K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

23 tháng 4

- Năm 248, cuộc khởi nghĩa bùng nổ từ căn cứ Phú Điền, Bà Triệu lãnh đạo nghĩa quân tiến về phá các thành ấp của giặc ở quận Cửu Chân rồi đánh khắp Giao Châu. - Được tin, nhà Ngô cử tướng Lục Dận đem 6000 quân sang Giao Châu, chúng vừa đánh, vừa mua chuộc, tìm cách chia rẽ nghĩa quân. - Thế giặc mạnh, nghĩa quân chống đỡ không nổi, cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, Bà Triệu anh dũng hi sinh trên núi Tùng.

  • Năm 248: Khởi nghĩa bùng nổ từ căn cứ núi Nưa (Thanh Hóa).
  • Mở rộng: Nghĩa quân đánh đuổi quân Ngô, làm rung chuyển toàn bộ Giao Châu.
  • Đối phó: Nhà Ngô cử tướng Lục Dận đem 8.000 quân sang đàn áp.
  • Kết cục: Do lực lượng chênh lệch, cuộc khởi nghĩa thất bại. Bà Triệu hy sinh tại núi Tùng (Thanh Hóa).
23 tháng 4

*Tham khảo:

Tinh thần đoàn kết và quyết tâm chống giặc ngoại xâm của quân dân Đại Việt là một trong những yếu tố quan trọng giúp đất nước chúng ta đánh bại các thế lực xâm lược và giữ vững độc lập, chủ quyền. Quân dân Đại Việt đã thể hiện sự đoàn kết và quyết tâm chống giặc ngoại xâm thông qua các cuộc kháng chiến lịch sử như kháng chiến chống quân Nguyên Mông, kháng chiến chống quân Minh, kháng chiến chống quân Tây Sơn, kháng chiến chống quân Pháp và kháng chiến chống chủ nghĩa đế quốc và phát xít Nhật Bản.

Trong các cuộc kháng chiến này, quân dân Đại Việt đã thể hiện sự quyết tâm cao độ, sự hy sinh tuyệt vời và sự đoàn kết vững chắc để bảo vệ đất nước và dân tộc. Những chiến công lịch sử của quân dân Đại Việt đã góp phần tạo nên một truyền thống lịch sử vĩ đại và là nguồn cảm hứng cho thế hệ sau trong việc bảo vệ đất nước và xây dựng đất nước.

23 tháng 4

34 tỉnh thành

34 tỉnh thành

22 tháng 4

Vua nào trước đây từng đánh giặc trên sông Bạch Đằng là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

22 tháng 4

Ngô Quyền

22 tháng 4
  • Do nhu cầu trị thủy, làm thủy lợi (chống lũ, trồng lúa nước)
  • Do sự phát triển sản xuất và xã hội, cần tổ chức chung
  • Do yêu cầu chống ngoại xâm
  • \(\rArr\) Xã hội phát triển → cần một tổ chức quản lý chung → nhà nước Văn Lang ra đời.
22 tháng 4
Cơ sở ra đời của nhà nước Văn Lang dựa trên sự chuyển biến về kinh tế và xã hội vào khoảng thế kỷ VII TCN, cụ thể bao gồm các yếu tố chính sau:
  • Về kinh tế: Sự phát triển của công cụ lao động bằng đồng (văn hóa Đông Sơn) và bắt đầu có sắt giúp năng suất lao động tăng cao. Cư dân chuyển sang định cư, nghề nông trồng lúa nước dùng cày và sức kéo trở thành ngành kinh tế chính.
  • Về xã hội: Sản phẩm dư thừa dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, công xã thị tộc dần tan rã và thay thế bằng công xã nông thôn với các gia đình phụ hệ.
  • Yêu cầu thực tiễn: Nhu cầu trị thủy (đắp đê, làm thủy lợi để bảo vệ mùa màng) và chống ngoại xâm đòi hỏi các bộ lạc phải liên kết chặt chẽ với nhau dưới một sự điều hành thống nhất.
  • Sự hình thành liên minh: Bộ lạc Văn Lang, nhờ sự lớn mạnh về kinh tế và quân sự, đã hợp nhất các bộ lạc khác ở vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Cả để lập ra nhà nước do Hùng Vương đứng đầu.

Lò muối

ko được nhắn linh tinh nhé

2 giờ trước (21:50)

Câu 1. Theo em, yếu tố quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự đồng lòng, sáng tạo của nhân dân, giải thích vì đường lối đổi mới phù hợp giúp đất nước phát triển đúng hướng, còn nhân dân là lực lượng trực tiếp lao động, sản xuất, thực hiện và biến chủ trương đổi mới thành kết quả thực tế.

21 tháng 4

*Khái quát:

Năm 1992 đánh dấu quá trình hội nhập khu vực của Việt Nam sau khi tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), và trở thành Quan sát viên, tham dự các Hội nghị Bộ trưởng ASEAN (AMM) hàng năm. Trong thời gian này, Việt Nam cũng bắt đầu tham gia các hoạt động của một số Ủy ban hợp tác chuyên ngành ASEAN. Tháng 7/1994, Việt Nam được mời tham dự cuộc họp đầu tiên của Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và trở thành một trong những thành viên sáng lập của Diễn đàn này.

Ngày 28/7/1995, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 28 (AMM-28) tại Bru-nây Đa-rút-xa-lam, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN và trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức này. Kể từ đó đến nay, Việt Nam đã nhanh chóng hội nhập, tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN và có những đóng góp tích cực trong việc duy trì đoàn kết nội khối, tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên cũng như giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, góp phần không nhỏ vào sự phát triển và thành công của ASEAN ngày hôm nay.

Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN ngày 28/7/1995, đánh dấu bước đột phá trong đối ngoại, chuyển từ đối đầu sang hợp tác. Sau 30 năm (1995-2025), Việt Nam từ thành viên mới đã trở thành nhân tố tích cực, chủ động, có vai trò quan trọng trong việc xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, hòa bình và liên kết kinh tế sâu rộng. Nghiên Cứu Lịch Sử Nghiên Cứu Lịch Sử +3 Các giai đoạn và dấu ấn chính: Trước 1995 - Giai đoạn tiếp cận: Sau năm 1991, quan hệ cải thiện, Việt Nam tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC) và trở thành quan sát viên (7/1992). Ngày 28/7/1995: Chính thức gia nhập, trở thành thành viên thứ 7 tại Hội nghị AMM lần thứ 28. 1995-Nay - Hội nhập toàn diện: Chính trị - An ninh: Đóng góp tích cực vào việc giữ vững hòa bình, ổn định khu vực, xây dựng các quy tắc ứng xử (như COC). Kinh tế: Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu trong thực hiện các cam kết của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), với tỷ lệ thực hiện cao. Vai trò: Đảm nhận thành công các vai trò Chủ tịch ASEAN (2010, 2020), thể hiện bản lĩnh và khả năng dẫn dắt. Nghiên Cứu Lịch Sử Nghiên Cứu Lịch Gia nhập ASEAN đã giúp Việt Nam phá thế bao vây cấm vận, hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

20 tháng 4

*Tham khảo:

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt cùng với sự thành lập nhà Hậu Lê. Trong giai đoạn đầu (1418–1423), nghĩa quân Lam Sơn gặp rất nhiều khó khăn, thường hứng chịu các cuộc càn quét của quân Minh và quân Ai Lao, chịu tổn thất lớn. Các tướng Lam Sơn là Lê Lai và Lê Thạch tử trận. Quân Lam Sơn bấy giờ chỉ có thể thắng những trận nhỏ. Nghĩa quân bắt đầu giành thế thượng phong khi Lê Lợi nghe theo Nguyễn Chích, tiến quân ra đất Nghệ An vào năm 1424. Sau nhiều trận đánh lớn với quân Minh do các tướng Minh và cộng sự người Việt chỉ huy, quân Lam Sơn giải phóng hầu hết vùng đất từ Thanh Hóa vào Thuận Hóa, siết chặt vòng vây các thành chưa đầu hàng. Ở giai đoạn cuối, sau khi tích lũy được lực lượng, quân Lam Sơn lần lượt chuyển đại quân ra Bắc, thực hiện chiến lược cơ động, buộc quân Minh phải co cụm để giữ các thành trì quan trọng. Đặc biệt với chiến thắng quyết định trong trận Tốt Động – Chúc Động, quân Lam Sơn giành được thế chủ động trên chiến trường và sự ủng hộ của dân chúng vốn khiếp sợ trước uy thế của quân Minh trước đó. Tiếp nối thắng lợi, cuối năm 1427, quân Lam Sơn triển khai chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang, đánh tan tác lực lượng viện binh quân Minh, buộc tướng chỉ huy quân Minh trên đất Việt cũ là Vương Thông phải xin giảng hòa và được phép rút quân về nước. Sau chiến thắng, Bình Định vương Lê Lợi sai văn thần Nguyễn Trãi viết bài Bình Ngô đại cáo để tuyên cáo cho toàn quốc. Nước Đại Việt được khôi phục, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu Thuận Thiên, mở ra cơ nghiệp nhà Lê trong gần 400 năm sau đó.

20 tháng 4

Vì ai hỏi 🖕🖕🖕

Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, Mỹ áp đặt lệnh cấm vận thương mại toàn diện (được gọi là "bao vây, cô lập") vì những lý do chính sau:
  1. Thất bại quân sự và tâm lý : Mỹ coi việc thua cuộc ở Việt Nam là một thất bại nặng nề về quân sự và chính trị, khiến uy tín quốc tế bị suy giảm. Chính phủ Mỹ lúc đó không muốn công nhận chính quyền mới tại Việt Nam.
  2. Vấn đề tù binh chiến tranh và người mất tích : Đây là lý do chính thức và quan trọng nhất. Mỹ cho rằng Việt Nam không hợp tác đầy đủ trong việc tìm kiếm và bàn giao thông tin về quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh.
  3. Vấn đề Campuchia: Năm 1978, Việt Nam đưa quân vào Campuchia để lật đổ chế độ Khmer Đỏ. Mỹ và các nước phương Tây coi đây là hành động xâm lược và sử dụng vấn đề này để tiếp tục cấm vận.
  4. Bối cảnh Chiến tranh Lạnh: Việt Nam theo chủ nghĩa cộng sản và là đồng minh thân cận của Liên Xô, nằm trong thế đối đầu với khối tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu.
  5. Vấn đề thuyền nhân và di cư: Tình trạng người Việt vượt biên sau năm 1975 gây ra những lo ngại nhân đạo và tạo áp lực chính trị lên chính phủ Mỹ. 
Đến đầu những năm 1990, bối cảnh quốc tế thay đổi và các nỗ lực ngoại giao của Việt Nam đã dẫn đến quyết định dỡ bỏ cấm vận của Tổng thống Bill Clinton (1994) và bình thường hóa quan hệ (1995):
  1. Giải quyết thành công vấn đề : Việt Nam đã hợp tác tích cực trong việc tìm kiếm người Mỹ mất tích, giúp Mỹ giải tỏa áp lực chính trị trong nước.
  2. Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh: Liên Xô sụp đổ, làm thay đổi cấu trúc địa chính trị toàn cầu, giảm bớt sự đối đầu ý thức hệ.
  3. Việt Nam rút quân khỏi Campuchia: Việc Việt Nam rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia năm 1989 đã loại bỏ rào cản lớn nhất trong quan hệ quốc tế.
  4. Chính sách Đổi mới và Mở cửa của Việt Nam: Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, tạo thế phá vây bao vây, cô lập.
  5. Lợi ích kinh tế và địa chính trị: Mỹ nhận thấy tiềm năng kinh tế tại thị trường Việt Nam và muốn cân bằng quyền lực tại khu vực Đông Nam Á.
Các mốc thời gian quan trọng:
  • 3/2/1994: Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bỏ hoàn toàn cấm vận thương mại đối với Việt Nam.
  • 11/7/1995: Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
  • Tháng 8/1995: Hai nước mở đại sứ quán tại thủ đô của nhau