K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Cảnh tượng đau lòng(Lia ra, đeo quấn rất ngộ nghĩnh những hoa đồng cỏ nội.)LIA: Không, họ không thể bắt tội mình vì đã đúc ra tiền: mình là vua cơ mà!EĐ-GA: Ôi cảnh tượng đau lòng.LIA: Về mặt đó thì thiên nhiên vượt trên nghệ thuật. Phí khoản đầu quân cấp cho nhà ngươi đây. Gã kia giương cung y như thằng bù nhìn...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Cảnh tượng đau lòng

(Lia ra, đeo quấn rất ngộ nghĩnh những hoa đồng cỏ nội.)

LIA: Không, họ không thể bắt tội mình vì đã đúc ra tiền: mình là vua cơ mà!

EĐ-GA: Ôi cảnh tượng đau lòng.

LIA: Về mặt đó thì thiên nhiên vượt trên nghệ thuật. Phí khoản đầu quân cấp cho nhà ngươi đây. Gã kia giương cung y như thằng bù nhìn dọa quạ! Bắn một phát tên xem sao. Trông kìa, kìa, con chuột! Khoan! Khoan! Mẩu bánh sữa nướng kia được việc chán. Bao tay của ta đấy, ta muốn thử sức với khổng lồ. Truyền đem hoa kích đến. A! Bay giỏi lắm, chim ơi! Bắn trúng hồng tâm, trúng hồng tâm! Hù ù ù!... Nói khẩu lệnh đã!

EĐ-GA: Ma-ri-doam(1) hiền hậu.

LIA: Cho qua.

GLÔ-XTƠ: Tiếng nói này ta nghe quen lắm.

LIA: A! Gô-nơ-rin,... với chòm râu bạc! Chúng nựng ta như con chó nhỏ, chúng bảo râu ta đã bạc trước khi có râu đen! Ta nói gì chúng cũng thưa: "Dạ phải, dạ không". Dạ phải, dạ không! Chẳng có tử tế chút nào đâu! Đến lúc mưa làm ướt sũng người ta, gió rít làm cho răng ta va cầm cập, sấm sét không thèm im tiếng theo lệnh của ta,... lúc ấy ta mới biết chúng, ta mới thấu gan ruột chúng! Không, chúng chả phải là người nói đúng lời đâu! Chúng bảo ta quyền phép vạn năng: láo toét hết. Ta có chống được cơn sốt rét đâu nào!

GLÔ-XTƠ: Ta nhận được giọng nói này rồi: đức vua đây, có phải chăng?

LIA: Phải, vua từ gót lên đầu! Đó! Ta trừng mắt lên nhìn là kẻ thần dân run sợ. [...]

GLÔX-TƠ: Ôi! Xin cho tôi được hôn bàn tay này.

LIA: Để cho ta chùi tay đi hẵng: mùi chết vẫn còn.

GLÔ-XTƠ: Ôi! Kì công của tạo hóa gặp lúc điêu tàn. Cả thế gian này rồi sẽ đến tiêu vong hư ảo hết! Người có nhận ra tôi chăng?

LIA: Ta mang máng nhớ cặp mắt nhà ngươi. Sao nhìn ta ngươi lại liếc ngang như thế? Không, hỡi thần Cu-pi-don bưng mắt, tha hồ cho ngươi nài nỉ, ta chẳng yêu nữa đâu. Này đọc thử tờ thách đấu của ta này, chú ý lối văn trong đó.

GLÔ-XTƠ: Mỗi chữ có là một vừng thái dương tôi cũng không sao nhìn thấy được.

EĐ-GA (nói riêng): Giá nghe kể lại, thì chẳng đời nào mình chịu tin, vậy mà sự thể hiển nhiên kia! Khiến cho lòng ta tan vỡ!

LIA: Đọc xem!

GLÔ-XTƠ: Ủa, đọc bằng lỗ mắt sao?

LIA: Ô! Hô! Ngươi cũng đến thế rồi ư? Không có mắt trong đầu và cạn tiền trong túi? Bệnh mắt của ngươi cũng nặng như túi rỗng của ngươi nhẹ tênh? Tuy vậy người vẫn thấy được sự đời biến diễn chứ?

GLÔ-XTƠ: Thấy được bằng xúc cảm mà thôi.

LIA: Thế nào? Ngươi điên hay sao? Người ta vẫn có thể thấy được việc đời mà không cần mắt! Hãy thấy bằng tai. Nhìn cái lão quan tòa kia, hắn đang hạch tên kẻ cắp đáng thương kia kìa! Này, ghé tai cho ta bảo thầm một câu, thử đánh tráo xem, và "úm ba la!" ai quan tòa ai kẻ cắp? Ngươi đã thấy chó ấp đuổi cắn ăn mày bao giờ chưa?

GLÔ-XTƠ: Thưa đã.

LIA: Thấy chưa: thằng người chạy trốn con chó! Hình ảnh uy quyền là thế đó: thiên hạ vâng phép chó bởi vì chó được trao quyền hành, rõ chưa? [...] Thằng bịp bợm cho vay lại treo cổ đứa đi lừa! Áo rách mướp thì lộ hết từng tí xấu xa, áo mớ bảy mớ ba thì che được ráo! Có giáp vàng bao che tội lỗi thì gươm công lí đâm đến gãy, người cũng chẳng sao; chỉ có mảnh áo manh che thì một cọng tăm của giống tí hon nó đâm cũng thủng. Không có ai phạm tội hết, tha bổng hết, ta bảo thật ngươi thế đấy, vì ta đây có quyền làm câm họng kẻ buộc tội người ta. Người sắm lấy mục kỉnh mà đeo, và bắt chước một tên chính khách gian hùng, làm như nhìn thấy những điều nó không trông thấy. Bây giờ thì, giờ thì, kéo rút đôi ủng ra cho ta. Kéo mạnh lên, mạnh nữa! Thế.

EĐ-GA: Ôi! Tỉnh táo lẫn hôn mê! Khôn ngoan trong điên dại.

LIA: Nếu ngươi muốn thương cho số phận của ta thì hãy mượn lấy đôi mắt ta mà khóc. Ta quen ngươi lắm. Tên ngươi là Glô-xtơ. Hãy kiên nhẫn nghe! Bọn ta khóc lóc mà xuống thế gian này. Ngươi cũng biết đấy, mới hít hơi thở đầu tiên, ta đã oe oe lên, gào, khóc rồi! Để ta giảng giải cho ngươi bài thánh kinh. Nghe nhá!

GLÔ-XTƠ: Ôi! Ngày khốn khổ!

LIA: Khi ta sinh ra đời, ta khóc vì nỗi phải bước vào cái sân khấu mênh mông của những kẻ điên rồ! Câu mào đầu hay đấy chứ! Đóng móng cho cả đàn ngựa bằng dạ cho êm, hẳn là một mẹo khá tế nhị. Ta muốn thử cái mẹo này và khi đuổi kịp mấy đứa con rể nọ, ta hô xung phong: giết, giết, giết!

(Một gia tướng và một số gia nhân ra.)

GIA TƯỚNG: Đây rồi! Giữ chặt lấy người! Bẩm tướng công, lệnh nữ rất hiếu thảo của người...

LIA: Tả hữu đâu cả rồi? Kìa, ta thành tù binh sao? Ta chẳng qua cũng chỉ là một thằng điên và một thứ đồ chơi trong tay Vận mệnh! Hãy đối xử với ta cho tốt: ta sẽ nộp nhiều tiền chuộc mạng. Gọi cho ta một thầy thuốc giải pháp. Óc ta bị thương.

GIA TƯỚNG: Người muốn gì sẽ có nấy.

LIA: Không có ai tiếp cứu? Ta trơ một mình sao? Thế thì con người cũng dễ hóa thành "lệ nhân", để lấy đôi mắt làm thùng tưới hoa viên hay tưới đường ngày thu cho đỡ bụi. [...]

(Lia vùng chạy, bọn gia nhân đuổi theo.)

GIA TƯỚNG: Cảnh tượng này đối với kẻ khốn khổ nhất cũng đã đáng thương, huống nữa đối với một ông vua: thực não nề hết nói.

(Trích Vua Lia, William Shakespeare tuyển tập tác phẩm,
NXB Sân khấu, Hà Nội, 2006, trang 582 − 585)

Chú thích: (1) Ma-ri-doam: Thảo dược dùng để chữa các bệnh về não. Vua Lia yêu cầu Eđ-ga nói khẩu lệnh, khi chàng nói khẩu lệnh này thì vua Lia đồng ý cho qua.

Tóm tắt: Vua Lia là vở bi kịch năm hồi của Sếch-xpia. Nội dung vở kịch như sau:

     Vua Lia nước Anh đã già, có ba cô con gái là Gô-rơ-nin, Rê-gan và Cor-đê-ni-a. Nhà vua định chia vương quốc cho các con gái làm của hồi môn, rút lui khỏi công việc triều chính. Ông hỏi các con xem ai yêu mình nhất để quyết định việc phân chia. Sau khi quyết định việc phân chia xong xuôi, vua Lia lần lượt đến ở với hai công chúa. Nhưng không được bao lâu, họ trở mặt, thậm chí là can tâm đẩy ông ra khỏi nhà trong một đêm giông bão. Quá sốc trước sự bội phản của hai cô con gái, vua Lia đã hóa điên. 

     Bá tước Glô-xtơ có hai người con trai là Eđ-ga (con chính thức) và Eđ-mơn (con ngoài giá thú). Bá tước bị Eđ-mơn lừa gạt, hiểu nhầm rằng Eđ-ga phản bội để chiếm hết gia tài của mình. Ông cho người truy lùng Eđ-ga khắp nơi khiến chàng phải cải trang, chạy trốn. Trong khi đó, Eđ-mơn phản bội bá tước, khiến ông bị Cor-nê-uôn móc mắt. 

      Quân Pháp kéo đến trả thù cho vua Lia nhưng bại trận. Vua Lia và Cor-đê-li-a bị bắt. Eđ-mơn bí mật cho người đến sát hại hai cha con họ. Trong khi đó, Gô-rơ-nin, Rê-gan cùng muốn tằng tịu với Eđ-mơn. Gô-rơ-nin viết thư bày cho Eđ-mơn chồng cô là An-ba-ni để mình được tự do. Bức thư bị Eđ-ga bắt được và chuyển cho An-ba-ni. Eđ-mơn bị Eđ-ga trừng trị. Trước khi chết, Eđ-mơn kêu mọi người đi cứu vua Lia và Cor-đê-li-a, nhưng không kịp. Cor-đê-li-a bị tên lính thắt cổ chết. Nhà vua giết tên lính, ôm xác con gái, quá đau đớn, ông cũng từ giã cõi đời trong tiếng kèn lâm khốc. 

Câu 1. Chỉ ra một lời độc thoại trong văn bản. 

Câu 2. Vua Lia nhận ra bản chất của hai cô con gái và sự ảo tưởng về quyền phép vạn năng của bản thân khi nào?

Câu 3. Lời thoại sau của vua Lia: Về mặt đó thì thiên nhiên vượt trên nghệ thuật. Phí khoản đầu quân cấp cho nhà ngươi đây. Gã kia giương cung y như thằng bù nhìn dọa quạ! Bắn một phát tên xem sao. Trông kìa, kìa, con chuột! Khoan! Khoan! Mẩu bánh sữa nướng kia được việc chán. Bao tay của ta đấy, ta muốn thử sức với khổng lồ. Truyền đem hoa kích đến. A! Bay giỏi lắm, chim ơi! Bắn trúng hồng tâm, trúng hồng tâm! Hù ù ù!... có đặc điểm gì?

Câu 4. Liệt kê các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng của các chỉ dẫn này với người đọc. 

Câu 5. Phần tóm tắt vở kịch và văn bản cho thấy bức tranh hiện thực đời sống hiện ra như thế nào? 

71
13 tháng 11 2025

🟩 Câu 1. Chỉ ra một lời độc thoại trong văn bản.

Trả lời:
Lời độc thoại của vua Lia:

“Khi ta sinh ra đời, ta khóc vì nỗi phải bước vào cái sân khấu mênh mông của những kẻ điên rồ!”

🎯 Giải thích:
Đây là lời nói một mình của vua Lia, không hướng đến ai, thể hiện nỗi đau đớn, tỉnh ngộ và bi kịch sâu sắc của nhà vua trước cuộc đời và thân phận con người.


🟩 Câu 2. Vua Lia nhận ra bản chất của hai cô con gái và sự ảo tưởng về quyền phép vạn năng của bản thân khi nào?

Trả lời:
Vua Lia nhận ra bản chất giả dối, bạc bẽo của hai cô con gái Gô-nơ-rin và Rê-gan khi ông bị chúng phản bội, đuổi ra khỏi nhà giữa đêm giông bão, không còn quyền lực hay của cải trong tay.
Cũng trong cơn điên loạn ấy, ông hiểu rằng quyền lực của nhà vua chỉ là hư ảo, rằng mình “không chống được cơn sốt rét nào”, và thiên nhiên mới là sức mạnh thật sự vượt trên nghệ thuật và quyền lực con người.


🟩 Câu 3. Lời thoại sau của vua Lia có đặc điểm gì?

“Về mặt đó thì thiên nhiên vượt trên nghệ thuật. Phí khoản đầu quân cấp cho nhà ngươi đây. Gã kia giương cung y như thằng bù nhìn dọa quạ!... Hù ù ù!...”

Trả lời:
Lời thoại này có đặc điểm của ngôn ngữ người điên, thể hiện sự rối loạn trong cảm xúc và ý thức của vua Lia: lời nói đứt đoạn, rời rạc, không theo logic, chuyển ý đột ngột, pha lẫn giữa ảo tưởng, hồi tưởng và mê sảng.
🎯 Tác dụng:
Qua đó, Shakespeare khắc họa bi kịch tinh thần của vua Lia — một người từng nắm quyền sinh sát, giờ rơi vào điên loạn, mất phương hướng; đồng thời gợi lên nỗi thương cảm sâu sắc cho số phận con người khi quyền lực và danh vọng tan biến.


🟩 Câu 4. Liệt kê các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng với người đọc.

Trả lời:
Các chỉ dẫn sân khấu:

  • (Lia ra, đeo quấn rất ngộ nghĩnh những hoa đồng cỏ nội)
  • (nói riêng)
  • (một gia tướng và một số gia nhân ra)
  • (Lia vùng chạy, bọn gia nhân đuổi theo)
  • (GLÔ-XTƠ: Ta nhận được giọng nói này rồi...) — các chỉ dẫn về hành động, sắc thái, cảm xúc...

🎯 Tác dụng:

  • Giúp người đọc (và người xem) hình dung được bối cảnh, hành động, diễn biến tâm lý của nhân vật.
  • Tạo tính kịch và tính trực quan cho văn bản sân khấu.
  • Thể hiện rõ sự đối lập giữa điên – tỉnh, ảo – thực trong tâm lý vua Lia, đồng thời làm nổi bật bi kịch và tính nhân văn của vở kịch.

🟩 Câu 5. Phần tóm tắt vở kịch và văn bản cho thấy bức tranh hiện thực đời sống hiện ra như thế nào?

Trả lời:
Qua phần tóm tắt và trích đoạn, Shakespeare tái hiện một bức tranh hiện thực xã hội phong kiến mục nát, đầy mưu mô, phản trắc và tàn nhẫn.
Trong đó, tình thân bị phản bội, quyền lực bị tha hóa, người tốt như vua Lia và Bá tước Glô-xtơ đều rơi vào thảm cảnh bi thương.
Bức tranh ấy phản ánh thân phận con người nhỏ bé, cô độc và bất lực trước quyền lực, dục vọng và sự phản trắc của lòng người.
Tuy vậy, qua bi kịch, tác phẩm vẫn tỏa sáng giá trị nhân đạo sâu sắc: cảm thương cho nỗi đau của con người, khẳng định lòng nhân, sự tỉnh ngộ và khát vọng công lý, tình yêu thương trong một thế giới đen tối.


💡 Tổng kết ý chính:

Câu

Nội dung trọng tâm

1

Lời độc thoại thể hiện bi kịch và tỉnh ngộ của vua Lia

2

Nhận ra sự phản bội và giới hạn của quyền lực trong nghịch cảnh

3

Lời thoại rời rạc, phi lý thể hiện cơn điên và đau đớn của vua

4

Chỉ dẫn sân khấu giúp thể hiện hành động, tâm lý, tăng tính kịch

5

Bức tranh xã hội phong kiến thối nát, bi kịch và giá trị nhân đạo sâu sắc


13 tháng 11 2025

Câu 1. Chỉ ra một lời độc thoại trong văn bản. Một lời độc thoại (nói riêng) trong văn bản là: "EĐ-GA (nói riêng): Giá nghe kể lại, thì chẳng đời nào mình chịu tin, vậy mà sự thể hiển nhiên kia! Khiến cho lòng ta tan vỡ!"

13 tháng 11 2025

🟩 Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Cảnh tượng đau lòng”

Đoạn trích Cảnh tượng đau lòng trong bi kịch Vua Lia của William Shakespeare là một trong những cảnh cảm động và bi thương nhất, thể hiện sâu sắc bi kịch của con người khi mất đi tất cả. Về nội dung, đoạn trích khắc họa hình ảnh vua Lia — một vị quân vương từng đầy quyền uy nhưng nay hóa điên, lang thang giữa đời, chịu nỗi đau của sự phản bội và cô đơn. Qua cơn điên của vua, Shakespeare bộc lộ nỗi xót xa cho thân phận con người, đồng thời lên án sự tha hóa của quyền lực, sự giả dối và lạnh lùng của xã hội phong kiến. Về nghệ thuật, đoạn trích đặc sắc bởi ngôn ngữ kịch giàu biểu cảm, đậm tính triết lý, xen kẽ giữa tỉnh và mê, cùng chỉ dẫn sân khấu chi tiết giúp khắc họa rõ diễn biến tâm lý nhân vật. Sự kết hợp giữa hiện thực và bi kịch, giữa nghệ thuật đối thoại – độc thoại đã làm nổi bật tầm nhân đạo sâu sắc của tác phẩm: cảm thương, thức tỉnh và trân trọng con người.


🟩 Câu 2 (4,0 điểm): Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về việc sống chậm trong xã hội hiện đại

Mở bài:

Trong thời đại công nghệ và tốc độ, con người ngày càng bị cuốn vào nhịp sống gấp gáp, hối hả. Giữa dòng đời tất bật ấy, “sống chậm” trở thành một cách sống cần thiết – không phải để chậm lại so với người khác, mà để hiểu mình, hiểu người và sống có ý nghĩa hơn.


Thân bài:

1. Giải thích:

  • Sống chậm là cách sống biết tạm dừng nhịp vội vã, dành thời gian để suy ngẫm, cảm nhận và tận hưởng những giá trị giản dị của cuộc sống.
  • Đó không phải là lười biếng hay chậm tiến, mà là biết cân bằng giữa làm việc và nghỉ ngơi, giữa thành công và hạnh phúc.

2. Bàn luận:

  • Trong xã hội hiện đại, con người thường chạy đua với thời gian, bị áp lực công việc, học tập, tiền bạc, danh vọng chi phối. Nếu sống quá nhanh, ta dễ đánh mất cảm xúc, sức khỏe và các mối quan hệ.
  • Sống chậm giúp ta lắng nghe bản thân, hiểu được điều gì thực sự quan trọng, từ đó nuôi dưỡng tâm hồn và sống có chiều sâu hơn.
  • Khi sống chậm, ta mới có thể quan sát, yêu thương và sẻ chia, thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên, của con người và của cuộc sống.

3. Dẫn chứng:

  • Nhiều người trẻ ngày nay chọn “detox mạng xã hội”, dành thời gian đọc sách, đi dạo, tập thiền… để lấy lại cân bằng – đó là biểu hiện của sống chậm.
  • Triết lý “thiền” của người Nhật hay “hygge” của người Đan Mạch đều hướng con người đến sự chậm rãi, giản dị, biết tận hưởng từng khoảnh khắc.
  • Những người biết sống chậm thường có tâm thế an nhiên, ít căng thẳng, sống tích cực và bền vững hơn trong xã hội hiện đại.

4. Phản đề:
Tuy nhiên, sống chậm không đồng nghĩa với ì trệ hay thiếu nỗ lực. Nếu hiểu sai, con người sẽ trở nên thụ động, lười biếng, đánh mất cơ hội. Vì thế, cần sống chậm mà không dừng lại, chậm để hiểu sâu hơn chứ không phải để tụt lại phía sau.


Kết bài:

Giữa guồng quay hiện đại, sống chậm là cách để con người giữ gìn tâm hồn, tìm lại bình yên và sống thật với chính mình. Hãy bước chậm lại để lắng nghe tiếng nói từ trái tim, để mỗi ngày không trôi đi vô nghĩa, và để ta biết trân trọng từng hơi thở, từng phút giây của cuộc đời.

13 tháng 11 2025

Câu 1.

Đoạn trích thơ "Thạch Sanh, Lý Thông" là một ví dụ đặc sắc cho sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội dung và nghệ thuật của truyện Nôm. Về nội dung, đoạn thơ đã tái hiện thành công mâu thuẫn đỉnh điểm giữa cái thiện (Thạch Sanh) và cái ác (Lý Thông, hồn ma), đồng thời thể hiện khát vọng công lý ngàn đời của nhân dân. Cái thiện phải trải qua oan khuất tột cùng ("Giam vào trong ngục đợi ngày") nhưng cuối cùng vẫn được minh oan. Về nghệ thuật, thể thơ lục bát truyền thống được sử dụng tài tình, khiến câu chuyện dễ đi vào lòng người. Nổi bật nhất là việc sử dụng các chi tiết kỳ ảo. Tiếng đàn thần không chỉ là một vật vô tri mà đã trở thành "nhân vật", là tiếng nói của sự thật ("Ai đưa công chúa lên hang mà về?"), có khả năng chữa bệnh và lay động lòng người. Bên cạnh đó, chi tiết "sét đánh" ở cuối đoạn là sự can thiệp của công lý "Trời", thể hiện quan niệm "ác giả ác báo" một cách tuyệt đối, thỏa mãn mong mỏi của nhân dân. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu cảm xúc, đã làm nổi bật lòng nhân hậu của Thạch Sanh và sự hèn nhát của Lý Thông.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:        Chiều tàn hút gió cheo leo,Hồn oan vất vưởng núi đèo lang thang.        Chằn tinh gặp lại đại bàng,Cả hai cùng có chung mang mối thù.        Bàn nhau kiếm cách trả thù,Cốt đem tội đổ lên đầu Thạch Sanh.        Vượt qua mấy lớp quân canh,Vào cung lấy trộm gây thành án oan.        Bạc vàng châu báu đem...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

        Chiều tàn hút gió cheo leo,
Hồn oan vất vưởng núi đèo lang thang.
        Chằn tinh gặp lại đại bàng,
Cả hai cùng có chung mang mối thù.
        Bàn nhau kiếm cách trả thù,
Cốt đem tội đổ lên đầu Thạch Sanh.
        Vượt qua mấy lớp quân canh,
Vào cung lấy trộm gây thành án oan.
        Bạc vàng châu báu đem mang,
Bỏ vào lều nhỏ của chàng Thạch Sanh.
        Tội thời tang vật rành rành,
Lý Thông chủ toạ án hình chém ngay.
        Giam vào trong ngục đợi ngày,
Thạch Sanh oan uổng giãi bày không xong.

        Buồn đâu xâm chiếm cõi lòng,
Đàn buông dây có dây không khẽ khàng.
        “Đàn kêu tích tịch tình tang,
Ai đưa công chúa lên hang mà về?”
        Tiếng đàn như tỉnh như mê,
Giọng đàn ai oán não nề xót xa.
        Tiếng vang đến tận cao xa,
Đến tai công chúa cách ba quãng đường.
        Trong lòng chợt nhớ chợt thương,
Chợt đau chợt khổ vấn vương bồi hồi.
        Tự dưng lại thốt thành lời,
Xin vua cha được gặp người rung tơ.
        Nửa lòng như tỉnh như mơ,
Nửa lòng đang rối như tơ ương vò.
        Làm sao nên cảnh bất ngờ,
Anh hùng nhận án tử chờ khai đao.
        Thạch Sanh thưa chuyện trước sau,
Chằn tinh giết trước, tiếp sau đại bàng.
        Cứu nàng công chúa khỏi hang,
Hàm oan nghiệp chướng mới mang tội này.
        Nhà vua nghe hết tấu bày,
Cảm thương công chúa đêm ngày nhớ mong.
        Ban truyền phò mã sắc phong,
Ngày lành tháng tốt kết phòng se hoa.
        Lý Thông tội nặng chớ tha,
Giao cho phò mã luận ra tội thành.

        Lý Thông mặt xám mắt xanh,
Mọp ngay dưới điện cổ đành chờ đao.
        Nghênh ngang có được lúc nào,
Kề dao vô cổ khác nào bún thiu.
        Tham lam gây ác đủ nhiều,
Chờ nghe luận tội phách siêu hồn rời.
        Sanh rằng tội rõ ràng rồi,
Chiếu theo phép nước ắt thời không tha.
        Nghĩ tình còn có mẹ già,
Tha cho về lại quê nhà tu thân.
        Lý Thông chắc chết mười phần,
Được ban tha bổng thất thần tạ ơn.
        Dập đầu máu đổ trên sân,
Dắt ngay tay mẹ lên đường về quê.
        Ác nhân trời bỏ đời chê,
Giữa đường sét đánh tức thì thiệt thân.

                                           (Thạch Sanh, Lý Thông, Duong Thanh Bach)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Tóm tắt văn bản bằng những sự kiện chính và cho biết văn bản thuộc mô hình cốt truyện nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của một chi tiết kì ảo trong văn bản.

Câu 5. So sánh văn bản với truyện cổ tích Thạch Sanh, hãy chỉ ra những điểm giống và khác nhau cơ bản trong hai văn bản.

34
13 tháng 11 2025

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. Văn bản được viết bằng thể thơ lục bát (dòng trên 6 chữ, dòng dưới 8 chữ).

13 tháng 11 2025

Câu 2. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là:

- Tự sự (kể lại diễn biến câu chuyện: hồn ma trả thù, Thạch Sanh bị oan, gảy đàn, được minh oan, Lý Thông bị trừng trị) - Đây là phương thức chủ đạo.

- Miêu tả (miêu tả cảnh: "Chiều tàn hút gió cheo leo", miêu tả nhân vật: Lý Thông "mặt xám mắt xanh").

- Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc, tâm trạng: Thạch Sanh "Buồn đâu xâm chiếm cõi lòng", tiếng đàn "ai oán não nề", công chúa "vấn vương bồi hồi").

13 tháng 11 2025

Câu 1 (Khoảng 200 chữ): Phân tích đoạn trích

Đoạn trích “Chèo đi rán thứ sáu … Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!” thể hiện nỗi bi ai, cô độc và khát vọng tự do của con người trước thiên nhiên và số phận. Ngôn ngữ tác giả giàu nhịp điệu, giọng điệu bi tráng, gợi cảm giác dồn nén và bức bối. Hình ảnh “biển” vừa là biểu tượng của thiên nhiên hùng vĩ, vừa là ẩn dụ cho thử thách, bão tố cuộc đời mà con người phải đối mặt. Qua lời độc thoại, nhân vật bộc lộ tâm trạng kiên cường, quyết liệt và khát khao sống, đồng thời phản ánh sự đấu tranh nội tâm giữa ý chí sống và hoàn cảnh éo le. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ mang âm hưởng gợi hình, gợi cảm và nhịp điệu câu linh hoạt tạo ra hiệu quả biểu cảm mạnh mẽ, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc nỗi đau, khát vọng và tình yêu cuộc sống của nhân vật. Từ đó, đoạn trích không chỉ tái hiện hoàn cảnh khó khăn mà còn nhấn mạnh sức sống tiềm ẩn và lòng dũng cảm của con người trong nghịch cảnh.


Câu 2 (Khoảng 600 chữ): Giá trị của tình thân trong cuộc sống

Tình thân, bao gồm tình cảm gia đình, quan hệ ruột thịt và sự gắn bó giữa những người thân yêu, là một giá trị tinh thần vô cùng quý báu trong cuộc sống mỗi con người. Nó không chỉ là nơi ta tìm thấy sự che chở, bảo vệ và đồng cảm, mà còn là nguồn động lực tinh thần để vượt qua khó khăn, thử thách. Trong xã hội hiện đại đầy biến động, mỗi người đều phải đối mặt với áp lực học tập, công việc hay các mối quan hệ phức tạp. Trong bối cảnh ấy, tình thân trở thành bến bờ bình yên, giúp con người cảm thấy an toàn, vững vàng và được yêu thương.

Tình thân còn được thể hiện qua những hành động cụ thể: cha mẹ nhẫn nại nuôi dưỡng, dạy dỗ con; anh chị em chia sẻ, giúp đỡ nhau trong khó khăn; người thân luôn ở bên lúc hoạn nạn, đau ốm hay thất bại. Những giá trị ấy không thể đo bằng vật chất, mà được cảm nhận qua sự quan tâm, sẻ chia và tình yêu thương chân thành. Văn học, điện ảnh hay những câu chuyện đời thường đều minh chứng rằng, tình thân giúp con người giữ được nhân cách, niềm tin và lạc quan trong cuộc sống.

Ngược lại, thiếu tình thân sẽ khiến con người cô độc, mất phương hướng và dễ chán nản. Chính vì vậy, việc duy trì, nuôi dưỡng tình thân là điều cần thiết. Mỗi người cần biết trân trọng gia đình, quan tâm và sẻ chia với người thân, bởi chỉ khi có tình thân, con người mới cảm nhận trọn vẹn hạnh phúc, nghị lực và ý nghĩa cuộc sống.

Tóm lại, tình thân là nguồn sức mạnh tinh thần, chỗ dựa bền vững và ánh sáng dẫn lối cho con người trong hành trình sống. Dù cuộc sống có bộn bề, khó khăn hay thử thách, tình thân vẫn là giá trị vĩnh hằng, giúp mỗi chúng ta vượt qua nghịch cảnh và hoàn thiện nhân cách.

13 tháng 11 2025


(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Chèo đi rán(1) thứ sáuThấy nước vằn mông mốcXé nhau đục vật vờChèo đi thôi, chèo đi!Một người cầm cán dầm cho vững,Nước cuộn thác chớ loBiển nổi bão phong ba đừng run đừng rợn.Chèo đi rán thứ bảy,Nước ác kéo ầm ầm,Nơi đây có quỷ dữ chặn đường,Nơi đây có ngọ lồm(2) bủa giăngChực ăn người...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Chèo đi rán(1) thứ sáu

Thấy nước vằn mông mốc

Xé nhau đục vật vờ

Chèo đi thôi, chèo đi!

Một người cầm cán dầm cho vững,

Nước cuộn thác chớ lo

Biển nổi bão phong ba đừng run đừng rợn.

Chèo đi rán thứ bảy,

Nước ác kéo ầm ầm,

Nơi đây có quỷ dữ chặn đường,

Nơi đây có ngọ lồm(2) bủa giăng

Chực ăn người đi biển,

Chực nuốt tảng(3) nuốt thuyền

Mau mau lên lấy tiền, lấy tiền ra thế,

Đem vàng bạc ra lễ chuộc thân.

Có bạc mới được qua.

Chèo đi rán thứ tám,

Nước đổ xuống ầm ầm,

To hơn bịch đựng lúa.

Nước xoáy dữ ào ào,

Nước thét gào kéo xuống Long Vương.

Nhanh nhanh tay chèo sang qua khỏi.

Chèo đi rán thứ chín,

Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,

Khắp mặt biển nước sôi gầm réo.

Biển ơi, đừng giết tôi,

Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền,

Đừng cho thuyền lật ngang,

Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!

Chèo đi rán thứ mười,

Thuyền lướt theo nước trời băng băng,

Cánh dầm tung bốn góc

Rán lại rán bay đi…

Chèo đến rán mười một,

Sóng đuổi sóng xô đi

Nước đuổi về sau lưng.

Chèo mau lên, chèo cố

Cho thuyền đến cửa biển ta dừng,

Cho thuyền đến bãi cát vàng bình an.

Chèo đi rán mười hai,

– A! Bờ biển kia rồi,

Ta chèo mau lên thôi,

Chèo mau lên, hỡi người trai trẻ!

Trai trẻ hãy lắng tai,

Trai trẻ nghe tôi bảo,

Lại đây nghe tôi dạy:

– Mau lên ta kéo thuyền vào cạn,

Cùng lôi tảng vào bến,

Kéo thuyền vào bãi cát chói hồng,

Kéo thuyền vào bãi bướm vàng vờn bay!

– Mời nàng hương(4) hai cô

Mời em hãy ôm hoa lên bến,

Mời nàng hãy ôm hương hầu slay

Quân quan lên “bời bời”(5)

Đàn bà cầm nón ra thuyền

Đàn ông cầm ô lên bến

Tay trái xách giày hoa ra tảng,

Tay phải xách giày đẹp lên bờ,

Gánh gồng lên rầm rập theo slay(6),

Bao của quý khiêng lên đi lễ người.

Mười hai rán nước nay đã qua rồi,

Bây giờ mới biết tôi sống sót.

Binh mã(7) slay rầm rập

Kéo vào chợ Đường Chu(8)

Sau lưng trơ lại tôi

Ngồi bên bờ biển đất trời mênh mông,

Tự than thân trách phận,

Cay đắng lắm đời sa dạ sa dồng(9).

Chèo thuyền qua lò than, qua biển

Nhìn đường về, nước cuộn ầm rung…

(Trích Vượt biển, Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam − Tập IV, tr.887 889)

Chú thích: 

(1) Rán: Ghềnh nước hoặc những khúc sông, suối nước chảy xiết, vực sâu nguy hiểm đe doạ những người chèo mảng.

(2) Ngọ lồm: Quỷ vô hình.

(3) Tảng: Loại mảng rất kiên cố có thể đi biển được.

(4) Nàng hương: Nàng hầu của quan slay. Trong thực tế, đây là hai cô gái đẹp chưa chồng, đến phục dịch trà thuốc cho thầy pụt cúng. Theo quan niệm mê tín cũ, những cô gái này khi chết cũng vẫn làm nàng hầu cho quan slay ở xứ ma.

(5) Bời bời: Đông đúc.

(6) Slay: Quan cai trị ở “cõi ma” (âm phủ).

(7) Binh mã: Xe ngựa, quân lính nơi cõi âm. 

(8) Chợ Đường Chu: Chợ ở “xứ ma”.   

(9) Sa dạ sa dồng: Những người làm phu phen đầy tớ cho các quan slay ở cõi âm.

Tóm tắt: Vượt biển là truyện thơ dân gian của dân tộc Tày – Nùng, dài khoảng 1000 câu thơ. Nội dung như sau: Có hai anh em mồ côi, lúc nhỏ rất yêu thương nhau. Người anh sau này khi lấy vợ thì trở nên lạnh nhạt, bỏ mặc em sống nghèo đói. Người chị dâu thương tình, vá áo cho em chồng, chẳng may làm in những ngón tay đang nhuộm chàm lên lưng áo rách. Người anh ghen tuông khiến em bị chết oan ức. Linh hồn em không nơi nương tựa, bị các quan slay ở cõi âm bắt làm sa dạ sa dồng – phu chèo thuyền vượt biển. Mỗi lần vượt biển phải trải qua hành trình mười hai rán nước vô cùng hiểm nguy. Tác phẩm này được các thầy cúng đọc trong các lễ cầu hồn, cầu mát, được phổ biến rộng rãi ở vùng xung quanh hồ Ba Bể, Bắc Kạn.

Câu 1. Xác định người kể trong văn bản.

Câu 2. Hình ảnh “biển” hiện ra trong văn bản có đặc điểm gì?

Câu 3. Chủ đề của văn bản là gì?

Câu 4. Các rán nước trong văn bản là biểu tượng cho điều gì?

Câu 5. Những âm thanh nào được thể hiện trong đoạn thơ: Chèo đi rán thứ chín,/ Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,/ Khắp mặt biển nước sôi gầm réo./ Biển ơi, đừng giết tôi,/ Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền? Những âm thanh đó gợi cho em cảm xúc gì?

107
13 tháng 11 2025

Câu 1. Xác định người kể trong văn bản


Người kể trong văn bản là người kể thứ nhất, tức nhân vật “tôi” trong truyện. Nhân vật kể lại chính trải nghiệm của mình khi vượt biển, diễn tả trực tiếp cảm giác sợ hãi, lo lắng và cố gắng vượt qua nguy hiểm. Cách kể này giúp người đọc cảm nhận chân thực và sống động hành trình gian nan của nhân vật.


Câu 2. Hình ảnh “biển” trong văn bản có đặc điểm gì?


Hình ảnh biển trong văn bản được miêu tả hung dữ, dữ dội và nguy hiểm:


Biển “nước cuộn thác”, “nước ác kéo ầm ầm”, “nước dựng đứng chấm trời”, “nước sôi gầm réo”.


Biển vừa là thực tại hiểm nguy, vừa là biểu tượng cho thử thách, bão tố của cuộc đời mà con người phải vượt qua.


Biển cũng là đối tượng mà nhân vật phải cầu xin, thuyết phục, thể hiện mối quan hệ con người – thiên nhiên đầy căng thẳng và khát vọng sống.


Câu 3. Chủ đề của văn bản


Chủ đề của văn bản là: khát vọng sống, sức mạnh vượt qua thử thách và ý chí kiên cường của con người trước thiên nhiên và số phận. Đồng thời, truyện cũng phản ánh niềm tin vào cõi tâm linh và các nghi lễ dân gian trong đời sống tinh thần của người Tày – Nùng.


Câu 4. Các rán nước trong văn bản là biểu tượng cho điều gì?


Các rán nước (từ rán thứ sáu đến rán thứ mười hai) là biểu tượng cho những thử thách, khó khăn và hiểm nguy liên tiếp mà con người phải đối mặt trong cuộc đời. Mỗi rán nước là một chặng đường gian nan, đòi hỏi ý chí, sự kiên trì và khả năng vượt khó. Chúng tượng trưng cho sự đấu tranh không ngừng để giành lại cuộc sống và tự do, đồng thời phản ánh quan niệm nhân quả và thử thách trong tín ngưỡng dân gian.


Câu 5. Những âm thanh và cảm xúc được gợi lên trong đoạn:


“Chèo đi rán thứ chín,/ Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,/ Khắp mặt biển nước sôi gầm réo./ Biển ơi, đừng giết tôi,/ Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền?”


Âm thanh được thể hiện:


“nước sôi gầm réo” → âm thanh dữ dội, vang rền của sóng biển.


Tiếng cầu cứu của nhân vật: “Biển ơi, đừng giết tôi, Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền?” → âm thanh kêu van, lo sợ.


Cảm xúc gợi lên:


Sợ hãi, căng thẳng, lo lắng trước hiểm nguy.


Khát vọng sống mạnh mẽ, cầu mong an toàn.


Đồng thời tạo cảm giác kịch tính và hồi hộp cho người đọc, giúp nhập vai vào hành trình gian nan của nhân vật.

13 tháng 11 2025

Câu 1. Người kể trong văn bản là người xưng "tôi", xuất hiện trực tiếp qua các câu "Biển ơi, đừng giết tôi", "bây giờ mới biết tôi sống sót", "Sau lưng trơ lại tôi". Đối chiếu với phần tóm tắt, người kể chính là linh hồn của người em trai đã chết oan, bị bắt làm sa dạ sa dồng (phu chèo thuyền) ở cõi âm.

13 tháng 11 2025

Hoa mai nở vàng, hoa đào nở hồng,
Cỏ non xanh mướt, chim hót vang đồng.

13 tháng 11 2025

Đâu ai biết em ở tỉnh nào đâu em ơi @@

13 tháng 11 2025

Tỉnh tôi hôm nay

Sông xanh uốn quanh phố nhỏ,
Núi cao vươn mình giữa nắng hồng.
Người đi chợ, tiếng cười rộn rã,
Làng xóm hòa nhịp với thành phố đông.

Bao năm sáp nhập, cùng chung nhịp,
Tình đất, tình người thêm gần gũi.
Tỉnh tôi giờ rực rỡ sắc mới,
Chào ngày mai, sáng tươi hạnh phúc ngời.

các bn thấy hay thì tick cho mik nhé❗

Đọc văn bản sau:Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dông xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau:

Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dông xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về. Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà là đen" như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ lai chữ.

Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân. Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng. Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà. Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy. Tôi nhìn cái miếng sáng loé lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu". Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà. Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đầm đầm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người có nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bắn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1: Xác định đề tài của đoạn trích.

Câu 2: Chỉ ra 2 biểu hiện của cái "tôi" của tác giả trong đoạn trích.

Câu 3: Cho biết tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn: "Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng." .

Câu 4: Nêu tác dụng của yếu tố tự sự và trữ tình trong đoạn trích.

Câu 5: Thông điệp nào có ý nghĩa quan trọng nhất đối với Anh/Chị? Vì sao?

5
13 tháng 11 2025

Câu 1: Đề tài của đoạn trích là vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của con Sông Đà dưới góc nhìn say đắm, tài hoa và đầy cá tính của nhà văn Nguyễn Tuân.

13 tháng 11 2025

Câu 2: Chỉ ra 2 biểu hiện của cái "tôi" của tác giả trong đoạn trích

Cái "tôi" của Nguyễn Tuân (một cái "tôi" uyên bác, tài hoa và giàu lòng yêu nước) được thể hiện rất rõ qua:

- Cái "tôi" say đắm, trực tiếp tham gia vào quan sát: Tác giả không miêu tả Sông Đà một cách khách quan mà bộc lộ rõ sự si mê của mình. (Ví dụ: "Tôi đã nhìn say sưa làn mây...", "tôi đã xuyên qua đám mây...").

- Cái "tôi" giàu lòng tự tôn dân tộc và cá tính mạnh mẽ: Tác giả thể hiện quan điểm rõ ràng, bác bỏ cách gọi mang tính miệt thị của thực dân Pháp ("Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà là đen... gọi bằng một cái tên Tây láo lếu"). (Ngoài ra, có thể kể đến cái "tôi" lãng mạn, xem Sông Đà như một "cố nhân").

12 tháng 11 2025

Phép nhân hóa trong khổ thơ (mây “sầu”, gió “thảm”) làm cho thiên nhiên như mang tâm trạng con người, cùng chia sẻ nỗi đau và bất bình trước cảnh đất nước bị xâm lăng. Nhờ đó, nỗi uất hận và lòng yêu nước của tác giả được thể hiện sâu sắc, sinh động hơn.


tick cho mik nhé❗

13 tháng 11 2025

Trong dòng văn học yêu nước đầu thế kỷ XX, "Hai chữ nước nhà" của Trần Tuấn Khải là một tác phẩm nổi bật, lay động lòng người. Bài thơ là lời tâm huyết của một người cha (hoặc người vợ) tiễn con (chồng) ra đi làm nhiệm vụ cứu nước. Đặc biệt, trong khổ thơ đầu, bằng việc sử dụng phép tu từ nhân hóa đặc sắc qua hình ảnh "mây sầu" và "gió thảm", tác giả đã vẽ nên một bức tranh non sông đầy bi phẫn trong bối cảnh đất nước bị xâm lược.

Nếu trong văn học cổ, mây, gió thường được nhân hóa để thể hiện nỗi buồn tình riêng, thì trong khổ thơ này, chúng mang một tầm vóc và ý nghĩa lớn lao hơn nhiều. Bối cảnh của tác phẩm là khi đất nước đang chìm trong đêm đen nô lệ, "ải Bắc" và "trời Nam" không còn là không gian của sự chia ly cá nhân, mà là hình ảnh hoán dụ cho toàn bộ lãnh thổ đất nước đang bị giày xéo.

Trước hết, phép nhân hóa "mây sầu" và "gió thảm" đã biến thiên nhiên vô tri thành một thực thể có linh hồn, đang quằn quại trong nỗi đau chung của dân tộc. Đây không phải là cái buồn lãng mạn, mà là nỗi sầu của non sông, nỗi bi thảm của một quốc gia mất chủ quyền. Cả bầu trời, từ Bắc chí Nam, đều bao trùm một không khí "âm đạm", "đìu hiu" tang tóc. Thiên nhiên cũng đang đau đớn, u uất trước cảnh đất nước bị xâm lược.

Phép nhân hóa này không chỉ dừng lại ở việc diễn tả nỗi buồn, mà còn có tác dụng khơi gợi lòng căm phẫn. Nỗi "sầu", "thảm" ấy kết hợp với những âm thanh đầy hãi hùng, man rợ "Bốn bề hổ thét chim kêu" (hình ảnh ẩn dụ cho quân xâm lược tàn bạo và bè lũ tay sai) đã tạo nên một bức tranh thực tại ngột ngạt, bi phẫn.

Quan trọng nhất, tất cả cảnh vật đó khi được nhìn ngắm không phải để người ta chìm đắm trong bi lụy, mà có tác dụng "như khêu bất bình". Đây chính là điểm mấu chốt. Nỗi buồn của thiên nhiên, sự tàn bạo của kẻ thù đã trở thành chất xúc tác mạnh mẽ, khơi dậy sự phẫn uất, lòng căm thù giặc và nỗi bất bình sâu sắc trong lòng người. Nó không phải là sự than vãn, mà là một lời tố cáo đanh thép thực tại, nung nấu ý chí phải hành động

Phép nhân hóa "mây sầu" và "gió thảm" trong khổ thơ của Trần Tuấn Khải là một thủ pháp nghệ thuật vô cùng đắt giá. Nó đã thành công trong việc biến nỗi đau của thiên nhiên thành nỗi đau của đất nước, từ đó khơi gợi trực tiếp lòng yêu nước, ý thức dân tộc và sự bất bình trước cảnh nô lệ, đúng với tinh thần chủ đạo của một bài thơ yêu nước cách mạng.

12 tháng 11 2025

Đứng một mình bơ vơ

12 tháng 11 2025

Hay