Làm bài khoa học khó mấy bạn
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Lúc nà em cũng có 3 phần
Mở đầu: Em đưa ra cái địa điểm đó
Thân bài: Em sẽ giới thiệu địa điểm đó, mua sắm gì, vị trí ở đâu, giá cả sao, tệp khách hàng như nào, em thích ở điểm gì
Kết bài: Em đưa ra một lần nữa về mơ ước của em
- Giới thiệu (Introduction):
- Chào khán giả và giáo viên.
- Giới thiệu bản thân (tên, lớp).
- Nêu chủ đề của bài thuyết trình.
- Ví dụ: "Good morning everyone. My name is [Tên của bạn]. Today, I'm going to talk about my dream shopping place."
- Nội dung chính (Main Body):
- Mô tả chi tiết về địa điểm mua sắm mơ ước của bạn (tên, địa điểm, quy mô, thiết kế).
- Liệt kê các loại cửa hàng, sản phẩm, dịch vụ có ở đó.
- Nêu lý do tại sao bạn thích nơi này (không gian đẹp, nhiều lựa chọn, dịch vụ tốt, v.v.).
- Sử dụng các từ vựng và cấu trúc ngữ pháp đã học để làm bài nói sinh động hơn.
- Kết luận (Conclusion):
- Tóm tắt ngắn gọn các ý chính.
- Cảm ơn mọi người đã lắng nghe.
- Ví dụ: "In short, [Tên địa điểm] is my ideal place for shopping because... Thank you for listening."
Doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp xe ô tô điện VinFast hiện do ông Phạm Nhật Vượng đứng đầu.
Trong văn bản "Sáu kẻ tình nghi" của Phạm Cao Củng, nhân vật thanh tra Trúc Tâm hiện lên là một thám tử tài ba, sắc sảo và mang đậm dấu ấn của văn học trinh thám Việt Nam hiện đại. Trúc Tâm thể hiện tư duy logic chặt chẽ qua cách phân tích, tổng hợp manh mối từ lời khai của sáu nghi phạm tại hiện trường vụ án. Anh không vội vã kết luận mà bình tĩnh tường thuật lại diễn biến, từ đó làm nổi bật sự mâu thuẫn trong lời khai của các nhân vật. Sự điềm tĩnh, tác phong chuyên nghiệp và khả năng phán đoán tâm lý tội phạm tinh tế giúp Trúc Tâm từng bước gỡ nút thắt, phơi bày sự thật về hung thủ Phan Vỹ. Không chỉ vậy, Trúc Tâm còn đại diện cho công lý, sự tỉnh táo giữa bối cảnh căng thẳng, bí ẩn, mang lại sự tin tưởng cho người đọc. Nhân vật này khẳng định bút lực của Phạm Cao Củng trong việc xây dựng hình tượng người phá án thông minh, sắc lạnh nhưng cũng rất nhân văn.
a: \(M=\frac{6n-3}{4n-6}\)
\(=\frac12\cdot\frac{12n-6}{4n-6}\)
\(=\frac12\cdot\frac{12n-18+12}{4n-6}=\frac12\left(3+\frac{12}{4n-6}\right)=\frac12\left(3+\frac{6}{2n-3}\right)\)
Để M có giá trị lớn nhất thì \(3+\frac{6}{2n-3}\) lớn nhất
=>\(\frac{6}{2n-3}\) lớn nhất
=>2n-3=1
=>2n=4
=>n=2
=>GTLN của M là: \(M=\frac12\left(3+6\right)=\frac92\)
b: \(N=\frac{n+6}{n+4}\)
\(=\frac{n+4+2}{n+4}=1+\frac{2}{n+4}\)
Để N có giá trị lớn nhất thì \(1+\frac{2}{n+4}\) lớn nhất
=>\(\frac{2}{n+4}\) lớn nhất
=>n+4=1
=>n=-3
=>\(N_{\max}=\frac{-3+6}{-3+4}=\frac31=3\)
c: \(P=\frac{9n-2}{3n-2}\)
\(=\frac{9n-6+4}{3n-2}=3+\frac{4}{3n-2}\)
Để P cógiá trị lớn nhất thì \(\frac{4}{3n-2}\) lớn nhất
=>3n-2=1
=>3n=3
=>n=1
=>GTLN của P là: \(P=\frac{9\cdot1-2}{3\cdot1-2}=\frac{9-2}{3-2}=7\)
Đối với biểu thức M = (6n - 3) / (4n - 6): Ta biến đổi M như sau: M = (1,5 * (4n - 6) + 6) / (4n - 6) M = 1,5 + 6 / (4n - 6) M = 1,5 + 3 / (2n - 3) Để M đạt GTLN thì phân số 3 / (2n - 3) phải đạt GTLN. Với n là số nguyên, điều này xảy ra khi mẫu số 2n - 3 là số nguyên dương nhỏ nhất. Suy ra: 2n - 3 = 1 2n = 4 n = 2 Khi n = 2, giá trị lớn nhất của M là: 1,5 + 3 / 1 = 4,5. Đối với biểu thức N = (n + 6) / (n + 4): Ta biến đổi N như sau: N = (n + 4 + 2) / (n + 4) N = 1 + 2 / (n + 4) Để N đạt GTLN thì phân số 2 / (n + 4) phải đạt GTLN. Với n là số nguyên, điều này xảy ra khi mẫu số n + 4 là số nguyên dương nhỏ nhất. Suy ra: n + 4 = 1 n = -3 Khi n = -3, giá trị lớn nhất của N là: 1 + 2 / 1 = 3. Đối với biểu thức P = (9n - 2) / (3n - 2): Ta biến đổi P như sau: P = (3 * (3n - 2) + 4) / (3n - 2) P = 3 + 4 / (3n - 2) Để P đạt GTLN thì phân số 4 / (3n - 2) phải đạt GTLN. Với n là số nguyên, điều này xảy ra khi mẫu số 3n - 2 là số nguyên dương nhỏ nhất. Suy ra: 3n - 2 = 1 3n = 3 n = 1 Khi n = 1, giá trị lớn nhất của P là: 3 + 4 / 1 = 7. Tóm lại các kết quả tìm được: M đạt GTLN là 4,5 khi n = 2. N đạt GTLN là 3 khi n = -3. P đạt GTLN là 7 khi n = 1.
A = (2n - 1)/(n - 2) ( 2 ≠ n)
A ∈ Z ⇔ (2n - 1) ⋮ (n - 2)
[2(n - 2) + 3] ⋮ (n - 2)
3 ⋮ (n - 2)
(n - 2) ∈ Ư(3) = {-3; -1; 1; 3}
n ∈ {-1; 1; 3; 5}
Vậy n ∈ {- 1; 1; 3; 5}
Vậy (x+5) và (2y+1) là Ư(-5) = {-1;1;-5;5}
+) Nếu x+5 = 1 , 2y+1 = (-5) => x= -4 ; y=-3
+) Nếu x+5= 5, 2y + 1 = -1 => x=0; y=-1
+) Nếu x+5 = -1, 2y+1=5 => x = -6; y=2
+) Nếu x+5=-5; 2y+1 = 1 => x = -10; y=0
=> (x;y) = {(-4;3) ; (0;-1); (-6;2); (-10;0)}
(2n + 1) ⋮ (n - 1) (1 ≠ n)
[2(n - 1) + 3] ⋮ (n - 1)
(n - 1) ∈ Ư(3) = {-3; - 1; 1; 3}
n ∈ {-2; 0; 2; 4}
Vậy n ∈ {-2; 0; 2; 4}
“Đồng chí” là bài thơ tiêu biểu viết về người lính trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Bằng lời thơ giản dị mà sâu sắc, Chính Hữu đã làm nổi bật tình cảm gắn bó thiêng liêng giữa những người lính cách mạng.
Mở đầu bài thơ, tác giả giới thiệu về những người lính với hoàn cảnh rất đỗi quen thuộc:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Họ đều xuất thân từ những vùng quê nghèo khó, đất đai cằn cỗi, cuộc sống nhiều vất vả. Dù đến từ những miền quê khác nhau, họ có chung một cảnh ngộ. Ban đầu, họ chỉ là “đôi người xa lạ”, “chẳng hẹn quen nhau”. Nhưng khi cùng đứng trong hàng ngũ quân đội, cùng chung nhiệm vụ chiến đấu, họ trở nên gần gũi. Hình ảnh “Súng bên súng, đầu sát bên đầu” cho thấy sự kề vai sát cánh trong chiến đấu. Đặc biệt, câu thơ “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” đã thể hiện tình cảm ấm áp giữa những người lính trong hoàn cảnh thiếu thốn, giá lạnh. Hai tiếng “Đồng chí!” được tách riêng thành một dòng thơ như một lời khẳng định đầy xúc động về tình cảm cao đẹp ấy.
Tình đồng chí còn thể hiện ở sự cảm thông và sẻ chia. Người lính ra đi để lại phía sau ruộng nương, mái nhà thân yêu:
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”
Họ chấp nhận hi sinh cuộc sống riêng vì nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Hình ảnh “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” gợi lên nỗi nhớ quê hương da diết. Ở chiến trường, họ cùng nhau vượt qua bệnh tật và gian khổ: “Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.” Dù đau ốm, họ vẫn ở bên nhau, động viên nhau vượt qua khó khăn.
Bài thơ được viết bằng ngôn ngữ giản dị, mộc mạc nhưng giàu cảm xúc. Hình ảnh chân thực, gần gũi đã làm nổi bật vẻ đẹp của người lính và tình đồng chí thiêng liêng.
Qua bài thơ, em càng hiểu và trân trọng hơn tình cảm gắn bó giữa những người lính trong chiến tranh. Chính tình đồng chí đã tiếp thêm sức mạnh để họ vượt qua mọi gian khổ, chiến đấu vì độc lập của dân tộc.
Chính Hữu là nhà thơ quân đội thực thụ, thơ ông không nhiều nhưng mỗi bài đều mang vẻ đẹp hàm súc và chiều sâu cảm xúc. Sáng tác năm 1948 sau chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông, bài thơ "Đồng chí" đã mở ra một hướng đi mới cho thơ ca cách mạng: khai thác vẻ đẹp tâm hồn người lính từ những chi tiết hiện thực đời thường, giản dị.
Tình đồng chí bắt nguồn từ sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân:- Họ đều là những người nông dân mặc áo lính, đến từ những miền quê nghèo khó: "Quê hương anh nước mặn đồng chua / Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá".
- Từ hai người xa lạ, họ gặp nhau tại chiến trường vì chung một lý tưởng cứu quốc. Sự chia sẻ gian lao ("đêm rét chung chăn") đã biến họ thành "tri kỷ".
- Điểm nhấn: Câu thơ thứ 7 chỉ vỏn vẹn hai chữ "Đồng chí!" kết thúc bằng dấu chấm cảm như một nốt nhấn thiêng liêng, khẳng định sự kết tinh của mọi tình cảm cao đẹp nhất.
- Tình đồng chí không chỉ là lời nói mà là sự thấu hiểu và sẻ chia sâu sắc:
- Sự hi sinh thầm lặng: Họ cùng nhớ về quê hương, để lại "gian nhà không", "giếng nước gốc đa" để ra đi vì nghĩa lớn.
- Sát cánh trong gian khổ: Tác giả không né tránh hiện thực khốc liệt của cuộc kháng chiến: những cơn sốt rét rừng ("sốt run người"), sự thiếu thốn vật chất ("áo rách vai", "quần có vài mảnh vá", "chân không giày").
- Sức mạnh tinh thần: Giữa cái "buốt giá" của núi rừng, cái nắm tay truyền hơi ấm cho nhau là biểu hiện rực rỡ nhất của sự gắn bó, giúp họ vượt qua mọi khắc nghiệt của chiến trường.
- Khổ thơ cuối dựng lên một bức tượng đài người lính đứng gác trong đêm:
- Cảnh thực: "Đêm nay rừng hoang sương muối" – một không gian tĩnh mịch, đầy thử thách.
- Hình ảnh "Đầu súng trăng treo": Đây là hình ảnh mang tính biểu tượng cao độ. Súng và trăng – cứng nhắc và mềm mại, gần và xa, thực tại và mơ mộng, chiến sĩ và thi sĩ. Sự hòa quyện này khẳng định vẻ đẹp tâm hồn lạc quan, yêu đời của người lính ngay trong khói lửa.
- "Đồng chí" thành công nhờ ngôn ngữ giản dị, hình ảnh chân thực và bút pháp hiện thực kết hợp lãng mạn. Bài thơ không chỉ tôn vinh tình đồng đội mà còn khắc họa hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ thời kỳ đầu kháng chiến: mộc mạc mà cao cả, bình dị mà vĩ đại.
có khó đâu