đóng cũi giải kinh, để làm những công việc nhà vua, thân giam trong nội như một tên trọng phạm, mãi đến khi mắt mờ, tay chậm, họ mới được thải hồi nguyên quán. Triều đình còn không ban cho họ một chút bổng nhờ để mưu sống buổi tàn niên. Cách đối đãi như thế, thì nhân tài nhiều sao được, mà ai chịu luyện tập cho thành tài? Thậm chí người ta nói kẻ có tài đã không giúp cho gia đình, còn là một cái vạ nữa.

ĐAN THIỀM – Thảo nào mà nước ta không có lấy một lâu đài nào ra hồn, khả dĩ sánh với những lâu đài Trung Quốc. Ngay cả Chiêm Thành cũng hơn ta nhiều lắm...

VŨ NHƯ TÔ – Tôi bẩm sinh có khiếu về kiến trúc. Tôi đã học văn, sau bỏ văn tập nghề, nhưng tập thì tập, vẫn lo nơm nớp, chỉ sợ triều đình biết, thì vợ con ở nhà nheo nhóc, mà mình cũng không biết bao giờ được tháo cũi xổ lồng. Vua Hồng Thuận ngày nay càng khinh rẻ chúng tôi, cách đối đãi lại bạc ác. Chẳng qua là cái nợ tài hoa, chứ thực ra theo nghề ở ta lợi chẳng có mà nhục thì nhiều.

[…]

ĐAN THIỀM – Vậy thì các ông luyện nghề làm gì, luyện mà không đem ra thi thố?

VŨ NHƯ TÔ – Đó là nỗi khổ tâm của chúng tôi. Biết đa mang là khổ nhục mà không sao bỏ được. Như bóng theo hình. Chúng tôi vẫn chờ dịp.

ĐAN THIỀM – Dịp đấy chứ đâu? Cửu Trùng Đài...

VŨ NHƯ TÔ – Bà đừng nói nữa cho tôi thêm đau lòng. Ngày ngày, tôi thấy các bạn thân bị bắt giải kinh, người nhà khóc như đưa ma. Còn tôi, mong manh tin quan đến bắt, tôi đem mẹ già, vợ và hai con nhỏ đi trốn. Được một năm có kẻ tố giác, quan địa phương đem lính tráng đến vây kín nơi tôi ở. Tôi biết là tuyệt lộ, mặc cho họ gông cùm. (Chàng rơm rớm nước mắt.) Mẹ tôi chạy ra bị lính đẩy ngã, chết ngay bên chân tôi. Bọn sai nha lộng quyền quá thể. Rồi tôi bị giải lên tỉnh, từ tỉnh lên kinh, ăn uống kham khổ, roi vọt như mưa trên mình, lắm khi tôi chết lặng đi. Mẹ cháu lẽo đẽo theo sau, khóc lóc nhếch nhác, tôi càng đau xót can tràng. Cũng vì thế mà tôi thề là đành chết chứ không chịu làm gì.

ĐAN THIỀM – Cảnh ngộ của ông thì đáng thương thực. Nhưng ông nghĩ thế thì không được. […]

VŨ NHƯ TÔ – Tài đã không được trọng thì đem trả trời đất. Đó là lẽ thường. Cũng như nhan sắc...

ĐAN THIỀM – Không thể ví thế được, sắc vất đi được, nhưng tài phải đem dùng.

VŨ NHƯ TÔ – Bà đã thương tài xin giúp cho tôi trốn khỏi nơi này. Ơn đó xin...

ĐAN THIỀM – Tôi giúp cũng không khó gì. Nhưng ra khỏi chốn này liệu ông có thoát hẳn được không? Hơn nữa, cái vạ chu di cửu tộc vẫn còn sờ sờ ra đó. Ông đừng tính nước ấy, không nên.

VŨ NHƯ TÔ – Vậy bà khuyên tôi nên ở đây làm việc cho hôn quân sao?

ĐAN THIỀM – Miễn là ông không bỏ phí tài trời. Ông nên lợi dụng cơ hội đem tài ra thi thố. […]

VŨ NHƯ TÔ – Xây Cửu Trùng Đài cho một tên bạo chúa, một tên thoán nghịch, cho một lũ gái dâm ô? Tôi không thể đem tài ra làm một việc ô uế, muôn năm làm bia miệng cho người đời được.

ĐAN THIỀM – Ông biết một mà không biết hai. Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây. Ông không có tiền, ông không có thể dựng lấy một toà đài như ý nguyện. Chấp kinh, phải tòng quyền. Đây là lúc ông nên mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cái mộng lớn của ông... Ông khẽ tiếng. Đó là tiểu tiết. Ông cứ xây lấy một toà đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện, không phải thẹn với những cung điện đẹp nước ngoài, thế là đủ. Hậu thế sẽ xét công cho ông, và nhớ ơn ông mãi mãi. Ông hãy nghe tôi làm cho đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian.

VŨ NHƯ TÔ – Đa tạ. Bà đã khai cho cái óc u mê này. Thiếu chút nữa, tôi nhỡ cả. Những lời vàng ngọc tôi xin lĩnh giáo. Trời quá yêu nên tôi mới được gặp bà.

(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng, đăng trên https://thuvienleducanh.vn)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng. 

Câu 3. Từ “đồng bệnh” trong câu: “Bà nói như một người đồng bệnh.” của Vũ Như Tô có ý nghĩa gì trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật Đan Thiềm?

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Nêu ý nghĩa của xung đột đó đối với văn bản trên.

Câu 5. Ban đầu Vũ Như Tô có quyết định như thế nào đối với việc xây Cửu Trùng Đài? Theo anh/chị, vì sao sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô lại thay đổi quyết định của mình?

3
14 tháng 11 2025

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Đan Thiềm lén gặp Vũ Như Tô trước khi ông diện kiến vua, hai người trò chuyện về cảnh ngộ của mình; Đan Thiềm thuyết phục Vũ Như Tô nhận xây Cửu Trùng Đài và cuối cùng ông dao động, thay đổi ý định.


Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu và nêu tác dụng.

  • Chỉ dẫn sân khấu: “(Chàng rơm rớm nước mắt.)”, “(lược một đoạn…)”, lời hướng dẫn động tác, cảm xúc, bối cảnh…
  • Tác dụng: Giúp người đọc/học sinh hình dung rõ hành động, tâm trạng nhân vật; hỗ trợ diễn viên khi biểu diễn; tăng tính kịch và tính chân thực cho tình huống.

Câu 3. Ý nghĩa của từ “đồng bệnh”.

“Đồng bệnh” nghĩa là cùng chung nỗi khổ. Cách dùng này cho thấy Đan Thiềm cảm thông sâu sắc với Vũ Như Tô vì họ đều là người có tài năng nhưng bị chế độ phong kiến khắc nghiệt vùi dập → khắc hoạ nhân vật Đan Thiềm như một người đa cảm, thấu hiểu và trân trọng tài năng.


Câu 4. Xung đột trong văn bản là giữa những nhân vật nào? Ý nghĩa?

  • Xung đột: giữa Vũ Như Tô (người có tài, có nhân cách nhưng bị dằn vặt giữa lý tưởng và hiện thực) và vua Lê Tương Dực (bạo chúa), đồng thời là xung đột giữa Vũ Như Tô và chính bản thân mình (làm hay không làm Cửu Trùng Đài); cuộc đối thoại với Đan Thiềm làm xung đột bộc lộ rõ.
  • Ý nghĩa: làm nổi bật bi kịch của người nghệ sĩ tài hoa trong xã hội phong kiến; thể hiện tư tưởng của tác phẩm: tài năng lớn dễ gặp bi kịch khi đối lập với hiện thực tàn bạo.

Câu 5. Ban đầu Vũ Như Tô quyết định thế nào? Vì sao sau lời khuyên của Đan Thiềm lại thay đổi?

  • Ban đầu: Vũ Như Tô nhất quyết không xây Cửu Trùng Đài, thà chết chứ không chịu làm việc cho bạo chúa.
  • Sau đó thay đổi vì:
    • Đan Thiềm đánh vào khát vọng sáng tạo và lý tưởng nghệ thuật của ông.
    • Bà thuyết phục rằng xây đài không phải để phục vụ vua mà để cống hiến cho đất nước, cho hậu thế, ghi dấu tài năng muôn đời.
    • Ông nhận ra đây là cơ hội duy nhất để thực hiện mộng lớn kiến trúc mà cả đời theo đuổi.

→ Vì vậy, ông dao động và chấp nhận đưa tài năng vào công trình.

19 tháng 12 2025

câu1 cuộc gặp gỡ và trò chuyện giữa vũ như tô và đan thiềm