K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

27 tháng 10 2025

B. Vô cùng hiền lành

27 tháng 10 2025

B

26 tháng 10 2025

BPTT so sánh: mẹ về và nắng mới

Tác dụng:

-Làm tăng sức gợi hình gợi cảm

-Khắc họa hình ảnh người mẹ mới về giống như một tia nắng mới, khiến cho căn nhà nhỏ trở nên sáng ấm hơn bao giờ.

-Qua đó, giúp ta cảm nhận được sự ấm áp, niềm vui sau khi bão giông qua đi. Khẳng định vị trí quan trọng của mẹ trong gia đình.

Xin 1 tim.

26 tháng 10 2025

Theo mình không nên làm quá cầu kì. Làm đơn giản, với vốn từ của mình thì mình chỉ có thể giúp bạn vậy thôi~

Phiếu số 11.Truyện truyền kì có cốt truyện chủ yếu mô phỏng cốt truyện dân gian hoặc dã sử; mượn từ truyện truyền kì Trung Quốc.: Đúng.2.Chuyện người con gái Nam Xương là truyện mở đầu của tập Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ).: Sai. (Chuyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16/17, không phải truyện mở đầu. Truyện mở đầu là Hàn Than phu nhân.)3.Trong thể thơ song thất lục bát,...
Đọc tiếp

Phiếu số 1

1.Truyện truyền kì có cốt truyện chủ yếu mô phỏng cốt truyện dân gian hoặc dã sử; mượn từ truyện truyền kì Trung Quốc.: Đúng.


2.Chuyện người con gái Nam Xương là truyện mở đầu của tập Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ).: Sai. (Chuyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16/17, không phải truyện mở đầu. Truyện mở đầu là Hàn Than phu nhân.)


3.Trong thể thơ song thất lục bát, vần chân được gieo ở cuối tất cả các câu thơ.: Sai. (Vần chỉ gieo ở cuối các câu 7, 7, 6, 8 theo quy luật nhất định, không phải ở cuối tất cả các câu.)


4.Điệp thanh là biện pháp tu từ lặp lại thanh điệu nhằm mục đích tạo nên nhạc tính, tăng tính tạo hình và sức biểu cảm cho văn bản.: Sai. (Điệp thanh là lặp lại âm thanh (phụ âm đầu, vần), lặp lại thanh điệu là Điệp điệu.)


5.Bài thơ Tiếng đàn mưa (Bích Khê) đã tái hiện vẻ đẹp tinh tế của bức tranh mưa mùa hạ.: Sai. (Tên bài thơ là "Tiếng đàn".)


6.Cốt truyện của truyện thơ Nôm thường xây dựng theo mô hình với ba phần cơ bản: Chia li - Gặp gỡ - Đoàn tụ.: Sai. (Mô hình đúng là: Gặp gỡ - Tai biến/Chia li - Đoàn tụ.)


7.Câu văn “Hổ mang bò lên núi.” sử dụng biện pháp tu từ chơi chữ.: Sai. (Đây là câu kể bình thường, không có dấu hiệu chơi chữ.)


8.Nghị luận về một tác phẩm thơ song thất lục bát là làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm.: Đúng.


9.Truyện Kiều (Nguyễn Du) tiếp thu nguồn cốt truyện của văn học dân gian.: Sai. (Cốt truyện Truyện Kiều dựa trên tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc.)


10.Khi trình bày bài nói, HS cần phối hợp ngôn ngữ nói với các phương tiện phi ngôn ngữ.: Đúng.

Phiếu 2

C1 (1) trung đại, (2) yếu tố kì ảo

C2: (1) cõi tiên, (2) hòa quyện

C3: (1) Nguyễn Dữ, (2) Truyền kì mạn lục

C4-: (1) lập luận, (2) giải pháp

C5: (1) ẩn tiết, (2) sự hài hòa

C6: (1) Tản Đà, (2) song thất lục bát

C7: (1) Nguyễn Du, (2) người cung nữ

C8: (1) nhiều, (2) người chinh phụ

C9: (1) tiếng Việt, (2) chữ Hán

0
1.Truyện truyền kì có cốt truyện chủ yếu mô phỏng cốt truyện dân gian hoặc dã sử; mượn từ truyện truyền kì Trung Quốc.: Đúng.2.Chuyện người con gái Nam Xương là truyện mở đầu của tập Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ).: Sai. (Chuyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16/17, không phải truyện mở đầu. Truyện mở đầu là Hàn Than phu nhân.)3.Trong thể thơ song thất lục bát, vần chân...
Đọc tiếp

1.Truyện truyền kì có cốt truyện chủ yếu mô phỏng cốt truyện dân gian hoặc dã sử; mượn từ truyện truyền kì Trung Quốc.: Đúng.


2.Chuyện người con gái Nam Xương là truyện mở đầu của tập Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ).: Sai. (Chuyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16/17, không phải truyện mở đầu. Truyện mở đầu là Hàn Than phu nhân.)


3.Trong thể thơ song thất lục bát, vần chân được gieo ở cuối tất cả các câu thơ.: Sai. (Vần chỉ gieo ở cuối các câu 7, 7, 6, 8 theo quy luật nhất định, không phải ở cuối tất cả các câu.)


4.Điệp thanh là biện pháp tu từ lặp lại thanh điệu nhằm mục đích tạo nên nhạc tính, tăng tính tạo hình và sức biểu cảm cho văn bản.: Sai. (Điệp thanh là lặp lại âm thanh (phụ âm đầu, vần), lặp lại thanh điệu là Điệp điệu.)


5.Bài thơ Tiếng đàn mưa (Bích Khê) đã tái hiện vẻ đẹp tinh tế của bức tranh mưa mùa hạ.: Sai. (Tên bài thơ là "Tiếng đàn".)


6.Cốt truyện của truyện thơ Nôm thường xây dựng theo mô hình với ba phần cơ bản: Chia li - Gặp gỡ - Đoàn tụ.: Sai. (Mô hình đúng là: Gặp gỡ - Tai biến/Chia li - Đoàn tụ.)


7.Câu văn “Hổ mang bò lên núi.” sử dụng biện pháp tu từ chơi chữ.: Sai. (Đây là câu kể bình thường, không có dấu hiệu chơi chữ.)


8.Nghị luận về một tác phẩm thơ song thất lục bát là làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm.: Đúng.


9.Truyện Kiều (Nguyễn Du) tiếp thu nguồn cốt truyện của văn học dân gian.: Sai. (Cốt truyện Truyện Kiều dựa trên tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc.)


10.Khi trình bày bài nói, HS cần phối hợp ngôn ngữ nói với các phương tiện phi ngôn ngữ.: Đúng.

Phiếu 2

C1 (1) trung đại, (2) yếu tố kì ảo

C2: (1) cõi tiên, (2) hòa quyện

C3: (1) Nguyễn Dữ, (2) Truyền kì mạn lục

C4-: (1) lập luận, (2) giải pháp

C5: (1) ẩn tiết, (2) sự hài hòa

C6: (1) Tản Đà, (2) song thất lục bát

C7: (1) Nguyễn Du, (2) người cung nữ

C8: (1) nhiều, (2) người chinh phụ

C9: (1) tiếng Việt, (2) chữ Hán

0
26 tháng 10 2025

ai trl đc thì mik tích cho nha

26 tháng 10 2025

Bài thơ "Bài hát con kiến" của Trương Hữu Lợi gửi gắm thông điệp sâu sắc về ý nghĩa của gia đình và cội nguồn đối với mỗi con người. Dù con có đi đến "phương trời xa thẳm", "mặt trời cháy đỏ", hay "ngôi sao xanh biếc" để khám phá thế giới, thì gia đình vẫn luôn là nơi để trở về. Gia đình là nơi "thung sâu khơi nguồn ngọn gió", nơi "sớm chiều vẫn nhen ngọn lửa" và nơi có "suối trong con tắm mình thuở bé", là nơi nuôi dưỡng, chở che và là điểm tựa vững chắc cho mỗi người. 

nhớ thik

26 tháng 10 2025

Chi tiết kì ảo “quả bầu đầy vàng bạc, châu báu và thức ăn ngon” thể hiện ước mơ của nhân dân về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời ca ngợi lòng nhân hậu và niềm tin công lý ở hiền gặp lành trong truyện “Quả Bầu Tiên.”

EM BÉ THÔNG MINH - NHÂN VẬT KẾT TINH TRÍ TUỆ DÂN GIANTRẦN THỊ ANKiểu truyện về người thông minh là một kiểu truyện khá phổ biến trong truyện cổ tích trên phạm vi toàn thế giới. Qua việc giải quyết những thử thách bất ngờ, những câu đố trí tuệ, nhân vật người thông minh thể hiện trí tuệ dân gian, qua đó phản ánh ước mơ của họ về một cuộc sống xứng đáng, hạnh phúc hơn. Trong...
Đọc tiếp

EM BÉ THÔNG MINH - NHÂN VẬT KẾT TINH TRÍ TUỆ DÂN GIAN

TRẦN THỊ AN

Kiểu truyện về người thông minh là một kiểu truyện khá phổ biến trong truyện cổ tích trên phạm vi toàn thế giới. Qua việc giải quyết những thử thách bất ngờ, những câu đố trí tuệ, nhân vật người thông minh thể hiện trí tuệ dân gian, qua đó phản ánh ước mơ của họ về một cuộc sống xứng đáng, hạnh phúc hơn. Trong truyện Em bé thông minh, thông qua bốn lần thử thách, tác giả dân gian đã đề cao trí tuệ của nhân dân.

Thông qua thử thách đầu tiên (gắn với câu hỏi thứ nhất), tác giả dân gian đề cao sự thông minh trong ứng xử, mà chủ yếu là một phản xạ ngôn ngữ lanh lẹ và sắc sảo. Thử thách này là một tình huống thử thách tư duy và việc sử dụng ngôn ngữ. Trước câu hỏi khó, em bé đã đáp trả lại bằng việc ra lại câu hỏi cho người đố, để chỉ ra rằng, đây là một câu hỏi không thể có câu trả lời.

Ở thử thách thứ hai và thứ ba (gắn với câu hỏi thứ hai, thứ ba), tác giả dân gian muốn khẳng định sự mẫn tiệp của trí tuệ dân gian, qua đó bày tỏ ước mơ về một xã hội mà mọi ràng buộc chặt chẽ của quan niệm phong kiến về các tầng lớp người trong xã hội đều được nới lỏng và cởi bỏ. Hai câu hỏi thử thách ở đây đều do nhà vua đưa ra, là những câu hỏi tình huống mà ở đó, người trả lời phải đưa ra những giải pháp hợp lí. Nhờ nhanh trí, em bé “đọc” ngay ra sự vô lí của câu hỏi và hiểu ngay ra cần phải ứng xử với sự vô lí ấy như thế nào. Câu trả lời của em bé ở hai tình huống này vẫn theo cách đáp trả sở trường. Đó là trong khi dân làng lo lắng, bao nhiêu lần họp bàn cố gắng đi tìm câu trả lời thì em bé hướng trí thông minh của mình vào việc vạch ra sự vô lí của câu hỏi và bắt người ra câu hỏi thừa nhận sự vô lí đó. Nhờ việc phát hiện ra sự vô lí và đoán trước tình hình, nên em bé đã bảo dân làng giết trâu cho làng ăn, khiến nhà vua phải bái phục. Sau đó, em lại tiếp tục phát hiện sự vô lí của tình huống tiếp theo nên đã nhờ sứ giả mang cây kim về tâu vua rèn dao để làm thịt chim sẻ. Sự đáp trả mang tính tình huống này của em bé đẩy nhà vua vào tình thế hoặc là công nhận sự vô lí của câu hỏi hoặc là phải thực hiện một sự vô lí còn lớn hơn.

Ở thử thách thứ tư (gắn với câu hỏi cuối cùng), người kể chuyện đã nâng nhân vật em bé lên một tầm cao mới, vượt lên cả triều đình hai nước, nhấn mạnh vị thế áp đảo của trí tuệ dân gian so với trí tuệ cung đình, đây là một cách nói phóng đại thường bắt gặp trong truyện dân gian. Để tôn vinh trí tuệ dân gian, người kể chuyện đã xếp đặt tình huống để cho người ra câu đố ở vị trí sứ giả nước ngoài, thậm chí là một nước lớn hơn đang “lăm le muốn chiếm bờ cõi nước ta”, mà nếu không trả lời được thì nước ta sẽ phải “thừa nhận sự thua kém và sự thần phục của mình đối với nước láng giềng”. Cách dẫn dắt vấn đề đã đẩy tầm quan trọng của việc trả lời câu đố lên một mức cao: đây là vấn đề danh dự và vận mệnh của quốc gia. Người kể còn nhấn mạnh thêm tính trầm trọng của tình huống bằng cách kể về những cách xử lí tình huống sai – “hút, bôi sáp vào chỉ để luồn qua bụng ốc”, về độ căng thẳng của việc tìm câu trả lời – “các nhà thông thái lắc đầu bó tay, các quan đại thần vò đầu suy nghĩ, vua tìm kế hoãn binh bằng việc mời sứ thần ra ở công quán để có thời gian suy nghĩ”. Tất cả những chi tiết đó tạo độ căng, tạo sức cuốn hút cho câu chuyện, và cũng là cách để nhấn mạnh độ xuất sắc của câu trả lời em bé đưa ra. Với câu trả lời xuất sắc của mình, em bé đã gỡ bí cho cả triều đình, “vua nghe nói như mở cờ trong bụng” và chinh phục được cả sứ thần ngoại bang – vượt qua thử thách “trước con mắt thán phục của sứ giả láng giềng”.

Như vậy, qua nhân vật em bé, truyện cổ tích Em bé thông minh đã tập trung ca ngợi trí thông minh của nhân dân. Để vượt qua những thử thách của các câu đố, người trả lời cần có sự nhanh trí, khả năng quan sát tinh tường, khả năng ứng phó nhanh nhạy, sự bình tĩnh, bản lĩnh trong ứng xử. Ca ngợi trí thông minh của người bình dân, tác giả dân gian muốn đề cao tầng lớp lao động, thể hiện sự tự hào về trí tuệ bình dân [...] Ca ngợi trí tuệ người bình dân, truyện cổ tích còn thể hiện một ước muốn có được cuộc sống xứng đáng với trí tuệ mà họ có, một ước mơ dẫu chưa thành hiện thực thì cũng là niềm an ủi và niềm hi vọng cho những bất công và cực nhọc mà người nông dân phải chịu đựng trong cuộc sống hằng ngày.

(Trích Giảng văn văn học Việt Nam Trung học cơ sở, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014)



Chọn 3 ý kiến nhỏ trong văn bản Em bé thông minh - nhân vật kết tinh trí tuệ dân gian.

a.Qua việc giải quyết những thử thách bất ngờ, những câu đố trí tuệ, nhân vật người thông minh thể hiện trí tuệ dân gian, qua đó phản ánh ước mơ của họ về một cuộc sống xứng đáng, hạnh phúc hơn. b.Ở thử thách thứ tư (gắn với câu hỏi cuối cùng), người kể chuyện đã nâng nhân vật em bé lên một tầm cao mới, vượt lên cả triều đình hai nước, nhấn mạnh vị thế áp đảo của trí tuệ dân gian so với trí tuệ cung đình, đây là một cách nói phóng đại thường bắt gặp trong truyện dân gian. c. Ở thử thách thứ hai và thứ ba (gắn với câu hỏi thứ hai, thứ ba), tác giả dân gian muốn khẳng định sự mẫn tiệp của trí tuệ dân gian, qua đó bày tỏ ước mơ về một xã hội mà mọi ràng buộc chặt chẽ của quan niệm phong kiến về các tầng lớp người trong xã hội đều được nới lỏng và cởi bỏ. d.Thông qua thử thách đầu tiên (gắn với câu hỏi thứ nhất), tác giả dân gian đề cao sự thông minh trong ứng xử, mà chủ yếu là một phản xạ ngôn ngữ lanh lẹ và sắc sảo.
2
Bài phân tích dưới đây sẽ làm rõ nội dung và nghệ thuật của bốn câu thơ, thể hiện sự đau xót và tình cảm sâu sắc của Tố Hữu trước sự ra đi của Bác. Bốn câu thơ "Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác/ Tôi lại đau trước bác mấy ngày/ Làm sao bác vội về ngay /Chợt nghe, tôi bỗng rụng rời tay chân" được trích từ bài thơ "Bác ơi!" của nhà thơ Tố Hữu, là những vần thơ đầy cảm xúc và chân thành, thể hiện nỗi đau xót tột cùng của tác giả trước tin Bác Hồ qua đời.
  • Nội dung:
    • Nội dung chính của đoạn thơ là sự bộc bạch trực tiếp nỗi đau và niềm tiếc thương vô hạn của Tố Hữu dành cho Bác.
    • Tác giả sử dụng cách xưng hô "tôi - bác" rất thân mật, gần gũi, như cuộc đối thoại giữa hai người thân trong gia đình.
    • Câu thơ "Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác/ Tôi lại đau trước bác mấy ngày" thể hiện sự ngỡ ngàng, không tin vào sự thật. Theo lẽ thường, người lớn tuổi hơn sẽ ra đi trước, nhưng ở đây lại ngược lại, Bác ra đi khi tuổi đời chưa phải là quá cao so với tác giả. Điều này làm tăng thêm sự bàng hoàng, xót xa.
    • Câu hỏi tu từ "Làm sao bác vội về ngay" chất chứa sự níu kéo, sự tiếc nuối khôn nguôi, thể hiện mong muốn Bác ở lại lâu hơn với dân tộc, với đất nước.
    • Cảm xúc đỉnh điểm được thể hiện qua câu "Chợt nghe, tôi bỗng rụng rời tay chân", miêu tả chân thực phản ứng vật lý của cơ thể trước một cú sốc tinh thần quá lớn, nỗi đau đột ngột ập đến khiến con người như mất hết sức lực, bàng hoàng đến tột độ.
  • Nghệ thuật:
    • Thể thơ lục bát biến thể, nhịp thơ chậm rãi, phù hợp với tâm trạng đau buồn, suy tư.
    • Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, dễ đi vào lòng người.
    • Cách xưng hô "tôi - bác" tạo không khí thân tình, ấm áp.
    • Sử dụng câu hỏi tu từ, phép đối lập (tuổi tác - sự ra đi) và hình ảnh ẩn dụ (rụng rời tay chân) để tăng sức biểu cảm.
Qua đoạn thơ ngắn gọn này, Tố Hữu đã thành công trong việc truyền tải nỗi đau mất mát to lớn của cá nhân mình, đồng thời cũng là nỗi đau chung của cả dân tộc khi mất đi vị lãnh tụ kính yêu. Đoạn thơ là một minh chứng cho tình cảm sâu đậm, chân thành mà Tố Hữu dành cho Bác Hồ.
26 tháng 10 2025

buồn

26 tháng 10 2025

Khi đọc bài thơ “Mẹ đừng buồn mẹ nhé”, em cảm thấy lòng mình tràn đầy xúc động. Qua từng câu chữ, em cảm nhận được tình cảm sâu sắc, sự quan tâm và niềm yêu thương của con dành cho mẹ. Bài thơ khiến em nhớ đến mẹ, nhớ những lần mẹ chăm sóc, lo lắng cho gia đình và bản thân em. Bài thơ đã khiến em nhận ra tình mẫu tử thiêng liêng và ý nghĩa của sự biết ơn trong cuộc sống.

Đề 1: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:Dạ khúc cho vầng trăngTrăng non ngoài cửa sổMảnh mai như  lúaThổi nhẹ thôi là bayCon ơi ngủ cho sayĐể trăng thành chiếc lượcChải nhẹ lên mái tócĐể trăng thành lưỡi càyRạch bầu trời khuya nayTrăng thấp thoáng cành câyTìm con ngoài cửa sổCửa nhà mình bé quáTrăng lặn trước mọi nhàVai mẹ thành võng đưaTheo con vào giấc ngủTrăng thành con...
Đọc tiếp

Đề 1: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Dạ khúc cho vầng trăng

Trăng non ngoài cửa sổ

Mảnh mai như  lúa

Thổi nhẹ thôi là bay

Con ơi ngủ cho say

Để trăng thành chiếc lược

Chải nhẹ lên mái tóc

Để trăng thành lưỡi cày

Rạch bầu trời khuya nay

Trăng thấp thoáng cành cây

Tìm con ngoài cửa sổ

Cửa nhà mình bé quá

Trăng lặn trước mọi nhà

Vai mẹ thành võng đưa

Theo con vào giấc ngủ

Trăng thành con thuyền nhỏ

Đến bến bờ tình yêu…

(Duy Thông)

Câu 2: Nêu đề tài của bài thơ?

Câu 3: Tìm chi tiết miêu tả trăng non trong bài thơ?

Câu 4: Nêu tác dụng của BPTT nhân hoá trong đoạn thơ sau:

“ Trăng thấp thoáng cành cây

Tìm còn ngoài cửa sổ

Cửa nhà mình bé quá

Trăng lặng trước mọi nhà”

Câu 5: Nêu thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến cho em.

Đề 2: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Thả điều

Cánh diều no gió
Sáo nó thổi vang
Sao trời trôi qua
Diều thành trăng vàng

Cánh diều no gió
Tiếng nó trong ngần
Diều hay chiếc thuyền
Trôi trên sông Ngân

Cánh diều no gió
Tiếng nó chơi vơi
Diều là hạt cau
Phơi trên nong trời

 

Trời như cánh đồng
Xong mùa gặt hái
Diều em - lưỡi liềm
Ai quên bỏ lại […]

Tiếng diều vàng nắng
Trời xanh cao hơn
Dây diều em cắm
Bên bờ hố bom...

 

(Trần Đăng Khoa)

Câu 2: Trong ba khổ thơ đầu, tác giả đã miêu tả bức tranh thiên nhiên nông thôn bằng cách nào?

Câu 3: Hai khổ thơ cuối tác giả muốn khẳng định điều gì?

Câu 4: Nêu tác dụng của BPTT so sánh có trong khổ thơ thứ 2

Câu 5: Em thấy bức tranh thiên nhiên nông thôn trong bài thơ hiện như thế nào? Qua đó tác giả muốn nhắn nhủ tới chúng em điều gì?

2

ĐỀ 1: DẠ KHÚC CHO VẦNG TRĂNG – Duy Thông

Câu 2: Nêu đề tài của bài thơ

Bài thơ viết về tình mẹ hiền dịu dàng, ấm áp trong đêm trăng, qua đó thể hiện tình yêu thương, sự chở che và những ước mơ bình yên của người mẹ dành cho con.


Câu 3: Tìm chi tiết miêu tả trăng non trong bài thơ

Chi tiết miêu tả trăng non là:

Trăng non ngoài cửa sổ / Mảnh mai như lúa / Thổi nhẹ thôi là bay

→ Trăng được miêu tả bằng hình ảnh so sánh và nhân hóa, gợi cảm giác mảnh mai, tinh khôi, dịu nhẹ và mong manh.


Câu 4: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá trong đoạn thơ:

“Trăng thấp thoáng cành cây
Tìm con ngoài cửa sổ
Cửa nhà mình bé quá
Trăng lặn trước mọi nhà”

→ Biện pháp nhân hoá đã làm vầng trăng trở nên gần gũi, có tâm hồn như con người, biết “tìm con”, biết “lặn” vì cửa nhà nhỏ quá.
→ Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu thương của mẹ dành cho con, đồng thời gợi không khí ấm áp, yên bình trong đêm quê hương.


Câu 5: Nêu thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến cho em

Tác giả muốn gửi gắm rằng:
👉 Tình mẹ là ánh trăng dịu dàng, luôn chở che, vỗ về con trong giấc ngủ bình yên.
Bài thơ khuyên chúng ta hãy biết yêu thương, trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là tình mẹ thiêng liêng.


🟣 ĐỀ 2: THẢ DIỀU – Trần Đăng Khoa

Câu 2: Trong ba khổ thơ đầu, tác giả đã miêu tả bức tranh thiên nhiên nông thôn bằng cách nào?

Trong ba khổ thơ đầu, tác giả miêu tả bức tranh thiên nhiên nông thôn qua hình ảnh cánh diều no gió và tiếng sáo vi vu.
→ Cách miêu tả kết hợp so sánh, nhân hóa và liên tưởng độc đáo (diều thành trăng vàng, thuyền trôi trên sông Ngân, hạt cau phơi trên nong trời), gợi ra một không gian trong trẻo, yên bình và đầy tưởng tượng của tuổi thơ.


Câu 3: Hai khổ thơ cuối tác giả muốn khẳng định điều gì?

Hai khổ thơ cuối thể hiện rằng:
👉 Dù đất nước từng trải qua chiến tranh (“bên bờ hố bom”), nhưng cuộc sống đã hồi sinh, bầu trời quê hương vẫn xanh, tiếng diều vẫn vang vọng.
→ Tác giả khẳng định sức sống mạnh mẽ, tinh thần lạc quan và niềm tin vào tương lai tươi đẹp của con người Việt Nam.


Câu 4: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong khổ thơ thứ hai

“Cánh diều no gió
Tiếng nó trong ngần
Diều hay chiếc thuyền
Trôi trên sông Ngân”

→ Biện pháp so sánh “diều hay chiếc thuyền trôi trên sông Ngân” khiến hình ảnh cánh diều trở nên lung linh, huyền ảo, bay bổng như trong mơ.
→ Qua đó, thể hiện tâm hồn hồn nhiên, giàu trí tưởng tượng của trẻ thơ và vẻ đẹp thanh bình của quê hương.


Câu 5: Em thấy bức tranh thiên nhiên nông thôn trong bài thơ hiện như thế nào? Qua đó tác giả muốn nhắn nhủ tới chúng em điều gì?

Bức tranh thiên nhiên nông thôn hiện lên trong sáng, yên bình, đầy âm thanh và sắc màu tươi đẹp.
Qua đó, tác giả muốn nhắn nhủ rằng:
👉 Hãy yêu quý quê hương, trân trọng cuộc sống hòa bình hôm naygiữ gìn những giá trị bình dị, trong trẻo của làng quê Việt Nam.

ĐỀ 1: DẠ KHÚC CHO VẦNG TRĂNG – Duy Thông

Câu 2: Nêu đề tài của bài thơ

Bài thơ viết về tình mẹ hiền dịu dàng, ấm áp trong đêm trăng, qua đó thể hiện tình yêu thương, sự chở che và những ước mơ bình yên của người mẹ dành cho con.


Câu 3: Tìm chi tiết miêu tả trăng non trong bài thơ

Chi tiết miêu tả trăng non là:

Trăng non ngoài cửa sổ / Mảnh mai như lúa / Thổi nhẹ thôi là bay

→ Trăng được miêu tả bằng hình ảnh so sánh và nhân hóa, gợi cảm giác mảnh mai, tinh khôi, dịu nhẹ và mong manh.


Câu 4: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá trong đoạn thơ:

“Trăng thấp thoáng cành cây
Tìm con ngoài cửa sổ
Cửa nhà mình bé quá
Trăng lặn trước mọi nhà”

→ Biện pháp nhân hoá đã làm vầng trăng trở nên gần gũi, có tâm hồn như con người, biết “tìm con”, biết “lặn” vì cửa nhà nhỏ quá.
→ Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu thương của mẹ dành cho con, đồng thời gợi không khí ấm áp, yên bình trong đêm quê hương.


Câu 5: Nêu thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến cho em

Tác giả muốn gửi gắm rằng:
👉 Tình mẹ là ánh trăng dịu dàng, luôn chở che, vỗ về con trong giấc ngủ bình yên.
Bài thơ khuyên chúng ta hãy biết yêu thương, trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là tình mẹ thiêng liêng.


🟣 ĐỀ 2: THẢ DIỀU – Trần Đăng Khoa

Câu 2: Trong ba khổ thơ đầu, tác giả đã miêu tả bức tranh thiên nhiên nông thôn bằng cách nào?

Trong ba khổ thơ đầu, tác giả miêu tả bức tranh thiên nhiên nông thôn qua hình ảnh cánh diều no gió và tiếng sáo vi vu.
→ Cách miêu tả kết hợp so sánh, nhân hóa và liên tưởng độc đáo (diều thành trăng vàng, thuyền trôi trên sông Ngân, hạt cau phơi trên nong trời), gợi ra một không gian trong trẻo, yên bình và đầy tưởng tượng của tuổi thơ.


Câu 3: Hai khổ thơ cuối tác giả muốn khẳng định điều gì?

Hai khổ thơ cuối thể hiện rằng:
👉 Dù đất nước từng trải qua chiến tranh (“bên bờ hố bom”), nhưng cuộc sống đã hồi sinh, bầu trời quê hương vẫn xanh, tiếng diều vẫn vang vọng.
→ Tác giả khẳng định sức sống mạnh mẽ, tinh thần lạc quan và niềm tin vào tương lai tươi đẹp của con người Việt Nam.


Câu 4: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong khổ thơ thứ hai

“Cánh diều no gió
Tiếng nó trong ngần
Diều hay chiếc thuyền
Trôi trên sông Ngân”

→ Biện pháp so sánh “diều hay chiếc thuyền trôi trên sông Ngân” khiến hình ảnh cánh diều trở nên lung linh, huyền ảo, bay bổng như trong mơ.
→ Qua đó, thể hiện tâm hồn hồn nhiên, giàu trí tưởng tượng của trẻ thơ và vẻ đẹp thanh bình của quê hương.


Câu 5: Em thấy bức tranh thiên nhiên nông thôn trong bài thơ hiện như thế nào? Qua đó tác giả muốn nhắn nhủ tới chúng em điều gì?

Bức tranh thiên nhiên nông thôn hiện lên trong sáng, yên bình, đầy âm thanh và sắc màu tươi đẹp.
Qua đó, tác giả muốn nhắn nhủ rằng:
👉 Hãy yêu quý quê hương, trân trọng cuộc sống hòa bình hôm naygiữ gìn những giá trị bình dị, trong trẻo của làng quê Việt Nam.